Showing posts with label Đạo & Đời. Show all posts
Showing posts with label Đạo & Đời. Show all posts

Saturday, November 12, 2022

Phiếm: Trước sau như một !



Vậy là lần bầu cử giữa kỳ (midterm elections) của nước Mỹ năm nay đã bắt đầu hạ nhiệt, mặc dù kết quả cuối cùng vẫn chưa chính thức. Những dự đoán kết quả về "làn sóng đỏ" của cựu t/t Trump và nhiều vị cảm tình viên đảng Cọng hoà đã không xảy ra như ý. Nhưng nhìn chung thì kỳ bầu cử vừa qua không những nắm giữ một vai trò rất quan trọng, mà diễn biến cũng không kém phần hấp dẫn & kịch tính. Hôm qua nói chuyện với ông anh đồng hương ở D.C, mình nói phải chi mấy vụ này xảy ra ở VN, cá độ bắt kèo dưới là ngon cơm :-).

Thực ra, bấy lâu nay bầu cử giữa kỳ của Mỹ, đảng đối lập thường chiếm ưu thế, nhưng lần này thì không như vậy. Khả năng rất cao là bên xanh nắm thượng viện, bên đỏ nắm hạ viện. Tuần rồi, trước ngày bầu cử, đi chợ Á đông, vô tình gặp ông VK kia quen hỏi thăm về chuyện bầu bán. Mình cười nói cũng chưa biết bầu cho ai. Còn ông ta thì rất tự hào - "Tôi xưa nay trước sau như một, luôn luôn tin theo ông ...., luôn luôn bầu cho ....v.v..". Gấp quá, mình cũng chào ông ấy rồi đi, hôm nay cuối tuần rãnh rang muốn phiếm chút về đề tài "trước sau như một" này. 

Trước hết nói về chuyện chính trị chính em chút. Có một số người lầm tưởng là ở Mỹ ai theo đảng nào thì gắn bó với đảng đó suốt đời, trước sau như một. Không hẳn là vậy, như ông Trump cũng từng nhảy qua nhảy lại mấy đảng, từ đảng Cọng hoà nhảy qua đảng Cải cách (Reform Party), rồi nhảy sang đảng Dân chủ, mãi đến năm 2009 ông mới nhảy lại đảng Cọng hoà. Còn chuyện bầu bán, nếu cả nước ai cũng nhất nhất trước sau như một, thì thực ra không cần đi bầu nữa, vì kết quả lần nào cũng sẽ giống nhau. Có vẻ vô lý và hài hước, nhưng thực sự là vậy. Ở Mỹ, có nhiều tiểu bang và địa hạt, kết quả bầu cử thường chỉ gắn liền với một bên, bên xanh (dân chủ), hoặc bên đỏ (cọng hoà). Tất nhiên nước Mỹ là nước tự do, ai cũng có quyền lựa chọn lá phiếu cho mình, nên cũng có những người theo phe đối lập, nhưng chỉ là thiểu số. Bao nhiêu năm qua, có nhiều người vẫn không hề thay đổi quan niệm, đa số vẫn “trước sau như một”, bầu cho đảng chứ không phải bầu cho người, chỉ thích lắng nghe từ một phía, và bầu cho một bên. Cho nên chưa đi bỏ phiếu thì thiên hạ đã biết trước kết quả rồi. Bởi vậy trên thực tế, kết quả cuối cùng của những cuộc bầu cử ở Mỹ lại thường lệ thuộc vào những tiểu bang "ba phải" (swing states), tức là lệ thuộc vào các cử tri độc lập, hoặc những người cử tri mới đi bầu, hoặc giới trẻ mới lớn lên. Cũng như ở các nước độc tài, mang tiếng bầu cử cho xôm tụ, chứ ông nào cũng đậu gần 100% vì "trước sau như một". May mắn là ở nước Mỹ điều đó vẫn chưa từng xảy ra :-).

Giờ nói đến cuộc sống đời thường, quả nhiên cũng không hiếm những người ngộ nhận về câu "trước sau như một". Cụm chữ này đại ý muốn thể hiện sự chung thuỷ, cam kết hứa hẹn (commitment), nhưng nhiều người lại dùng nó để gán ép cho nhiều vấn đề khác nhau. Tất nhiên là từ ngữ VN, bao giờ cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng của nó, nên cần phải phân biệt rõ ràng. Ngay cả vợ chồng, mặc dù nhiều người vẫn chung sống với nhau cho đến răng long tóc bạc, nhưng chắc gì tình cảm ngày xưa lại giống tình cảm ngày nay, nghĩa tình có khác, mỗi người mỗi cảnh, đâu ai giống ai. Trong ngôn ngữ dân gian VN, cũng thường gặp những cách nói tương tự. Ví dụ mới khen "sóng sau dồn sóng trước", rồi lại nói "áo mặc sao qua khỏi đầu. Mới khuyên người ta "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau", rồi lại nói "miếng ăn là miếng tồi tàn". Mới dạy nhau "lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau", rồi lại phán "đầu môi chót lưỡi"..v.v... Rất nhiều câu ca dao thành ngữ trong dân gian, nói cho có vần có điệu, nhưng lại không được lý giải đầy đủ nên dễ gây ra nhiều sự hiểu lầm.

Trở lại khái niệm "trước sau như một" trong cuộc sống hàng ngày, mà ngay cả nhiều vị chữ nghĩa một bụng, tri thức tu sĩ, cũng thỉnh thoảng lý giải lệch lạc ý nghĩa của cụm chữ này. Nếu tuyệt đối tôn vinh nghĩa đen của "trước sau như một", thì chắc cũng không cần tu học nữa làm gì. Khoa học ngày nay và PG đều tin vào quy luật vô thường trong tự nhiên. Mỗi phần trăm, phần ngàn của một giây (s), một sát na trôi qua, vạn vật đều thay đổi vô thường. Từ những phần tử tạm cho là nhỏ nhất như quarks,  protons, neutrons ... cho đến các cấu trúc vũ trụ, thiên thể, hành tinh to lớn nhất, cũng đều vận động liên tục. Rồi những tế bào, mạch máu, trạng thái, ý nghĩ, tư tưởng ... trong mỗi con người, động vật, thực vật cũng đều thay đổi từng phút từng giây. Quy luật "thành, trụ, hoại, diệt", "sinh, lão, bệnh, tử" .... liên tục vận hành, thì lấy gì để duy trì và bảo đảm chuyện "trước sau như một" ?

Mở ngoặc nói thêm chút, mục đích tối thượng của PG là giúp cho con người tự học hỏi, tự thực hành, tự thực chứng, tự chuyển biến để có trí tuệ tinh tấn hơn, hiểu biết giác ngộ. Còn nếu năm ngoái cũng giống năm nay, ngày trước cũng giống bây giờ, cũng hiểu bấy nhiêu chuyện, cũng làm bấy nhiêu việc, thì quả nhiên là cái ghe vẫn cột một chỗ, vẫn chưa nhúc nhích được phân nào, huống hồ chi mong mỏi chèo được qua sông. Thế nhưng trong thực tế cuộc sống thì không hiếm những hiện tượng lý giải đạo pháp lệch lạc, trở thành những câu chuyện vật chất phù phiếm, hù ma nhát quỷ, oan gia trái chủ, mê tín hủ tục..v.v..Không tự thực hành để thay đổi, mà trái lại đợi chờ ở một phép lạ nào đó. Tất nhiên là bất kỳ hiện tượng xã hội nào cũng ít nhiều bị ảnh hưởng trực tiếp từ những thay đổi trong đời sống. Có thể đó là những thay đổi từ nếp sống vật chất, từ thể chế chính trị, từ hệ thống giáo dục, từ dân trí, từ văn hóa, từ đạo đức xã hội, hoặc xa hơn nữa là từ kiếp nạn, nhân duyên, cọng nghiệp gì đó ..v.v...Nhưng chắc chắc là không khó khăn lắm để nhiều người nhận ra sự khác biệt to lớn giữa các sinh hoạt tâm linh xưa và nay, đặc biệt là ở quê nhà VN. Dĩ nhiên sự thay đổi đó sẽ còn tiếp tục biến tướng đa dạng hơn trong những ngày tháng tới. Âu đó cũng là quy luật thay đổi tất nhiên. Mọi chuyện cũng sẽ không bao giờ "trước sau như một", mà chỉ là thay đổi xấu hơn hoặc tốt hơn thôi !

Nói đến đây mình nhớ đến một vài câu chuyện vui ở quê nhà. Lúc trước mình có quen một ông chú là một giáo sư trung học trước 75, kiến thức rất uyên bác, nhất là khi nói về văn hoá quê hương, đất nước và con người. Chú cháu thường xuyên nói chuyện, ông thường kể cho mình nghe những mẫu chuyện ở quê nhà, có nhiều chuyện xảy ra từ trước khi mình ra đời. Đặc biệt chú rất rành rẽ nhiều nhân vật nổi tiếng ở địa phương, hỏi ra mới biết là họ từng học chung với chú từ thời tiểu học trường làng, hoặc lớp 5 lớp 6 gì đó vào thời kháng chiến. Học với nhau vài tháng hoặc một năm rồi đường ai nấy đi, vậy mà gần 6,7 chục năm sau, vẫn còn "biết" nhau nhiều đến thế. Lúc đầu, mình thấy rất lạ, có chút ngạc nhiên, nhưng riết rồi cũng quen dần. Mình vốn cho rằng đó chỉ là những ý kiến chủ quan của chú, nhưng rất tôn trọng, vì nghĩ rằng những người lớn tuổi thường thích sống với hoài niệm, chắc mai mốt lớn tuổi rồi mình cũng sẽ như vậy. Thế nhưng khi trở lại quê hương làm việc, mình mới hiểu ra đó không phải chỉ là câu chuyện của người cao tuổi. Mỗi lúc họp trường, họp lớp, ăn giỗ, ăn cưới, họp mặt đồng hương, cafe, nhậu nhẹt ....vẫn thường nghe những câu nói quen thuộc :

- Lạ gì ổng, tui biết rõ quá mà, hồi xưa học tiểu học chung với tui ...

- Biết rõ quá mà, hồi xưa thường ở truồng tắm mưa chung...

- Quen quá mà, thằng Xoài con ông Mít...chứ gì !

- v.v....và v.v..

Quả vậy, dường như ở một số nơi, khái niệm thời gian như dừng lại. Người ta dễ dàng chấp nhận một người đầu bếp trở thành lãnh tụ, một nông dân trở thành chính khách, một tiều phu trở thành lãnh đạo. Nhưng họ lại khó chấp nhận những người quen biết cũ đã thay đổi khác xưa. Nhiều người trong tâm tưởng vẫn cứ nghĩ như thưở xa xưa nào đó, vẫn những con người ấy "trước sau như một" :-). Có người lại rất rành rẽ hiểu biết, hồn nhiên phán về người khác, mặc dù mấy chục năm chưa hề gặp mặt, hoặc thậm chí ngày xưa chưa từng tiếp xúc với nhau. Trong khi đó con cái sống chung nhà mỗi ngày, thì đôi khi lại than thở là không hiểu nhau. Nhớ có một người bạn của mình than vãn: "Nhiều ông đi tập kết mới có 21 năm, về lại không nhận ra người thân, ngay cả vợ con của họ, thì lại không sao. Còn mình đi xa quê gần gấp đôi thời gian ấy, 40 năm không hề gặp gỡ chuyện trò, mà về quê không nhận ra bạn bè cũ, bị trách móc quá". Mình đùa an ủi - "Chuyện trách móc là bình thường thôi, người kia cũng đâu nhận ra bạn, nhưng họ thích trách móc cho có chuyện nói vậy thôi. Lần tới về, bạn thử đeo thêm cái ba lô, mang đôi dép râu, đội cái nón cối, coi thử có bị trách không ?". Cũng may là bạn ấy biết mình nói đùa không làm theo, nếu không khi quay về Mỹ, có khi lại bị các anh khác chụp mũ rồi. Biết rồi, khổ lắm, nói mãi :-) ! (VTP)

Thực ra, cuối tuần phiếm chút cho vui, chứ nói đến những đề tài này, không đủ thời gian lý giải đầy đủ chi tiết sẽ dễ gây ra sự hiểu lầm. Như "vô thường" là khái niệm căn bản nhất, khoa học nhất, cũng là khái niệm sâu sắc nhất trong giáo lý nhà Phật, nhưng mình lan man một chút đi từ bầu cử Mỹ qua đến chuyện tôn giáo rồi. Thôi xin tạm dừng tại đây, để kể cho các bạn nghe một câu chuyện vui trong thiền. Có một anh chàng bán đậu hủ, một hôm đi ngang qua thiền viện của một vị cao tăng, thắc mắc tại sao các Thầy lại ngồi im nhắm mắt vậy. Sau khi biết được là các vị Tăng đang ngồi thiền, anh cũng thích và muốn được ngồi giống như vậy. Sáng hôm sau, anh đến ngồi thiền cùng các vị Tăng, ngồi một lúc, bỗng anh la lên mừng rỡ: Thấy rồi, thấy rồi ! Mọi người nghe ngạc nhiên, tưởng anh ngộ đạo hỏi anh thấy cái gì. Anh trả lời: Pháp thiền này hay quá, nhờ ngồi thiền con nhớ được có người thiếu con mấy chục ngàn tiền đậu hủ mà từ trước tới giờ con quên. Cho nên cũng là thiền, nhưng chắc gì cái "thiền" của các vị tăng kia lại giống cái "thiền" của anh bán đậu hủ. Biết đâu câu chuyện "trước sau như một" trong đời sống của mỗi chúng ta cũng khác nhau như vậy :-) ?

Thân chúc tất cả cuối tuần an vui !

PN

“No man ever steps in the same river twice, for it's not the same river and he's not the same man.” (Heraclitus)



Friday, July 22, 2022

Phiếm: Bò có ngu không ?


Mấy hôm nay mạng xã hội VN rần rần vụ án xét xử mấy ông cư sĩ tại gia ở một thiền am nào đó tại Long An. Dường như có những diễn biến khó hiểu ở phiên tòa, làm cho dư luận xôn xao. Xưa nay ai cũng biết toà án là nơi thực thi công lý, duy trì nền tảng luật pháp căn bản nhất của một đất nước. Thông qua những phiên toà, người ta có thể hiểu được và tin tưởng vào tính pháp trị của một thể chế. Còn việc chính quyền có thực thi được chức năng đó hay không, và toà án có lấy được lòng tin của người dân hay không, thì chính người dân sẽ nhận ra và tự trả lời cho chính họ. Cho nên mình cũng không muốn nói thêm về chuyện toà tiếc ở đây, mà chỉ muốn bàn loạn chút về việc bò có ngu hay không :-)

Trước hết, mình nghĩ câu nói "Ngu như bò" là hoàn toàn sai. Tư duy ứng xử giữa con người và con vật là ở 2 hệ quy chiếu khác nhau. So sánh khập khểnh, rồi phán như vậy e rằng chỉ là nghe theo nói theo, dựa vào thói quen, "chụp mũ" cho bò, không công bằng, mà cũng chẳng có một phân tích nào hợp lý. Nếu chúng ta hiểu được tiếng nói của loài bò, biết đâu nó cũng đang phán là "ngu như người ", bởi chắc hẳn những ứng xử của loài người quá vô lý và quá tàn bạo so với cách hiểu của con bò. Xưa nay trong quan hệ giữa người với người, thì người này "hiểu" về người kia cũng chỉ dựa vào mớ kiến thức chủ quan của mỗi cá nhân, nhiều trường hợp có thể chỉ là những quy chụp hoặc gán ép cho nhau, huống hồ chi là giữa người và vật. Thử làm một cuộc trắc nghiệm nho nhỏ, phỏng vấn riêng biệt 10 người khác nhau cho nhận xét về một nhân vật nào đó, một sự việc nào đó, hoặc một món ăn nào đó... thì sẽ nghe được 10 cách "hiểu" khác nhau :-). Đó là còn chưa nói đến những ảnh hưởng từ thông tin lệch lạc của một số người thích cập nhật, nghe ngóng các loại tin vịt, tin gà, hoặc những mẩu tin “câu chuyện làm quà". Ngoài ra cũng có nhiều trường hợp cực đoan quá mức, hoặc bị chi phối bởi những hận thù thương ghét chồng chất, mà nhiều người vô tình dẫn dắt câu chuyện ngày càng xa rời sự thật. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, vẫn nhan nhản những vấn đề như thế, từ ở quê nhà cho đến hải ngoại, từ ông nông dân chất phác cho đến những người học giả thông thái, từ ông dân chủ cho đến bà cọng hoà, từ ông quan cho đến ông dân…. Biết đâu mà lần ?

Mở ngoặc chút, ở VN mỗi khi chọn biểu tượng cho trường học, cho đội banh, hoặc cho đơn vị nào đó, thì người ta ráng lấy những hình ảnh oai hùng như Quyết chiến, Quyết thắng, Lam Sơn, Đống Đa, Lê Lợi, Quang Trung ..v.v. Còn ở bên Mỹ thì ngược lại, thường lấy biểu tượng của các con vật, và họ rất tự hào về những Mascots đó. Từ những đội banh nổi tiếng cho đến những trường đại học uy tín, đều rất hãnh diện với những biểu tượng “súc sanh” của họ. Hồi còn đi học, mình cũng được vinh dự là dê, là chó, đôi lần :-). Nôm na mình nghĩ loài vật có cách ứng xử và thế giới riêng của nó. Con vật chỉ làm theo những gì nó hiểu, và con người cũng vậy, sống theo mức hiểu biết của họ. Thực tế, loài vật có những khả năng hơn hẳn con người nhiều mặt, nhưng vẫn bị loài người chê ngu, chỉ vì ứng xử không giống họ. Ví dụ con người không thể mạnh mẽ bằng con bò con ngựa, không nhìn giỏi bằng con quạ con diều hâu, không nghe giỏi bằng con dơi con cú, không ngửi giỏi bằng con chó con mèo, không chạy nhanh bằng con hươu con báo...v.v..Nhưng loài người thì xưa nay vẫn vậy, vẫn thường phê phán và kết tội những dị biệt hoặc những ứng xử khác thường đối với họ. Cho nên mới sinh ra nạn kỳ thị, mâu thuẫn, chiến tranh, và muôn vàn câu chuyện phiền phức khác. Ông da trắng chê ông da đen, ông lên tỉnh vài hôm chê ông dưới quê dính phèn, ông VK qua Mỹ vài năm chê ông VN lạc hậu, ông coi đài Fox chê ông coi đài CNN, ông bán ao cá tra trở thành đại gia chê ông còn giữ ao chăn vịt là "hai lúa", ông tu theo Phật chê ông tu theo Chúa, ông theo Trump chửi ông ủng hộ Biden ...v.v...Cứ thế mà cãi nhau hết ngày hết tháng !

Trở lại chuyện tin gà tin vịt. Sáng nay mình cũng mới coi cái FB của ông anh quen gởi. Thiết nghĩ ở toà án VN, ngay cả ông Thăng từng là uỷ viên BCT mà còn phải đề nghị "đối xử với bị cáo như số phận một con người”; ông Chung tướng CA, từng là bí thư thủ đô HN, còn phải kêu gọi được pháp luật "đối xử bình đẳng", thì chắc ông cư sĩ áo nâu đó cũng tự hiểu ra thân phận của mình. Còn việc ông cư sĩ áo nâu có râu kia có chửi ông sư quốc doanh nọ là "ngu như bò" không, hay là do mấy cậu thanh niên hay hát kia chửi, chắc cũng không khó lắm để tìm hiểu. Tất nhiên mấy ông "Bao Công mặt sắt đen sì” cũng không phải chỉ đơn giản là ngồi đó để xử án lệ "ngu như bò, ngu như heo", mà còn nhiều tích tuồng Liêu trai chí dị khác nữa. Tuy nhiên, trên mạng thì thôi rồi Lượm ơi, mù mịt sương khói, ai tin được thì tin :-).

Nhưng mà đọc tin cũng thấy lạ, có vẻ như diễu hài nhiều hơn. Ví dụ như ông cư sĩ áo nâu kia, từ lúc chưa kịp ra toà thì nhiều người, báo chí, mạng xã hội đã chụp hình đưa tin đủ chuyện giựt gân, buộc tội loạn luân ngay chấm phạt đền. Không cần phép tắc, chứng từ, lôi cả hình ảnh, gia thế của những đứa nhỏ vô tội vào cuộc. Chẳng có pháp luật lý lẽ nào bào vệ, cũng chẳng cần tôn trọng quyền riêng tư, quyền tự do cá nhân gì cả. Thế nhưng khi ra toà thì chính ông lại bị xử tội lợi dụng xâm phạm đến quyền tự do dân chủ của người khác :-). Rồi cũng chẳng nghe ai nhắc đến các tội danh từng gán buộc cho ông ta ban đầu. Bởi vậy nhiều người thắc mắc về mục đích thực sự của phiên tòa. Còn kịch bản phụ của vụ án như ông sư quốc doanh kia vác đơn đi kiện vì bị nói “ngu như bò", thì lại càng hài hước hơn. Cũng nhân tiện nói đến đề tài "ngu như bò", mình muốn phiếm thêm một tí. Vả lại còn chút thời gian, ly cafe buổi sáng uống chưa xong :-)

Tất nhiên lâu nay không phải là ai cũng hiểu đúng quyền tự do ngôn luận, và cũng không phải đất nước nào cũng tôn trọng cái quyền tối thiểu đó của con người. Như ở Mỹ nghe người ta chửi ông Bảy Đần hoài có sao đâu (!). Nhiều người ngôn ngữ còn hạn chế, nhưng cứ nghe đầu này thì nói lại đầu kia, chửi hết ông tổng thống này đến bà bộ trưởng nọ, toàn là những ông to bà lớn. Tội nghiệp những ông tổng thống, thủ tướng, nguyên thủ quốc gia, của nhiều quốc gia hùng mạnh nhất nhì thế giới cũng bị chửi là đần độn suốt ngày. Lúc trước ông Trump còn tại chức cũng vậy, nhiều người tạc cái tượng ông đứng trần truồng có con chim nhỏ nhắn xinh xắn như trái ớt hiểm, để giữa đường cho thiên hạ chụp hình, sờ tí ....Cũng có sao đâu ? Nhắc đến mới nhớ, mấy tuần nay “Uỷ ban điều tra vụ bạo loạn ngày 6/1 ở quốc hội Mỹ" công bố những dữ liệu minh bạch cho bá tánh thiên hạ coi trên TV. Nhiều người đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, nhưng cũng đâu dễ dàng gì mà thay đổi được quan niệm của một số người. Ai cũng có một bộ lọc để chỉ nghe những điều mà họ muốn nghe, và để "justify" (điều chỉnh) hoặc bỏ qua những thứ mà họ không thích nghe. Còn tin tức nào bất lợi quá thì cứ chụp mũ là “fake news". Còn khó nghe hơn nữa thì nếu ở bên ni tặng cho cái nón cối, ở bên nớ tặng cho cái huy hiệu thế lực thù địch. Thế là xong, vừa rẻ tiền lại vừa hiệu quả :-). Nhớ có lần mình đi siêu thị Á châu dưới Cali, gặp ông kia chửi trời chửi đất, chửi Mỹ, chửi Tàu, chửi xã hội VN, chửi người VN yếu hèn, nhu nhược .v.v.. Mình hỏi "Anh dũng cảm vậy, có ý định hôm nào về VN ra chợ Bến Thành chửi bữa cho đã không ?". Anh im lặng trừng mắt nhìn mình, chắc lại là đang kiếm cái nón cối :-) .


Nhưng đó là chuyện đời thường, còn chuyện ông sư kia đi tu (mặc dù có thể đi tu vì lý do nào đó), bị người ta chê ngu, mướn luật sư vác đơn đi kiện, thì lại càng lạ hơn. Ông Phật hồi đó mà "mặt mũi" như ông sư quốc doanh này chắc là vác đơn đi kiện hoài. Ngạc nhiên hơn là ông sư QD này từng thuyết giảng về "vô ngã", về "lục ba la mật" (six paramitas) .... mà lại ứng xử như vậy ? Nhưng suy cho cùng thì cũng không có gì lạ. Thực tế trong đời sống có quá nhiều sự gượng gạo gán ép giữa những danh vị vô nghĩa và tư duy của con người, để rồi tung hô lẫn nhau theo quán tính. Có nhiều lần mình may mắn được ngồi nói chuyện với một số vị học hàm học vị cả gánh, chức nọ chức kia ghê gớm (cả trong nước lẫn ngoài nước). Cố gắng hết sức để tìm được sự kết nối giữa cái danh vị và tư duy của họ qua câu chuyện, nhưng rồi lại thất bại. Thỉnh thoảng mình cũng có đọc, có nghe nhiều vị phát biểu trên báo trên đài TV, cũng vậy. Chỉ biết tự nhủ chắc là mình hiểu chưa tới, chưa đủ duyên, chưa đủ tầm, hoặc học chưa hết chữ :-).

Thực ra dẫu ông sư kia có thắng kiện, hoặc ông quan nào đó có dùng quyền lực khoá miệng người khác, thì cũng làm sao khoá được suy nghĩ của thiên hạ. Mà đó mới là điều quan trọng. Tiếng Anh có câu nói “Respect is earned, not given”. (Tạm dịch là: Sự tôn trọng phải là do tự mình tạo ra, chứ không phải là thứ cho không biếu không). Tôn trọng là ở chỗ hiểu nhau, quý nhau, kính nhau, nghĩ về nhau, chứ không phải chỗ nói suông, thổi phồng, nịnh đầm, hoặc tuyên truyền những chuyện đi mây về gió. Thiếu gì những trường hợp trước mặt nịnh nọt nhau, cụng ly nhau, tâng bốc nhau ầm ỉ, khen nhau toàn những lời hoa mỹ. Ký hợp đồng xong, nhậu xong, hoặc được việc xong, quay lưng lại là chửi thề. Bình thường thôi. Ở một số quốc gia đang phát triển, cho đến nay vẫn còn rất nhiều hiện tượng ngộ nhận về những giá trị ảo. Cứ nghe đồn đãi danh xưng, bằng này cấp nọ, chức này chức nọ, là vội tin, mà ít khi kiểm chứng hoặc tự thân tìm hiểu cái danh xưng và tư duy đó có thực sự thuộc về nhau không, bóng và hình có ọc rơ không. Bởi vậy nên mới có nhiều bị kịch và nghịch lý xảy ra !

Ông Gandhi có nói "I will not let anyone walk through my mind with their dirty feet." (Tạm dịch: Tôi sẽ không để bất cứ ai dẫm lên trí óc tôi với bàn chân dơ bẩn của họ". Mình luôn luôn đồng ý với quan niệm đó. Cuộc sống lúc nào cũng đầy rẫy những thị phi. Ai cũng có những người thương kẻ ghét, người hiểu đúng kẻ hiểu sai, người thật lòng kẻ đố kị. Sao có thể thay đổi và cấm đoán đưọc họ ? Đâu cũng có người thông thái, kẻ hoang tưởng. Tại sao phải bận lòng đến những câu chuyện không đâu vào đâu của họ mà tự làm khổ mình. Nhiều người đâu phải chỉ dẫm lên người khác bằng đôi chân dơ, mà có khi kéo theo vài xe phân, thậm chí vài trái bom tấn. Ông sư kia dễ bị ngoại cảnh khen chê tác động như vậy, làm sao giảng giải... chánh niệm, chánh tư duy ? 

Bỗng nhớ đến câu chuyện của Ngài Lục Tổ Huệ Năng ngày xưa. Để tránh những đố kỵ ghen tức, Ngài ẩn danh sống lây lất đây đó nhiều năm, đợi cho đến thời điểm phù hợp mới ra hoằng pháp. Một hôm đi đến chùa Pháp Tánh tại Quảng Châu, gặp lúc pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết bàn, nhiều người đang lắng nghe.
Lúc bấy giờ, gió thổi lay động lá phướn. Một vị tăng bảo rằng gió động, một vị tăng khác bảo là phướn động, tranh luận nhau mãi. Ngài Huệ Năng bước đến bảo rằng: "Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phướn động, mà chính tâm hai nhân giả động đó". Mọi người đều giật mình tỉnh ra !

Bởi vậy, biết đâu con bò không hề ngu, mà ngu cũng chẳng phải là ngu, mà chính chúng ta mới là những kẻ nên nhìn lại chăng ? 

Thôi chúc mọi người cuối tuần an vui. 

Go cow, go cow, go cow .... :-)

PN


Monday, January 31, 2022

Tống cựu nghinh tân !

 


Ngày mai là Tết rồi. Hôm qua mới vừa dọn dẹp nhà cửa đón Tết. Đúng ra ở xứ này cuối tuần nào cũng vậy, công việc giặt đồ, dọn nhà, hút bụi ... được coi như thường lệ. Nhưng tuần này thì khác, mình nói với mấy đứa con là “tống cựu nghinh tân". Dọn dẹp nhà cửa xong, hớt tóc cạo râu, chuẩn bị ăn Tết :-) .

Thật ra bên Mỹ nói đùa vậy để tiếu lâm cho vui, nhưng bên nhà, "tống cựu nghinh tân" là chuyện có thực. Không biết bắt đầu từ đâu, khi nào, nhưng mỗi khi Tết về ai cũng mong muốn tống tiễn những lo âu, buồn bực, áp lực, khó khăn trong năm cũ. Nhà nhà náo nức, mọi chuyện dĩ hoà vi quý, lo dọn dẹp nhà cửa, hớt tóc cạo râu, làm móng làm chân, chùi lư sơn nhà, rửa xe rửa cộ, tân trang lên đời ... chuẩn bị đón Xuân. Mà cũng chính vì tục lệ đó, nên mấy ngày Tết mới trở nên rộn ràng, hấp dẫn, rạo rực, và thiêng liêng đối với mọi người. Ba ngày Tết vô cùng quan trọng với người Việt vì ngoài việc đón năm mới, gia đình sum họp, ăn chơi lễ hội, thì còn có tâm linh, tài lộc, hên xui, gắn liền với từng nụ hoa, cái bánh, dĩa mứt, câu chúc, lời chào ...Cho nên ông nào mà khuyên người Việt bỏ ăn tết ta thì chắc là khó lắm đấy, mặc dù hiện nay VN là nước nghỉ Tết nhiều nhất trên thế giới. Nhiều nhà sản xuất ngoại quốc muốn vô VN làm ăn cũng phải biết qua cái văn hoá này, rồi rùng mình ba cái, kiểu như vào ba ra bảy trong "quy trình" uống rượu của quê nhà. Đó là chưa nói đến nạn về quê ăn Tết vui quá, đợi hết tháng giêng là tháng ăn chơi, rồi mới vô lại. Sợ gì ? Bịnh gì mà kiêng ? Cho nên mấy anh cai, anh chủ, qua VN làm việc một thời gian dễ bị hư răng vì lầm bầm, cắn răng, nghiến răng ....nhiều quá :-).

Mà đã nói đến Tết thì phải nói đến phần chuẩn bị “tống cựu nghinh tân". Ở quê ta chuyện sắm Tết kéo dài nhiều ngày có khi hết cả tháng Chạp. Ngoài những chuyện như sửa nhà sửa ngõ, sơn mới, tỉa lá gọt cây, chùi lư chùi tách, ngâm rượu, làm mứt, lựa nếp gói bánh, giả cốm rang nổ, trả nợ đòi nợ .… nhiều địa phương còn tổ chức lễ hội tưng bừng như lễ ban sóc, phất thức, tảo mộ, cúng ông Công, ông Táo, thả cá chép, hoá vàng, dựng nêu, cúng đình hoàng, tất niên khu phố, lô tô bài chòi …v.v. Mỗi địa phương mỗi khác. Đối với bà con xóm giềng, dù trong năm cũ có điều gì xích mích cũng xí xóa hết. Dầu không thực lòng cũng tỏ ra ôn tồn hòa nhã, không ai nói khích bác hoặc bóng gió ác ý trong ngày đầu năm, với ai cũng tay bắt mặt mừng. Quét nhà cũng không dám quét. Ví dụ như trước Tết có bàn luận chuyện anh hùng lao động Việt Á, hoặc chuyến bay nhân đạo giải cứu ngạo nghễ gì gì đó thì cứ nói thoải mái, chứ đầu năm những chuyện như thế sẽ được coi như điều cấm kị :-).

Nhưng chuyện chuẩn bị thì lâu vậy thôi, chứ thời khắc quan trọng vẫn chỉ là giờ G. Giờ khắc để tống tiễn cái cũ và nghinh đón cái mới là giờ Giao thừa. Nhớ hồi xưa mỗi lúc đón giao thừa là mình nhớ đến bài Đêm Trừ Tịch của Nguyễn Trãi. Cứ thắc mắc lúc thay ca, ông thần nào trắng ông thần nào đen ? Nhưng phải nói đọc bài thơ đó thấy thương cảm cho cái cô độc và cốt cách của một ẩn sĩ thiên tài như Nguyễn Trãi. Mở ngoặc chút Nguyễn Trãi là một trong các vị anh hùng dân tộc mà mình tôn kính nhất. Rất khâm phục sự nhẫn nại, cam chịu thiệt thòi, hy sinh bản thân, sẵn lòng vì nước vì dân của ông. Cái tâm của một kẻ sĩ thực thụ. Còn thế hệ mình thời nay quá may mắn, đầy rẫy công nghệ gục gờ, FaceTime, Facebook…Cũng chẳng cần phải là ẩn sĩ thiên tài gì, cứ bấm máy là chuyện gì cũng biết. Như năm nay không có google thì cũng chẳng biết bao giờ là đêm trừ tịch giao thừa. Cũng may là không có em nào để đến thăm đêm 30, chứ nếu có thì lại bị bom hàng vì năm nay chỉ có ngày 29 :-).

Mười hai tháng lọn mười hai,

Hết tấc đông trường sáng mai.

Hắc đế Huyền minh đà đổi ấn,

Sóc phong bạch tuyết hãy đeo đai.

Chong đèn chực tuổi cay con mắt,

Đốt trúc khua na đắng lõ tai.

Chẳng thấy lịch quan tua sá hỏi,

Ướm xem dần nguyệt tiểu hay đài.

(Nguyễn Trãi)

Kỳ thực là nói cho vui vậy thôi, chứ tục lệ là cứ xưa bày nay làm, “tống cựu nghinh tân" thì năm nào cũng tống, cũng nghinh. Nhưng đó chỉ là những tống tiễn hình thức bên ngoài. Tất nhiên là đưa đón phải có chọn lựa, cái nào không thích thì mới “tống”, cái nào thích thì mới “nghinh”, chứ còn những cái ở trong lòng thì dễ dầu gì :-). Đã bảo là quê ta có truyền thống "trước sau như một", cớ sao lại dễ dàng đổi thay như vậy ? Cho nên nghinh tân (đón nhận cái mới) đã khó, tống cựu (buông bỏ cái cũ) lại càng khó hơn. Có những quan niệm hoặc tập tục được hình thành từ thời xa lắc xa lơ, từ thời đèn bấc lúa sạ, nhưng vẫn còn giữ cho đến thời kỳ công nghệ bốn năm chấm. Có nhiều người cho rằng đi xa bao nhiêu năm về quê gặp lại, vẫn cái cũ ấy, vẫn câu chuyện ấy, vẫn định kiến ấy, vẫn phán xét ấy .... tống đi đâu cho được ?

Sơn cái nhà là xong, chùi cái lư là mới, còn cái tư duy cố hữu đâu dễ gì sơn phết được ? Tất nhiên không "tống cựu" được, thì cũng khó "nghinh tân" được. Như ly nước đầy, rót vào cũng chỉ tràn ra thôi. Mà hạnh phúc thực sự vốn đến từ bên trong, chứ không phải đến từ bên ngoài. Cho nên những chuyện vui buồn bởi ngoại cảnh rồi cũng chóng qua đi. Hết ba ngày Tết, lại đâu vào đấy !

Đức Phật ngày xưa nói rằng "The root of suffering is attachment". Ngài Dalai Lama cũng thường nói "Attachment constrains our vision so that we are not able to see things from a wider perspective". Những tu sĩ hoặc những người nghiên cứu đạo Phật ở phương Tây thường chú trọng vào những phương thức thực hành mỗi ngày để giảm thiểu những "desire and attachment" (ham muốn và gắn bó) nơi chính bản thân họ. Thực tập để bỏ đi những định kiến cố hữu hoặc những cố chấp gắn bó nhiều năm, vì đó chính là cái nguyên nhân sâu xa của mọi sự phiền não và cũng chính là những rào cản lớn nhất của sự tỉnh thức. Đó cũng là việc "tống cựu nghinh tân", nhưng đòi hỏi sự kiên trì và tỉnh thức mỗi ngày, thật không dễ chút nào. Mình cũng có quen biết vài ông VK, thực tập "tu hành" buông bỏ nhiều năm, nhưng tới mùa bầu cử Mỹ hoặc mấy ngày lịch sử đặc biệt của VN, thì phải “đình chiến” một thời gian, để chửi phe bên kia cho đã, rồi lại "tu tập" buông bỏ tiếp :-).

Trong sách nhà Phật có một câu chuyện mà chắc nhiều người cũng đã từng nghe qua, nói về 2 ông sư huynh sư đệ cõng một cô gái qua suối. Nhắc lại chút cho những ai chưa biết. Hai ông thầy tu đi ngang qua một con suối, nước sâu. Có một cô gái (có sách nói là sexy, hấp dẫn) đang đợi ở đấy nhờ cõng qua suối. Ông sư huynh không ngần ngại cõng cô gái qua suối, rồi đi tiếp. Ông sư đệ lẽo đẽo theo sau, đầu óc cứ thắc mắc chịu không nỗi "Tại sao sư huynh mình lại đụng chạm xác thịt với cô gái sexy kia như vậy ?". Gần đến chùa, chịu hết nỗi, phải hỏi "Tại sao sư huynh làm như vậy ?". Ông sư huynh cười ha hả: "Cô gái ấy cần giúp, ta đã cõng cô gái ấy rồi bỏ lại bên kia bờ suối lâu rồi. Còn đệ thì cõng cô ta về đến chùa cho tới bây giờ !".

Câu chuyện có vẻ khôi hài, nhưng trong thực tế cuộc sống, biết bao nhiêu người trong số chúng ta cũng từng "cõng" nhiều chuyện cho đến hết cuộc đời. Nhớ nhiều năm trước, mình có dịp quen biết một vị đồng hương rất thông thái, từng nắm giữ nhiều chức vụ ngày xưa. Ông kể cho mình nghe vanh vách nhiều mẫu chuyện cách đây 6, 7 chục năm về trước. Nhưng đến chuyện của con cái đang ở chung nhà mấy chục năm nay thì ông lại “không nhớ” gì. Tương tự, thỉnh thoảng về quê mình cũng gặp nhiều trường hợp, nhiều tuồng tích chỉ phán xét dựa vào một vài thông tin nghe đi nghe lại ở đâu đó, hoặc dựa vào những định kiến từ thời lâu lắc lâu lơ để kết luận cho thì hiện tại. Cho nên tính ra thì ông sư đệ chỉ mới “cõng” cô gái từ suối đến chùa thôi cũng là ngon lành rồi :-). Nói đùa cho vui chứ riêng mấy vụ định kiến hoặc bảo thủ, thì nhiều người cả ngàn cái Tết cũng không "tống cựu nghinh tân" nỗi huống hồ gì một vài cái mùa Xuân !

Lan man chút về chuyện tống cựu nghinh tân của ngày Tết, lại nhớ đến thơ phú. Mình vốn không phải dân văn chương thi ca, nên đọc thơ thì chỉ nhớ những bài nào có sự đồng cảm hoặc những câu thơ hay theo cách hiểu của riêng mình. Mình cũng không thích loại thơ "đặt hàng", hoặc loại thơ mà ráng gượng ép ghép chữ cho ra bằng ra trắc nhưng lại không có cảm xúc gì. Thực ra làm thơ Tết cũng không dễ, cho nên số lượng thì có nhiều nhưng bài hay lại hiếm hoi. Mà những bài đã hay rồi, thì vượt thời gian, vượt không gian, năm nào đọc cũng thấy hay. Như bài Ông Đồ của VDL, năm nào đọc cũng thấy man mác. Nôm na là ngoài những nhân vật nổi tiếng như Đổ Phủ, Thôi Hiệu, Vương Duy, Lý Bạch, Lý Hạ, Vương Bột ... hoặc các thiền sư nổi tiếng như Chân Không, Mãn Giác, Giác Hải, Vạn Hạnh, Tiêu Dao ... thì mình thích nhất là thơ Tết của Nguyễn Trãi. Còn mấy vị thi sĩ đương đại sau này thì thích cách làm thơ của Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Vũ Hữu Định .... Có lẽ hợp với cái đời sống lang bạt tha phương của mình. Nhắc đến Nguyễn Bính mới nhớ là ông cũng ra đi vĩnh viễn vào ngày 29 tết của một năm không có ngày 30 như năm nay. 

Còn nói đến chuyện làm thơ, thì đâu phải ông thi sĩ nào lựa chữ ghép vần hay cũng có tâm hồn phóng khoáng. Như ông Tố Hữu ghép chữ ghép vần hay, nhưng thơ đầy máu lửa và mang nặng tính tuyên truyền. Ở VN lạng quạng làm thơ mà gặp trúng ông sếp "thi sĩ" có tư tưởng thuộc loại "tống cựu" không đi, tư duy bảo thủ giáo điều, thì cũng khổ. Như ông Vũ Hoàng Chương làm bài thơ Xuân dưới đây, chỉ vì một chữ "Về" mà bị Chế Lan Viên trù dập thê thảm. Mấy vụ này thì những nhà thơ nổi tiếng như Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Trần Dần .. kinh nghiệm đắng cay đầy mình. Ngay cả mấy ông nhạc sĩ như Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn ...cũng từng ít nhiều được trải nghiệm những cay đắng này :-) ...

Mười năm qua, đến bây giờ

Nhìn nhau thấy cả giấc mơ thưở nào ..

Xuân về nhớ thưở ngát chiêm bao

Giòng nước trôi xuôi chợt nghẹn ngào


Mười phần xuân có gầy hao

Tấm lòng xuân vẫn dạt dào như xưa.

Mấy phen biếc đón hồng đưa

Dẫu rằng xong vẫn là chưa thoả nguyền

...

Cảm thông giữa lúc hàn huyên

Ta nghe cặp mắt u huyền nao nao

Vũ Lăng nhớ chuyện suối Đào

Chia tay chẳng biết phương nào tìm quê.


Có nghĩa gì đâu một chữ “về”

Nếu không ngàn dặm ngược sơn khê

Nếu không ngược cả mười năm ấy

Về tận kinh đô của Ước Thề!


Mùa xuân quạt gởi thơ đề

Bảo giùm ta – chúa Xuân hề! – còn không?

Hỡi ơi, một phút mơ mòng

Đã tan rồi, mấy phương lòng sầu lên!

...

(VHC)

Thôi lan man chút cuối năm, bên này đã gần trưa. Giờ này bên VN chắc đã chuẩn bị đón giao thừa, tống cựu nghinh tân. Thân chúc quý bằng hữu, anh chị em, một năm mới an vui hạnh phúc, dồi dào sức khoẻ, công việc thuận lợi. Chúc những gì không tốt sẽ được tống tiễn đi xa, để nghinh đón cái an lạc về với bản thân, với gia đình, và những người thân yêu !

PN
(Ngày 29 Tết)



Sunday, November 21, 2021

Phiếm: Nhiều chức để làm gì ?


 

Mấy năm gần đây, người VN thường có câu hỏi "Nhiều tiền để làm gì?". Có người hỏi thật lòng, có người hỏi với ý trêu ghẹo, và cũng có người hỏi vì đã ngộ ra một điều gì đó sâu sắc hơn trong cuộc sống. Bên cạnh đó tất nhiên là vẫn còn bao nhiêu người khác miệt mài đeo đuổi tiền bạc danh vọng mỗi ngày, mà không ai có thể đoán được khi nào mới là điểm dừng của họ. Và trong lúc có những người nhiều tiền không biết làm gì, thì xã hội chung quanh vẫn nhan nhản bao nhiêu chuyện thương tâm xảy ra. Những mảng đời lây lất bên lề xã hội, trong bệnh viện, dưới gầm cầu, bên bãi rác…. Những đứa bé nghèo khó trông chờ từng manh áo ấm từng bữa cơm no, ấp ủ từng ước mơ được cắp sách đến trường. Những kẻ bất hạnh vẫn mỏi mòn chờ đợi từng ngày để qua đi kiếp sống khốn cùng kém phần may mắn. Nói đâu xa, ngay cả ở TP HCM, một nơi được cho là " Singapore thứ hai", vẫn còn không ít người dân ở ngoại thành đến nay vẫn chịu cảnh màn trời chiếu đất, lây lất không nhà không cửa, bữa đói bữa no. Nhiều gia đình vẫn chưa có được cái nhà vệ sinh kín đáo để che dấu cái bàn dân thiên hạ mỗi lúc cần giải bày tâm sự … !

Nhưng đó là chuyện nhiều tiền nhiều gạo, nói bao giờ cho hết ? Nói sang đến chuyện nhiều chức. Mới tuần rồi, ngồi đọc tin tức bên nhà, lướt qua một vụ án tham nhũng quen quen, có thấy nhắc đến một vị cựu "sư thầy" chạy án. Nhìn cái danh mục chức sắc của ông ta mà mình choáng. Tự nhiên, loé lên câu hỏi “Nhiều chức để làm gì ?". Một câu hỏi mà chắc chắn lâu nay nhiều người cũng đã từng băn khoăn nghĩ đến rồi. 

Tất nhiên đây không phải lần đầu mình được nghe, được thấy một vị tu sĩ VN có nhiều chức sắc như vậy. Chỉ hơi ngạc nhiên là chức tước cùng lúc nhiều đến thế, thời gian đâu nữa để mà tu hành ? Mà để trả lời câu hỏi “Nhiều chức để làm gì?” thì từ một ông quan chức nhỏ cho đến một lãnh đạo cao cấp, chắc cũng phải khó khăn lắm mới trả lời đúng được, huống hồ chi là một bậc tu hành. Dĩ nhiên ở đây chúng ta đang nói đến câu trả lời cho chính lương tâm của họ, chứ còn trả lời cho thiên hạ trên báo trên đài thì bao giờ cũng dễ hơn nhiều.

Thực ra lâu nay ai cũng biết "chức sắc" chỉ là hình thức, là phương tiện để cơ cấu sắp xếp, hoặc phân bố tổ chức của một đoàn thể, công ty, doanh nghiệp, đơn vị hành chánh, hoặc chính quyền nhà nước, tổ chức quốc tế ...v.v. Mỗi chức vụ thường sẽ có những trách nhiệm, nghĩa vụ, danh dự, và quyền lợi tương ứng với chức vụ đó. Hầu hết trên thế giới, người ta thường chỉ quan tâm đến việc làm, sự cống hiến, trách nhiệm, hoặc vai trò thực hiện của người mang chức sắc. Làm công ăn lương thì có đúng người đúng việc không ? Làm quan chức thì có làm đúng trọng trách công việc không, có làm được việc gì hữu ích cho người khác, cho xã hội, cho dân cho nước hay không? Vì đó mới là mục đích chính, là phần hồn, và là điều quan trọng nhất đối với một chức vụ. Nhưng rồi cũng không biết cái văn hoá mê chuộng chức sắc này bắt nguồn từ đâu, mà lần hồi ở một số nơi trở thành nạn “loạn” chức sắc. Trong nước ngoài nước gì cũng gặp. Có chức được lãnh lương, có chức chỉ lãnh nợ. Ví dụ như ở nước ngoài làm chủ tịch chủ tiếc cộng đồng VN ở những địa phương có người Việt, chỉ là công việc tự nguyện ăn cơm nhà vác ngà voi, chủ yếu giúp bà con đồng hương tổ chức Tết nhứt, hội hè cho vui. Vậy mà có nơi cũng tranh giành nhau đến bốc khói, rồi lại có nhiều chỗ năn nỉ không ai chịu làm. Thật ra cũng có người hết lòng phục vụ đồng hương, nhưng cũng có người chỉ muốn tranh nhau cái chức hoặc khoái cái tên. Nên nhiều lúc dở khóc dở cười, vừa khôi hài vừa chua chát !

Nhiều người cho rằng văn hoá ham hố chức sắc này hình thành từ thời phong kiến xa xưa, vì "chức" có liên quan đến quyền hành và bổng lộc. Có thể vậy mà cho đến ngày nay vẫn còn một số nơi trên thế giới tồn tại quan niệm này, đặc biệt là ở những quốc gia có nạn tham nhũng và cửa quyền lộng hành. Tuy nhiên không phải ở đất nước nào cũng như vậy, cho nên đôi lúc gây ra một số hiểu lầm không nhỏ. Ví dụ như có nhiều người quen ở VN hiểu lầm về công việc của những nhân viên hoặc quan chức trong chính phủ Mỹ. Thông thường thì làm công chức nhà nước, chính phủ, cũng là một công việc bình thường, có trách nhiệm nghĩa vụ hẳn hoi tùy theo vị trí. Công việc chính phủ nhà nước thì thường không phải là những công việc có lương cao so với các công ty tư nhân bên ngoài. Tuy nhiên làm việc cho chính phủ thì các quyền lợi khác như tính ổn định việc làm cao hơn, tiền hưu, bảo hiểm sức khoẻ, thời gian nghỉ phép, nghỉ bịnh .v.v... tốt hơn. Nói đến lương bổng hoặc các khoản khen thưởng, thì các công ty tư nhân bên ngoài thường phong phú và rộng rãi hơn, đặc biệt là những công ty tư nhân lớn có các khoản đãi ngộ khác như tiền thưởng, stock options (cổ phiếu/cổ tức)... Còn nói về quyền hạn của các quan chức chính phủ Mỹ, thì chức vụ nào có nhiệm vụ nấy, ít ai dám lạm quyền lấn sân, cũng như ít chuyện hối lộ tham nhũng (ít chứ không phải là không có nghen). Chuyện lại quả hoặc cục sắt ném đi cục chì ném lại càng hiếm, vì lạng quạng dễ vô tù. Nên làm ông giám đốc sở, thị trưởng, nghị viên, thượng viện hạ viện, thống đốc, thậm chí tổng thống... thì cũng bình thường thôi. Lương của họ còn thấp hơn nhiều người khác, mà "lậu" thì cũng chẳng có bao nhiêu. Trời mưa lội nước thì cũng tự che dù mà đi, chẳng ai phải cõng họ bao giờ. Ngay cả những vị lãnh đạo cấp cao trong chính quyền, nếu tư cách đàng hoàng, năng lực tốt, gặp nhau người ta còn chào hỏi, kính trọng. Ngược lại, lỡ khi ra đường, vô quán ăn, đi quán nhậu ... để dân bắt gặp, bị kêu tên chửi thẳng hoặc la ó um sùm cũng là chuyện bình thường. Tuy nhiên vì thông tin không đầy đủ, nên nhiều người VN có bạn bè hoặc người thân ở Mỹ, mỗi khi nghe ai nói đến làm việc cho chính phủ, lại cứ tưởng là họ giàu có hoặc quyền lực gì ghê gớm lắm. Rồi cũng có những trường hợp ngược lại, nhiều vị VK lại tô vẽ thêm cho cái “uy lực” của họ nơi xứ người. Nên lần hồi bà con ở quê nhà cứ ngỡ quyền hành của họ to lớn giống như ông công an khu vực, ông trưởng thôn, anh chủ tịch xã, hoặc chị bí thư phường bên nhà :-). 

Nôm na thì phần việc công chức nhà nước cũng chỉ có vậy, có ngạch có cấp hẳn hoi, khó mà có được những bước "quá độ" hoặc “đột phá” như ở bên nhà. Còn đối với công ty hoặc doanh nghiệp tư nhân (DN tư nhân chiếm đại đa số việc làm ở Mỹ), thông thường thì cũng theo nguyên tắc chức càng to lương càng lớn. Nhưng vì đa số công ty tư nhân không có quy chế ngạch trật, nên có nhiều khoản thu chi linh động hơn, bất ngờ hơn. Một ông tổng giám đốc công ty lớn lãnh vài chục triệu đô một năm, cũng không phải chuyện hiếm. Thậm chí nhiều người chức vụ nhỏ hơn trong công ty tư nhân vẫn có thu nhập cao hơn tổng thống, bộ trưởng, thứ trưởng, tướng tá ở Mỹ, là chuyện bình thường. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp ngoại lệ, đặc biệt là ở các lãnh vực chuyên môn đặc thù hoặc công nghệ tân tiến. Nhiều người tài giỏi đi sâu vào các lãnh vực chuyên môn, có nghiệp vụ đặc biệt, thì cũng chẳng cần phải làm giám đốc giám điếc gì, nhưng lương bổng cao hơn hẳn các ông sếp hoặc giám đốc của họ. Điều đó cũng hợp lý thôi, vì với một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, người làm hưởng theo giá trị mà họ tạo ra, chứ không phải hưởng theo "chức sắc" hoặc theo phe cánh. Mặt khác, khoảng cách về lương bổng giữa những người "cổ trắng" (làm bàn giấy) và "cổ xanh" (lao động tay chân) ở nhiều quốc gia tư bản không khác xa lắm. Cho nên nhiều người mặc dù chức vụ nhỏ hơn hoặc làm ít lương hơn, nhưng siêng năng làm thêm giờ thêm việc, cuối ngày "cổ xanh" lại nhiều tiền hơn "cổ trắng". Ngoài ra cũng có rất nhiều người tự làm doanh nghiệp tư nhân, tự mở tiệm mở quán, muốn đeo cổ nào thì đeo, lúc bình thường thì cổ xanh cổ trắng, lúc nhậu vào thì cổ đỏ cổ đen. Chẳng cần chức sắc gì, nhưng họ lại giàu có, ai “chơi” tới đâu họ “chơi” tới đó. Dám có lúc cũng bị lăn tăn nỗi khổ "nhiều tiền để làm gì" chứ chẳng đùa :-).

Nhưng đó là những chuyện đời thường, còn chuyện ham muốn "chức sắc" trong đạo, trong tôn giáo, lại càng khó hiểu hơn. Nhiều chức để làm gì ?

Tất nhiên là ai cũng hiểu được sự khác biệt giữa "phương tiện" và "mục đích" trong đời thường. Tôn giáo cũng vậy, mỗi tôn giáo đều có những mục đích và phương tiện khác nhau. Do vậy, cách tổ chức và sinh hoạt của mỗi tôn giáo thường thì cũng khác nhau, mặc dù mục đích cuối cùng có thể là không khác nhau lắm. Có những tôn giáo quan tâm phần hình thức, nặng về việc tổ chức hành chánh. Có tôn giáo lại quan trọng đến phần phát triển tín đồ, gây dựng cơ sở vật chất. Có tôn giáo lưu ý chuyện truyền thừa hơn, rồi cũng có tôn giáo đề cao chuyện an dân, sống tử tế thiện lành hơn..v.v. Muôn màu muôn vẻ. Và nhiều khi ngay cả trong cùng một tôn giáo, cũng phân chia ra nhiều chi nhánh, nhiều kinh sách, hoặc nhiều pháp môn tu tập khác nhau để phù hợp cho từng hoàn cảnh con người và địa phương. Đó cũng là chuyện bình thường thôi. Thế giới này quá nhiều người có trình độ khác nhau, tư duy khác nhau, kinh nghiệm sống khác nhau, cá tính khác nhau, đức tin khác nhau…Không thể nào có một cái bánh mà mọi người ăn vào cùng thấy ngon như nhau cả !

Nói thêm về vấn đề này, xưa nay ở bất kỳ một quốc gia nào, cho dù văn minh hay lạc hậu, độc tài hay dân chủ, thì cũng không hiếm những trường hợp tôn giáo bị các thế lực chính trị lợi dụng. Từ cá nhân, phe nhóm, cho đến chính quyền đảng phái lạm dụng để phục vụ cho những mục đích riêng tư của họ. Khác nhau là nhiều hay ít. Ngày xưa chỉ có một số ít trường hợp núp bóng tôn giáo, trà trộn giả danh để hoạt động chính trị, thì ngày nay vấn nạn đó lại càng phát triển đa dạng và phức tạp hơn nhiều. Không những chỉ giả danh để làm chính trị tuyên giáo, mà còn giả danh để làm kinh tế, lợi dụng đức tin của thiên hạ để phục vụ cho nhiều mục đích khác. Ví dụ như có một số giáo hội trên thế giới ngày càng phải đối diện với nhiều vụ lạm dụng tình dục trẻ em, tư tưởng cực đoan, khủng bố cuồng tín...v.v. Dĩ nhiên là cách ứng xử và thay đổi của mỗi tổ chức tôn giáo đều phải bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có sự ảnh hưởng rất lớn của văn hoá địa phương và quyền hành của chính phủ sở tại. 

Riêng ở VN, thì ai cũng dễ dàng nhận ra sự thay đổi của các sinh hoạt tôn giáo trước kia so với hôm nay, đặc biệt là đối với mảng PG quốc doanh. Ngày càng nhiều những sinh hoạt nghiêng về hình thức vật chất, nghi lễ bên ngoài, và các rao giảng nặng về mê tín tâm linh, tài lộc, buôn may bán đắt. Tu "tỉnh thức" một cách mơ hồ :-). Trong khi đó, nguyên thuỷ xưa nay đạo Phật chỉ có một mục đích tối thượng là hướng dẫn con người đến chỗ tỉnh thức, sáng suốt hơn (chứ không phải mê tín hơn). PG chỉ giúp con người hiểu rõ bản thân, để họ tự học hỏi và tu tập, thay đổi bản thân, tự chuyển hóa, tự thực chứng, để có trí tuệ tìm đến sự giác ngộ. Chùa chiền, kinh sách, tăng đoàn, pháp môn ..v.v.. cũng chỉ là những phương tiện hỗ trợ cho mục đích đó. Sư thầy thì cũng phải tự tu, tự học cho bản thân. Có hiểu đúng tu đúng, mới có thể giúp ích & hướng dẫn đúng cho người khác được. Nói tới đây mới nhớ, mới hôm bữa nói chuyện với một chị bạn chuyên nghiên cứu kinh sách và giáo lý PG bên Mỹ. Thắc mắc là "Sao các vị tu sĩ PG ở phương Tây, cũng như các kênh nghiên cứu đạo Phật ở nước ngoài, rất ít khi nói đến những chuyện như cõi âm, ma quỷ, hoặc chuyện sau khi chết. Trong khi đó ở VN quá nhiều bài thuyết giảng về loại đề tài này? ". Thực ra, mình không phải là các vị đó nên không dám đoán những dụng ý của họ. Tuy nhiên cũng thắc mắc không hiểu là ai có thể kiểm chứng được những chuyện ở cõi âm mà họ nói như thế ? Mình thì luôn luôn tin vào quy luật nhân quả, nên quan niệm rất đơn giản như ban ngày ăn mặn thì ban đêm khát nước; ngày hôm nay nhậu say bí tỉ thì ngày mai nhức đầu. Còn chuyện chết chóc thì cũng chỉ là là một phần của sự sống, có ai tránh được đâu. Vậy thôi, có gì lạ ? 

Thiết nghĩ sẽ rất hữu ích khi đi nghe giảng thuyết một vấn đề nào, hoặc nghe thiên hạ đồn đãi chuyện độc lạ gì, mà có thói quen không vội vàng tin theo một cách mù quáng. Mình cho rằng dù người thuyết giảng là ai, “chức to quyền trọng” thế nào, chùa to nhà thờ lớn tới đâu, hoặc có là giáo sư tiến sĩ gì đó, thì người nghe cũng cần phải tìm hiểu để phân biệt được điều đó đúng sai, hoặc có phù hợp với bản thân mình hay không ? Hiểu đúng vấn đề, chính việc làm đó cũng là một bước tu tập rất quan trọng và cần thiết. Phải qua lớp một mới đến được lớp hai, không ai có thể leo lên trung học mà chưa biết đọc biết viết !

Suy cho cùng, thì mọi chuyện trong vũ trụ này đều không thể tự nó sinh ra và tự tồn tại được, mà phải dựa vào nhau để có. Cho nên chuyện thuyết giảng một giáo lý, hoặc rao giảng một chủ nghĩa, cũng như tôn xưng chức nọ chức kia cũng vậy, là phải do quan hệ song phương (hoặc đa phương). Bên này cảm thì bên kia mới ứng. Có người nghe, thì mới có ngưòi nói. Có người này nể, thì người kia mới xưng. Có người này phục, thì người kia mới “nổ”. Có kẻ tin, thì mới có người “thuyết”…Còn "đúng, sai" lại là chuyện khác, tuỳ theo cái biết của mỗi người. Mấu chốt của vấn đề vẫn là ở chỗ mục đích của nó. Một lý thuyết hoặc chủ nghĩa dẫu từ ngữ to lớn cho đến đâu, thì quan trọng là có làm cho đất nước giàu mạnh, con người văn minh hạnh phúc hơn không ? Một ông quan dẫu chức to quyền lớn đến đâu, quan trọng là có làm được việc gì để ích nước lợi dân hay không ? Một người tu sĩ dẫu chức sắc cả gánh, quan trọng là có làm được việc gì để giúp mình giúp người trên con đường tu tập dẫn đến sự tỉnh thức hay chăng ? Không khéo, có khi nhiều chức quá lại trở nên nặng nề hơn, rồi phiền khổ giống như mấy anh nhiều tiền, lâu lâu lại phải băn khoăn tự hỏi: "Nhiều chức để làm gì ?" :-).

Cũng nhân nhắc đến chuyện phúc đức cõi âm, mình nhớ đến một câu chuyện trong sách kể lại thời Đức Phật còn tại thế. Một vị phú gia có cha vừa mới chết, bèn vội tìm đến Đức Phật, cầu xin Ngài giúp làm phép cho cha ông ta được về cõi thiên đường. Ông ta nói:

- Có nhiều vị pháp sư nói có thể làm phép giúp cha tôi vãng sanh về chốn thiên đàng, nhưng tôi tin tưởng nơi Ngài, nhờ Ngài cứu giúp. Tốn kém bao nhiêu cũng được.

Đức Phật nói:

- Ông hãy ra chợ mua hai cái hủ sành, một hủ bỏ dầu ăn vào, và một hủ bỏ đá quý vào, rồi đậy kín đem về đây.

Người phú gia nghe lời ra chợ mua hai hủ sành bỏ dầu, và đá quý mang về. Đức Phật bảo ông ta hãy bỏ 2 hủ sành ấy xuống giòng sông phía trước, và đợi cho đến khi chìm hẳn, rồi lấy một khúc cây thọt bể hai hủ sành đó ra. Hai hủ sành bể, dầu nổi lên trên mặt nước, còn đá quý thì chìm sâu dưới đáy sông.

Đức Phật bảo rằng:

- Ta chỉ giúp ông được tới đây. Chuyện nghiệp lực của thân phụ ông là do chính ông ấy tạo ra bao lâu nay khi ông ấy còn sống. Còn bây giờ thì ông hãy đi nhờ các vị pháp sư kia cúng, làm phép cho dầu kia chìm xuống và đá quý nổi lên. Nếu họ làm được chuyện như thế, thì họ có thể giúp được cho cha ông. Vị phú gia chợt hiểu ra đạo lý và từ giã quay về.

Ngay cả Đức Phật ngày xưa cũng chỉ dừng lại ở đó. Thế mà ngày nay có nhiều vị sư thầy có thể làm nên những điều kỳ diệu hơn, thì quả nhiên là điều đáng kinh ngạc !

Trở lại câu chuyện chức sắc dày cộm và sự giàu có của một số vị tu sĩ VN ngày nay. Mình vốn không hiểu biết lắm về cách tu học của các vị ấy, nên không dám lạm bàn về triết lý tôn giáo của họ. Vả lại đối những kẻ phàm phu còn đầy rẫy ham muốn, ngụp lặn trong tham sân si, cơm áo gạo tiền như mình, thì cũng còn nhiều giới hạn để phân tích sâu xa hơn. Tuy nhiên theo sự hiểu biết hạn hẹp của mình, trên thế giới mỗi khi nói đến PG, ngay cả những người không phải tu hành, đều biết đến 3 khái niệm cơ bản nhất của đạo Phật (Fundamentals of Buddhism). Đó là Vô thường (impermanence), Vô ngã (non-self), và Khổ (unsatisfactoriness or suffering). Trong tiếng Anh gọi đó là "Three Marks of Existence", hoặc "Three Universal Characteristics". Những vị nào tu tập thực sự, hiểu biết đúng về vô thường, vô ngã, thì chắc chắn là họ rất ít khi quan tâm đến những chức sắc danh xưng phù du, hoặc tài sản sổ đỏ sổ xanh, xe hơi nhà bự, sớm nắng chiều mưa trong cõi tạm này. Thường thấy như vậy !

PN


Monday, October 04, 2021

Ý nghĩ và đích đến ! (Thoughts & Destiny )

 


Mấy tháng nay quê nhà dịch bệnh nặng nề. Chết chóc đói khổ nhiều nơi, nhất là ở SG. Phong toả, đóng chốt, rượt đuổi, bao vây ... SG không còn nữa những "con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về", mà thay vào đó là hình ảnh những cung đường lặng lẽ, lạnh lùng, người lạy nhau trên phố. Những đoàn người lũ lượt trốn đi trong đêm như hành trình thập tự chinh của người Do Thái. Mùng, mền, chiếu, gối và những ước mơ đổi đời được gói gọn sau những chiếc ba ga gầy guộc. Những em bé vẫn còn bồng bế trên tay chưa biết gì, và những đôi mắt tròn xoe ngơ ngác quấn khăn quàng đỏ, lở dở tương lai. Những người nghèo khó đùm bọc nhau, chia xẻ từng gói mì chai nước, giúp nhau từng đồng bạc đổ xăng về quê. Những giọt nước mắt đã nhỏ xuống ngậm ngùi và cái ngoái đầu nhìn lại. Những thân thể cuộn tròn bên lề đường chợp mắt ru con. Những bàn tay nhỏ bé bất lực chào nhau lần cuối, rồi quay nhanh dấu nỗi nghẹn ngào... Còn bao nhiêu cảnh tượng đáng thương nữa, nhìn những hình ảnh đó ai lại chẳng đau lòng ? 

Ở nước ngoài, những người con xa quê cũng đau lòng không kém. Nhiều người đau đáu hướng về quê nhà. Mấy ông bạn, ông anh bên Đức, bên Mỹ, bên Tây, thỉnh thoảng lại email, ai cũng mong dịch bệnh chóng qua, để về thăm lại quê nhà, ai còn ai mất. Nhiều người gởi cho nhau những bài thơ khúc nhac. Cũ có, mới có, chia xẻ nỗi buồn. Có những câu, những chữ, dường như đã qua đi lâu lắm rồi, giờ nghe lại, thấy buồn man mác !

Mẹ tôi em có gặp đâu không ?
Bao xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em bé nhỏ
Bao năm rồi xác trẻ trôi sông !
(Quang Dũng)

Tuần trước, ngồi xem lại mấy cuốn phim tài liệu của thời kỳ dịch cúm năm 1918 (Spanish Flu) và các giai đoạn phục hồi sau năm 1920. Rồi nghĩ đến cơn dịch của ngày hôm nay, có những điểm tương đồng mặc dù đã hơn 100 năm trôi qua. Bỗng nhớ đến Erich Maria Remarque. Nhớ "Bia mộ đen và bầy diều hâu gãy cánh" (The Black Obelisk), nhớ "Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống" (Flotsam)..... Rồi cả một thời sinh viên hoang dại trở về !

(Ngoài lề chút, cho đến nay mình vẫn cảm thấy may mắn được sinh ra trong buổi giao thời của đất nước. Để được thấy sự khác biệt giữa chế độ cũ và chế độ mới, để sống với những đổi thay của con người và xã hội, để được tận mắt chứng kiến những biến động cũng như bao sự kiện lịch sử quan trọng của thế giới và quê nhà. Trong đó, có cả cơn đại dịch Vũ Hán lần này. Tất nhiên một số người quan niệm khác, cho rằng đây là một thế hệ bất hạnh và đầy hệ luỵ khổ đau. Cũng có một số người cho rằng đây là một thời kỳ rực rỡ, hãnh tiến chưa từng có. Mình tôn trọng những quan niệm đó, riêng mình vẫn nghĩ rằng khi nhìn nhận vấn đề với một thái độ tích cực và công bằng sẽ giúp cho cái nhìn trung thực hơn).

Nhớ lại thời mình còn đi học, cả một đất nước khó khăn nghèo đói. Bên cạnh đó là những biến cố xã hội xảy ra liên tục và bất ngờ, nhiều người hoảng loạn, bối rối, và sợ hãi. Thời kỳ "quá độ", cơ chế bao cấp, chuyên chính vô sản, hợp tác xã, kinh tế mới, đi cải tạo, đánh tư sản, đánh địa chủ, đổi tiền, điều tra lý lịch, chiến tranh Tây Nam, chiến trường Tây Bắc .v.v... Cái gì cũng mới, cũng lạ, cũng lần đầu. Còn hạnh phúc hay đau khổ, hân hoan hay cay đắng, là tuỳ vào vị trí và hoàn cảnh của mỗi người. Nhưng đại đa số người miền Nam nói chung và người Sài gòn nói riêng, đã sống cam chịu và nhẫn nhịn, cố hy vọng và chờ đợi sự thay đổi ở ngày mai để làm động lực vượt qua những tháng ngày khốn khổ. Cũng có nhiều người chịu đựng không nỗi, đã liều chết ra đi, và hàng trăm ngàn người đã ngã xuống giữa rừng sâu hoặc vĩnh viễn nằm lại dưới lòng đại dương.

Rồi mấy chục năm trôi qua, cuộc sống đất nước có thay đổi chăng ? Chắc chắn là có. Quy luật vô thường của vũ trụ, tất cả mọi thứ đều sẽ phải thay đổi, không ai có thể làm ngược lại. Có những thứ thay đổi tốt hơn, cũng có thứ thay đổi xấu hơn. Ngày hôm nay phải khác ngày hôm qua. Ngày mai sẽ khác hơn ngày hôm nay. Đó là chuyện tất nhiên, nhưng khác thế nào mới là quan trọng. Rồi cho đến ngày hôm nay, cuộc sống của người dân có còn phải cam chịu và nhẫn nhịn nữa không ? Ai cũng có thể dễ dàng tự tìm ra câu trả lời cho chính bản thân mình !

Có nhiều người thường dùng yếu tố thời gian để so sánh sự đổi thay hoặc tiến bộ của một đất nước. Mình nghĩ là sự so sánh nào cũng khập khiễng, vì sự thay đổi luôn lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Quả nhiên là vậy. Chỉ cần 30 năm, một quốc gia thất trận, bị tàn phá như Nhật đã có thể vươn lên trở thành một đất nước có nền kinh tế hùng mạnh thứ hai trên thế giới thời bấy giờ. Chỉ cần 35 năm Singapore trở thành một đất nước có nền kinh tế phồn thịnh hàng đầu thế giới. Đài Loan, Hàn Quốc cũng vậy, không cần đến 30 năm đã trở thành cường quốc về kinh tế và dân trí trên thế giới. Nhưng chúng ta không thể đem Liên Xô, Triều Tiên hoặc Cuba mà so sánh với họ được. Những nước Đông Âu cho đến ngày nay vẫn còn vất vả để đuổi kịp các nước Tây Âu láng giềng của họ. Suy cho cùng, yếu tố quan trọng nhất cho sự thay đổi và phồn thịnh không phải là thời gian, càng không phải là thành tích chiến tranh, mà là ở tư duy, ở trong từng ý nghĩ của mỗi con người.

Thời đại hôm nay, các ngành tâm lý học hoặc xã hội đương đại, ai cũng biết đến nguyên tắc chung “Thoughts become actions. Actions become habits. Habits become character. Character becomes destiny”. Tạm dịch là: “Ý nghĩ dẫn đến hành động. Hành động dẫn đến thói quen. Thói quen dẫn đến tính cách. Tính cách dẫn đến vận mạng”. Cá nhân cũng thế mà đất nước cũng vậy. Điều này thì rõ ràng quá, lại dễ dàng chứng minh, nên cũng chẳng ai tranh cãi gì nhiều. Có chăng là nhiều người lâu lâu vẫn còn tranh cãi ai là tác giả câu này. Người thì cho là của Lão Tử, người thì cho là của Gandhi, người thì bảo là của bà Thatcher. Thực ra người nào có đọc hoặc nghiên cứu về Yogacara (tên khác là Yogachara, Vijnanavada, Vijnaptimatra, Consciousness Only, Duy thức ....) thì những điều này đã được nói đến từ hơn 2500 năm trước rồi. 

Xin mở ngoặc chút, một số người xưa nay vẫn thường ngộ nhận quy chụp nhiều quy luật tự nhiên là của đức Phật tạo ra, hoặc là sở hữu của đạo Phật. Ví dụ như vô thường, nhân quả, hoặc đạo lý đang nói đến ở đây. Thực ra Đức Phật không phải là đấng tạo hoá, Ngài cũng không phải là Thượng đế như theo quan niệm ở một số tôn giáo khác. Cho nên những gì trong kinh sách mà Ngài đã giảng dạy truyền lại đều là những quan sát thực tế, trãi nghiệm và thực chứng dưới con mắt trí tuệ (prajna, wisdom) của một đấng giác ngộ, chứ Ngài không tạo ra những quy luật đó, và càng không muốn tranh giành công lao, lập thành tích, hoặc đăng ký sở hữu trí tuệ bản quyền :-).

Nói thêm chút, đạo Phật vốn cho rằng mọi thứ trên cuộc đời này đều xuất phát từ ý nghĩ (thoughts). Không những chỉ là số phận, mà cái tôi, cái tớ, cái "bố mày", cái chủ tịch, cái giám đốc, cái cu li, cái nô lệ, cái tự chủ, cái có, cái không, cái hạnh phúc, cái khổ đau....v.v.. nôm na đều bắt nguồn từ sự tương tác của thân và ý (body & mind) với môi trường chung quanh mà tạo thành. Ai muốn tìm hiểu sâu hơn thì mình nghĩ nên đọc tài liệu nói về 8 thức (consciousness), và 5 uẩn (skhandas). Còn đối với dân thường sửa máy tính như mình, thì đơn giản coi "body" như là phần cứng (hardware), coi "mind” như là phần mềm (software). Cho nên anh nào muốn thay đổi tư duy, thì kiếm phần mềm khác bỏ vào chạy thử xem sao :-).

Tuy nhiên nói vậy chứ không dễ chút nào. Mỗi người mỗi cảnh, mỗi quốc gia mỗi cách. Rất nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, hằng ngày nổ lực tìm kiếm và cổ vũ những tư duy sáng tạo, đề cao những lối suy nghĩ mới lạ. Bởi họ cho rằng đó là động lực chính để nâng cao giá trị đời sống con người, canh tân đất nước, cải tiến xã hội, thay đổi thế giới (changing the world). Những đứa trẻ đi học từ nhỏ đã được thầy cô, cha mẹ, khuyến khích nên suy nghĩ độc lập, tư duy rộng rãi, đa phương đa chiều, và luôn đeo đuổi giấc mơ "thay đổi thế giới". Thế nhưng bên cạnh đó, thì cũng còn một số quốc gia, giáo dục tư tưởng đi theo những khuôn mẫu nhất định, không dám phản biện lại hoặc đi theo lối khác. Thử hình dung nếu như sự đào tạo, tuyển chọn nhân sự, bao năm qua vẫn duy ý chí bằng một cách thức giống nhau, vẫn hồng hơn chuyên, vẫn hạt giống vẫn nguồn giống nhau, vẫn lựa chọn tư duy và cách nghĩ giống nhau, thì điều gì sẽ xảy ra? Tất nhiên là khó có thể mong đợi những đột phá về tư duy hoặc phương cách ứng xử khác biệt. Hãy nhìn vào hiện trạng thực tế của năng lực nhân sự ngày nay (nhất là qua đợt chống dịch vừa rồi) để có những nhận định cụ thể hơn. Thỉnh thoảng chắc cũng có những trường hợp ngoại lệ, nhưng đó là thiểu số rất ít.

Nhớ có lần ngồi nói chuyện với một người quen, anh ta nói mấy đứa nhân viên của anh bây giờ "phản động" lắm. Nghe nghiêm trọng quá, nhưng hỏi ra mới biết là mấy đứa trẻ có những tư duy mới mẻ, khác với lối suy nghĩ cổ xưa của các bậc trưởng bối. Mình góp ý với anh ta nên phân biệt được chữ "phản biện" và "phản động", không nên cứ nghe người ta nói bậy rồi nói theo, mà không hiểu được cái nghĩa của chữ "động" là gì. Rất nhiều trường hợp xưa nay vì không hiểu thấu vấn đề, hoặc thiển cận, hoặc sợ hãi mơ hồ, mà bóp chết nhiều tư tưởng và ý kiến cải cách có thể đem lại sự phồn thịnh cho quốc gia dân tộc. Ngày xưa thời phong kiến đã đành, ngày nay thời văn minh cũng không hiếm. Mình thì vốn nghĩ rằng một quốc gia có chính quyền, có quân đội, có quan to quan lớn, có luật pháp, sao lại sợ hãi một vài tư tưởng khác biệt ?  Chắc có lẽ chỉ là một vài cá nhân địa phương kém hiểu biết, hoặc chưa biết cách chấp nhận sự khác biệt, nên không xử dụng được cái hay cái mới của người khác thôi. Ngoài ra cũng có thể một số người ngộ nhận cho rằng phải có bằng này cấp nọ, hoặc con ông này cháu bà kia mới có khả năng suy nghĩ “đúng”. Buồn cười là những vị lãnh đạo quốc gia tên tuổi và thành công trên thế giới lâu nay, đại đa số chẳng có học vị cao, cũng chẳng ông nào có trình độ chính trị cao cấp trung cấp gì cả. Nhưng họ đều có điểm chung là suy nghĩ đúng và dám vì quốc gia hy sinh quyền lợi cá nhân !

Nói đến đây mình nhớ đến một câu chuyện thời Đức Phật còn tại thế. Hàng năm vào những mùa mưa lũ lớn, các tăng đoàn thường xin vào tá túc ở nhà dân vài ngày rồi đi tiếp. Lần đó, tăng đoàn xin trú chân tại một ngôi làng nhỏ. Sau khi tất cả mọi người sắp xếp được nơi trú ngụ, chỉ còn lại Ananda, đệ tử của đức Phật, và một ngôi nhà thổ của cô gái điếm trong làng. Mọi người trong đoàn đều cảm thấy bối rối và lo lắng, Ananda cũng vậy, bèn kéo nhau đến hỏi ý kiến đức Phật là có nên vào đó ở chăng ?

- Cô ta có mời ngươi vào ở không ? Đức Phật hỏi .

- Dạ có. Ananda trả lời .

- Vậy thì tại sao không ?

Nghe Đức Phật nói thế, cả tăng đoàn xôn xao, ồn ào thắc mắc tại sao đức Phật lại để cho đệ tử của Ngài, Ananda, vào nhà thổ ở dài ngày. Nhiều người cho rằng Ananda sẽ bị cô gái ấy (thế lực thù địch) dụ dỗ mất thôi. Nhưng Đức Phật từ tốn trả lời :

- “Ta đã khổ công tìm tòi học hỏi và thực chứng được con đường tu tập này. Ta cho rằng đây là phương pháp tối thượng để giúp các ngươi cùng chúng sanh tu tập, giác ngộ và thoát khỏi khổ đau. Nếu bây giờ cô gái đó có phương pháp còn hay hơn ta, có thể khiến Ananda bỏ pháp của ta mà đi theo cô ấy. Thì các ngươi cũng không nên theo ta nữa, mà nên đi theo cô ta. Bởi nếu các người thực sự là những người muốn tìm kiếm sự thật, cầu tiến, và luôn mong muốn đạt tới cảnh giới cao hơn của trí tuệ, thì hãy nên mạnh dạn đi theo những gì tốt đẹp hơn”.

Quả nhiên là vậy, xưa nay vẫn thế. Nếu ta đúng, ưu việt, thì ngại gì người bỏ ta đi. Còn nếu không, thì dẫu mọi cố gắng chiêu trò cũng gượng ép được bao lâu ? Mà nếu người không đủ khả năng phân biệt tốt xấu đúng sai, thì lo lắng có thay đổi được gì chăng ? Cả tăng đoàn lắng nghe theo Ngài, nhưng cũng còn nhiều bậc trí giả ấm ức, hậm hực. Một số người trong tăng đoàn vẫn không đồng ý để Ananda ở chung nhà với "thế lực thù địch", vì e sợ làm ảnh hưởng đến uy tín của họ, nên đã âm thầm theo dõi, để về báo cáo :-).

Khi đó, chiếc y của Ananda đã cũ, mỏng manh quá. Cô ấy may cho Ananada một tấm y mới bằng lụa quý, đắp lên người của Ngài. Mấy anh theo dõi nghĩ rằng "thôi rồi lượm ơi" !

Khi đó, mùa giá lạnh, cô ta nấu những chén cháo nóng dâng lên cho Ananda. Ngài Ananda ăn ngon lành, mấy anh theo dõi báo cáo "Ananda bị thế lực thù địch dụ dỗ rồi" !

Đêm đến, cô ta múa cho Ananda coi. Mấy anh theo dõi báo cáo "Ananda bị văn hoá đồi truỵ ảnh hưởng rồi" !

.... Và cứ thế, ngày nọ đến ngày kia, nhiều báo cáo “tối mật” đồn đãi trong tăng đoàn là Ananda đã bị thế lực thù địch âm mưu mua chuộc rồi. Cho đến cuối cùng, khi những ngày mưa gió qua đi, tăng đoàn tập trung lại để cùng với Đức Phật tiếp tục cuộc hành trình. Ananda cũng trở về với tăng đoàn, đi sau lưng Ngài là một vị ni sư mới, đó chính là cô gái điếm của "thế lực thù địch" :-).

Một câu chuyện đáng cho đời sau suy ngẫm, đặc biệt là những người luôn đặt sự nghi ngờ lên hàng đầu, và luôn quy chụp những gì khác biệt đối với cách nghĩ của bản thân. Mà cũng không phải chỉ có trong PG mới đề cập đến tầm quan trọng của tư duy và ý nghĩ (thoughts). Thực ra khi ngành tâm lý học bắt đầu hình thành và phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ 19, thiên hạ cũng đã tranh luận rất nhiều về những quan điểm này. Nhiều nhà tâm lý học đã lục lại những di sản quan trọng của Aristotle, Descartes, Jean-Jacques Rousseau ...để làm tiền đề cho các nghiên cứu thời bấy giờ. Một câu nói nổi tiếng của Descartes là "I Think Therefore I Am" cũng được nhắc đến thường xuyên, và mãi cho đến ngày hôm nay. Vào đầu thế kỷ 20, James Allen, có cho ra cuốn sách ngắn có tên là "As a Man Thinketh", nói đến sức mạnh thực sự về sự suy nghĩ của con người. Và nó đã nhanh chóng trở thành một tác phẩm đình đám thời bấy giờ. Tác phẩm có những điểm tương đồng rất hay giữa triết học hiện đại và PG cổ đại, đó là nghiệp lực, năng lượng, và hậu quả sinh ra bắt đầu từ trong ý niệm.

Lan man quá, giờ trở lại chuyện dịch bệnh ở quê nhà. Rất không may mắn, VN từ một đất nước tự hào về cách chống dịch giỏi nhất, nhưng chỉ một năm sau cũng với cách chống dịch đó, lại đưa đất nước VN, đặc biệt là SG, vào con đường bế tắc, rớt xuống cuối bảng xếp hạng của thế giới. Đại đa số các quan chức và giới hữu trách đã nổ lực hết sức của họ. Nhưng nổ lực nhất chưa hẳn là hiệu quả nhất. Nhiều sự hy sinh của các nhà hảo tâm, các bác sĩ, y tá, các lực lượng tuyến đầu đã làm rung động lòng người, nhưng kết quả thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhất định. Và mãi cho đến hôm nay, cả nước vẫn còn loay hoay giữa phương cách vừa sống chung với dịch vừa phục hồi kinh tế. Tất nhiên, chưa bao giờ ngoại lệ, và còn hơn bao giờ hết, VN cần những suy nghĩ tỉnh táo và đúng đắn để cứu dân cứu nước trong giai đoạn khó khăn này. 

Thiết nghĩ lối mòn suy nghĩ thường không phải là cách nghĩ dẫn ta ra khỏi lối mòn. Rất cần những tư duy mới, ý nghĩ mới, để có được cách làm mới hơn, hiệu quả hơn. Rất mong dịch bệnh chóng qua, đời sống người dân và xã hội trở lại an bình. Cũng mong VN ngày càng mạnh dạn thay đổi, từ cách bầu bán tuyển chọn nhân sự cho đến cách điều hành nhất quán, quan tâm hơn đến những suy nghĩ độc lập có chính kiến, cũng như tôn trọng hơn những ý kiến đóng góp chân chính, để góp phần tạo dựng đời sống xã hội an vui hơn, đất nước giàu mạnh hơn. Và tất nhiên là mọi hành động dẫn đến sự thay đổi lớn lao nào cũng đều bắt đầu bằng một cách nghĩ mới !

PN


Friday, September 17, 2021

Phiếm: Câu chuyện hai mũi tên !


Trong sách nhà Phật, có câu chuyện "2 mũi tên" kể về thời Đức Phật còn tại thế. Một ngày kia, có người đến xin Ngài dạy dỗ cách nào để vượt qua nỗi đau khổ tuyệt vọng của anh ta, rồi kể lể ra nhiều tình tiết dông dài. Cuối cùng đức Phật giải thích cho anh ta rằng, sự đau khổ của con người giống như bị 2 mũi tên bắn vào cùng một chỗ. Mũi thứ nhất bắn vào tất nhiên là bị đau (pain), nhưng mũi thứ 2 càng làm cho đau đớn hơn, đó là khổ (suffering). Trong cuộc sống hàng ngày, thông thường chúng ta khó có thể tránh được mũi tên thứ nhất, vì nó tạo ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể liên quan đến nghiệp lực mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ. Ví dụ như bị mất đi người thân yêu, bị thất bại, mắc bịnh nan y, tuổi già, bị tai nạn, bị vu oan giá họa, bị covid ...v.v.. và chúng ta phải chịu đựng những nỗi đau đó. Còn mũi tên thứ 2, chính là những phản ứng (reaction) và thái độ của chúng ta đối với mũi tên thứ nhất, ví dụ như than thân trách phận, so sánh, tiếc nuối, phán xét, đổ thừa đổ lỗi, giận dữ, căm ghét, hận thù, hổ thẹn...v.v...Chính những điều này mới làm cho con người phiền não khổ lụy hơn. Mũi tên thứ nhất, thường là không tránh được vì chúng ta không hề làm chủ được nó, nhưng mũi tên thứ hai thì con người hoàn toàn có khả năng tránh được !

Câu chuyện này rất nổi tiếng và được nhắc đến rộng rãi lâu nay, đặc biệt là ở các nước Tây phương trong các lãnh vực trị liệu tâm lý (y khoa), therapy, hoặc giáo dục, văn hoá, nguyên tắc ứng xử, tư duy logic ..v.v... 

Tất nhiên khi nghe đến câu chuyện này thì ai cũng hiểu là đức Phật muốn nói đến cái "thọ", cái "tưởng", cái “hành”, cái "thức"…sự cảm nhận và trạng thái ứng xử xuất phát từ bên trong của mỗi con người trước những biến cố thay đổi chung quanh. Tuy nhiên, riêng đối với mình thì nhận thấy câu chuyện này cũng có thể được hiểu theo nghĩa đen đơn giản của nó, và là bài học đáng quý cho những vấn đề đất nước xã hội.

Như xưa nay nhìn lại bản thân, gia đình, và đất nước thì có biết bao nhiêu câu chuyện để nói, dài như những thước phim nhiều tập của quê nhà. Thực ra thì trong cuộc sống ai cũng có những kinh nghiệm bản thân, hạnh phúc hoặc khổ đau, dù ít hay nhiều, mắt thấy tai nghe những biến cố đã từng xảy ra chung quanh. Nên ai cũng có thể tự suy gẫm, "ôn cố tri tân", và tự rút ra kết luận cho riêng mình. Từ chuyện chiến tranh cho đến hậu chiến tranh. Từ chuyện "dùng người" cho đến "không dùng người". Từ chuyện thời bao cấp cho đến thời đổi mới. Từ chuyện nói và làm, từ chuyện hứa hẹn và thực hiện, từ chuyện lý thuyết đến thực hành, từ chuyện đày tớ đến ông chủ, từ chuyện "hồng" đến "chuyên" ..v.v.. Và mới đây nhất là chuyện chống dịch covid 19. Thực ra nói bao nhiêu cho hết, mà nói cũng bằng thừa, vì thời gian và thực tế đã quá dư đủ cho bất cứ ai để hiểu nhau và tin nhau (nếu có). Mình thì vốn không hề có ý đổ thừa đổ lỗi cho ai, vì đổ thừa đổ lỗi cũng là mũi tên thứ 2 :-). Tuy nhiên trong cuộc sống này, thiết nghĩ cho dù ở bất kỳ quốc gia nào, nếu như chúng ta không nhận ra được nguyên nhân của những sai phạm đã từng xảy ra trong quá khứ và hiện tại, thì nói gì cho đến tương lai? Đặc biệt là những sai phạm đó đều có cùng những tính chất giống nhau, nghịch lý giống nhau, và lập đi lập lại dai dẳng giống nhau. Cứ rút kinh nghiệm, cứ cảnh cáo, cứ kiểm điểm, cứ xin lỗi, cứ doạ nạt, cứ hình thức, rồi lại cứ tiếp diễn những quy trình sai phạm như cũ, thì khác nào bắn hàng trăm hàng ngàn mũi tên vào cũng một chỗ, chứ sá gì chỉ có 2 mũi tên !

Xin nói chút về chuyện chống dịch ở quê nhà. VN ta từ lúc tự hào chống dịch giỏi nhất thế giới đến lúc bị đánh giá xuống hàng thấp nhất, là cả một quá trình dài đầy nổ lực và kịch tính, làm sao kể hết. Ở đó, có biết bao nhiêu sự hy sinh cao quý của những nhân viên y tế, bác sĩ y tá, cán bộ công nhân viên tuyến đầu, đồng bào đồng hương trong và ngoài nước, đã tương trợ giúp đỡ nhau, ngày đêm cùng nhau đối đầu dịch bệnh. Nhiều người đã ngã xuống, đã hy sinh cả tính mạng, gia đình, tài sản, ước mơ, để góp sức cứu nguy giúp đỡ đồng bào đồng loại trong cơn khốn khó. Quả nhiên không thể nào tỏ bày đầy đủ hết được lòng biết ơn đối với sự hy sinh của họ. Xưa nay mỗi lúc trãi qua những biến cố to lớn như vậy, quốc gia nào cũng đều bộc lộ rõ nét điểm mạnh và yếu của đất nước họ, VN cũng không ngoại lệ. Điểm mạnh lớn nhất của đất nước VN là tình người, sự chia xẻ và đồng cảm của người dân với nhau, đặc biệt là những người đã từng có cùng hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói. Rất cảm động và trân quý !

Bên cạnh đó thì cũng phải hoan hô sự nhiệt tình đóng góp sức lực và tư duy “chống giặc” của chính quyền trong sự nghiệp chống dịch lần này. Nhiều vị chỉ trong một thời gian ngắn mà tiều tụy hẳn ra, không còn được dáng vẻ đầy đặn như xưa. Hôm trước có người bạn quen nói với mình là "chính quyền đã cố gắng hết mức". Mình cũng đồng ý như vậy, và rất trân trọng những sự cố gắng đó. Tuy nhiên trên thực tế thì nhiều khi dẫu "cố gắng hết mức" cũng chưa chắc đạt được kết quả mong muốn và hiệu quả cao nhất. Bởi lẽ cái "mức" của mỗi người khác nhau, vả lại còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau nữa. Người Tây phương cũng quan niệm "work hard" khác với "work smart". Cho nên sự duy ý chí trong nhiều trường hợp rất cần thiết phải được thay đổi, cần mở lòng và khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm của những quốc gia đi trước, đặc biệt là những nước có kinh nghiệm khống chế dịch bệnh thành công. Đó cũng là một trong những cách làm hiệu quả. Nhớ trong Tạp chí Tuyên giáo VN từng trích câu nói của Lê Nin "Lòng nhiệt tình cộng với sự ngu dốt bằng sự phá hoại”. Tất nhiên thời nay không còn ai "ngu dốt" như thời ông ấy nữa rồi, nhưng có lẽ câu nói này cũng còn có một giá trị nhất định nào đó nên vẫn được nhắc lại chăng ?

Theo thiển ý của mình thì mỗi quốc gia đều có những phương cách ứng xử với dịch bệnh khác nhau tuỳ vào điều kiện của đất nước họ. Mỗi giai đoạn mỗi tình huống, đều có những thay đổi khác nhau để cho phù hợp. Tất nhiên có cách làm đúng thì cũng có cách làm sai, và kết quả cuối cùng bao giờ cũng là thước đo trung thực nhất cho những cách làm đó. Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, cũng từng có những sai phạm nghiêm trọng buổi ban đầu, nhưng họ nhanh chóng học hỏi kinh nghiệm và thay đổi để tốt hơn. Đâu ai tuyệt đối bao giờ, đặc biệt là trong lúc phải đối đầu với cơn đại dịch thế kỷ như lần này. Cho nên chưa hề thấy quốc gia nào lại duy ý chí, khư khư giữ lấy những cách làm đầy nghịch lý và sai trái trong thời gian dài mà không thay đổi, bởi hậu quả khó lường !

Nhiều người mỗi khi thấy những ứng xử lạ thường hoặc việc làm trái cách ở một số quốc gia, thường thắc mắc về năng lực  nhân sự của nước này nước kia. Mình thì quan niệm rằng ở đâu cũng có những người tài giỏi đức độ. Suy cho cùng cho dù sinh ra và lớn lên ở bất kỳ quốc gia nào, thì những giá trị chuẩn mực của xã hội như đạo đức, tư duy, kiến thức, và kinh nghiệm, đều luôn được tôn trọng. Tuy nhiên nếu như nguyên tắc tuyển chọn nhân sự ở quốc gia đó không tôn trọng những chuẩn mực chung, cũng không dựa vào bầu cử công khai của dân, mà chỉ bố trí sắp đặt dựa vào một vài tiêu chí “đặc biệt”, thì giá trị của tư duy, của khoa học, của kinh nghiệm, của chuyên môn, của sự cầu thị, của sự khiêm tốn....đều trở thành vô nghĩa. Tất nhiên mỗi người đều có một khả năng nhất định nào đó, nhưng trong công việc thì chắc chắn có người này phù hợp hơn người kia. Nhìn lại lịch sử dân tộc VN, thì xưa nay chưa bao giờ thiếu người tài giỏi và hiền đức, chỉ là cần phải có cách chọn lựa và bầu bán như thế nào cho công bằng hợp lý thôi !

Nhân nói đến chuyện người "người tài giỏi", mới tối qua đọc mấy bài báo nói về kế hoạch sắp tới của SG, sống chung với dịch và khôi phục kinh tế như thế nào. Mình thấy tên các vị chuyên gia quen quen, lục lại báo cũ ra coi, thì ra cũng là mấy vị cách đây mấy tháng đã phân tích và dự đóan "dịch ở SG sẽ nhẹ thôi, mấy con covid sẽ sớm khăn gói ra đi trong tháng 8". Thoáng nghĩ qua không biết thân nhân của hơn chục ngàn người chết và bạn bè anh em của họ, cũng như bao nhiêu người công nhân, nông dân, dân nghèo, lao động đường phố đang vất vưởng mong cầu sự sống mỗi ngày, có cảm nhận được dịch bệnh lần này là "nhẹ" không ? Mình thì nghĩ rằng đại dịch cúm Vũ Hán chính là “mũi tên thứ nhất” đã bắn vào đất nước VN, không thể tránh né được. Phần quan trọng còn lại là mũi tên thứ 2, đang nằm trong tay của con người VN, đặc biệt là giới lãnh đạo điều hành đất nước hôm nay. Cho nên hơn bao giờ hết, người dân cả nước ai ai cũng mong muốn được thấy “đúng người đúng việc” phen này !

Chợt nhớ đến câu chuyện tiếu lâm đã được nghe lâu rồi. Có anh VK áo vest về làng, phải đi qua một con sông. Ngồi trên ghe rãnh rỗi, đang thưởng thức trời mây non nước, bỗng hỏi anh chèo đò :

- Anh có biết gì về khoa học không ?

- Dạ thưa không. Người chèo đò ngạc nhiên trả lời.

- Vậy anh đã mất đi 30% cuộc đời. Thế anh có biết gì về âm nhạc nghệ thuật không ?

- Dạ cũng không ! 

- Vậy là anh lại đánh mất thêm 30% phần trăm nữa của cuộc đời. Chắc là anh biết qua chính trị thời sự chứ ?

- Dạ cũng không. Em chỉ biết chèo đò mỗi ngày.

- Vậy thì phí phạm quá. Coi như anh mất cả 90% cuộc đời rồi.

Lúc đó trời đang có cơn giông, sóng gió hơi lớn. Anh lái đò thật thà hỏi anh "trí thức" VK:

- Dạ thưa anh biết bơi không ?

- Không 

- Thế thì anh sắp mất hết cả cuộc đời rồi !

Đó là chuyện tiếu lâm, nhưng trong cuộc sống hàng ngày thì cũng không hiếm những câu chuyện khôi hài như thế. Dĩ nhiên kiến thức phải được xử dụng đúng lúc đúng nơi mới phát huy hết vai trò của nó. Nhưng ngay cả bên Tây bên Mỹ cũng không hiếm cảnh lấy râu ông kia cắm cằm bà nọ. Ví dụ như mấy đài tin tức cây nhà lá vườn, hết người, nhờ mấy ông ts gs chuyên môn kỹ thuật mà đi phân tích chuyện chính trị chính em, cũng là chuyện thường. Bên VN thì càng không hiếm trường hợp mời các ông nghè ngành nghề không liên quan ra làm cố vấn chuyên môn, cứ có danh xưng là được. Ví dụ như hành chánh, kinh tế, giáo dục, ra làm tư vấn chống dịch, rượt đuổi F0, F1. Mà cũng thật là bất công, khi đoán đúng thì hoan hô, đóan sai lại phê phán người ta "ếch nằm đáy giếng". Chắc gì là lỗi của họ, biết đâu chính sự tung hô quá trớn của đám đông đã làm cho nhiều người bị ảo giác đa năng ? Nhớ hồi còn nhỏ ở dưới quê, bạn bè tụi mình đi thả trâu, chăn vịt. Đứa nào cũng biết là cách rượt bắt vài con vịt lẻ bầy chạy lạc khác xa với chuyện rượt đuổi vài trăm con sổng chuồng chạy rông. Mà đó chỉ là chuyện nhỏ nhặt vịt gà, huống hồ chuyện đại sự dịch bệnh mạng người, đâu phải chuyện đùa !

Cũng là chuyện mới hôm qua, ngồi coi những tấm hình và clip ngắn mùa dịch SG mà ai đó đã đăng trên mạng. Nào là, cả xóm đem thau ra để trước nhà, nào là những bà mẹ bò lết chui qua những hàng rào tấm chắn với túi đồ ăn rách nát, nào là người mẹ ngồi canh con ngủ trong ống cống, nào là những người y tá bác sĩ lả người nằm bệt xuống sàn, nào là những đứa bé mồ côi ngơ ngác sụt sùi, nào là những đứa con quỳ lạy trên vỉa hè đưa tiễn người thân.... Thế rồi lại vô tình nhìn thấy cái cơ ngơi chôn cất của một vị cựu quan chức vừa mới qua đời ở VN. Thực ra, mình cũng thuộc loại may mắn đi qua nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới, nhưng chưa từng được thấy ở đất nước nào lại có những miếng đất chôn cất, hoặc lăng tẩm mồ mả của quan chức to lớn đến như thế. Bỗng nghĩ đến bao nhiêu người ngoài kia còn đang chờ đợi từng đồng trợ cấp, thuốc men, miếng sống mỗi ngày. Nghĩ đến nhiều vị quan chức dãi dầu đường xa vạn dặm "ngoại giao" từng mũi thuốc ngừa. Nghĩ đến còn bao nhiêu người dân vô tội sắp sửa ra đi ? … Chạnh lòng ! 

Rồi ngồi đó thẩn thờ cả lúc, mà cũng không biết mũi tên nào đã bắn trúng tim mình ? Thôi, chúc mọi người luôn may mắn và một cuối tuần bình an. Cầu mong dịch bệnh chóng qua, nước nhà sớm an lành.

PN 




Saturday, September 11, 2021

Phiếm: Con đường tơ lụa và chiếc chiếu rách của Ngài Huyền Trang !

 


Xưa nay nếu có ai hỏi mình nhân vật nào vĩ đại nhất của TQ, thì mình sẽ không chút đắn đo nói ngay rằng đó là Ngài Huyền Trang (Xuanzang). Quả nhiên đối với mình nhân vật lịch sử đáng kính nhất của TQ chẳng phải là Lưu Bang, Lý Thế Dân, Chu nguyên Chương, Hạng Võ, Tần Thuỷ Hoàng .....càng không phải là Mao Trạch đông, Đặng tiểu bình, mà là nhà sư Tam Tạng. Nhân hôm nay nhắc đến chuyện "con đường tơ lụa" của TQ, lại nghĩ đến Ngài. 

Trước hết phải nhắc sơ qua về con đường tơ lụa (Silk Road) để nhiều người tiện theo dõi. "Con đường tơ lụa" (Silk Road) của TQ đuợc cho rằng đã có từ thời nhà Hán, người TQ tạo ra như những con đường mòn để đem tơ lụa và các hàng hoá khác qua bán cho các nước, chủ yếu là Trung Đông và Châu Âu. Những con đường mòn này ngày càng được mở rộng và dài hơn. Từ sau thế kỷ 12,13 trở đi các nhà thám hiểu châu Âu cũng đã sử dụng Silk Road để trao đổi hàng hoá ngược lại với TQ. Rồi đến thời kỳ cận đại, khi các phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ thì vai trò của những con đường đó không còn quan trọng nữa. Thế nhưng trong những năm gần đây, thì nhà cầm quyền TQ lại rầm rộ đưa ra những chiến thuật và kế hoạch đầy tham vọng "một vành đai một con đường", với dụng ý thiết lập hệ thống thuỷ bộ bao trùm cả thế giới, dựa theo lý thuyết của con đường tơ lụa ngày xưa. Nhiều kế hoạch đã được triển khai như xây dựng tuyến xe lửa tốc hành kết nối đa quốc gia, ngang ngược cưỡng chiếm vùng biển của các nước nhỏ, thiết lập bẫy nợ ở các nước nghèo, vay mướn đặc khu kinh tế trên các trục lộ trọng điểm .... v.v.. Bởi vậy gần đây có nhiều thuyết âm mưu cho rằng TQ đã gây ra dịch bệnh covid tạo ra suy thoái kinh tế thế giới, rồi dùng "ngoại giao thuốc ngừa", "cây gậy và si-rô", hoặc "âm mưu ràng buộc" để khống chế các nước khác, thực hiện mưu đồ bá chủ. Tuy nhiên thuyết âm mưu thì vẫn chỉ là "thuyết" thôi, không nên tin hết cho đến khi có bằng chứng hẳn hoi. Và tất nhiên là để tìm được bằng chứng ở TQ thì cũng không đơn giản chút nào. Ví dụ như đợt dịch vừa qua, gần cả năm sau, đợi dọn dẹp xong hết, mới cho phái đoàn thế giới vô Vũ Hán, thì cho dù có mời mấy nhà ngoại cảm VN qua cũng phải đành chịu thua. Ráng đợi thôi :-) !

Trở lại câu chuyện của Ngài Huyền Trang. Thực ra, do ông Ngô Thừa Ân viết truyện Tây Du Ký quá hay, nên đã xây dựng nên một hình ảnh của nhà sư Tam Tạng hoàn toàn khác với thực tế. Viết truyện hay đến nỗi mà nhiều người cứ tin rằng Tây Du Ký là có thực. Nhớ mấy năm trước có ông quan chức gì ở Quảng Nam Đà Nẵng còn tưởng rằng núi Non Nước Ngũ Hành Sơn là chỗ Phật tổ nhốt Tề thiên năm xưa, nên kêu gọi đầu tư xây dựng du lịch về "vùng đất vàng" đó. Tất nhiên thực tế thì không phải vậy, cũng chẳng có vua Đường nào mà kêu ngự đệ đi thỉnh kinh rồi cho cái bát vàng và tấm y quý giá đem theo làm của. Cũng chẳng có ma nữ nào mà thèm thịt của nhà tu hành Tam tạng, và cũng chẳng có Tề thiên, Trư bát giới nào đi theo. Lại càng không có vụ Đường Tăng phải hối lộ cái bình bát bằng vàng nơi đất Phật để đổi lấy kinh Phật. Nhưng ngẫm lại thì đôi khi những sự hiểu lầm cũng có cái hay riêng của nó :-) .

Trên thực tế thì Ngài Huyền Trang cũng chỉ là con nhà lương dân bình thường ở TQ vào thời Tuỳ/Đường. Trước Ngài Huyền Trang cũng có nhiều bậc tu hành khác từng đi qua Ấn độ để học Phật, như nhà sư Pháp Hiển (Faxian) rất nổi tiếng. Nhưng khi Ngài Huyền Trang tu học, thì thấy trong kinh sách thời đó có nhiều mâu thuẩn nghịch lý, nên Ngài quyết chí ra đi học hỏi cứu nước cứu dân. (Cứu nước ở đây không phải là để đánh nhau, mà để đem kinh sách về dạy dỗ cho người dân hiểu đúng, tu đúng, chung sống hiền hoà hạnh phúc, tạo phúc cho đất nước dân tộc). Thời đó Đường thái Tông mới giành được nước từ nhà Tuỳ nên còn nhiều luật lệ cấm đoán, ngăn sông cấm chợ. Ngài Huyền Trang phải trốn đi vượt biên theo con đường tơ lụa để sang Ấn độ học Phật. Thời gian đi và về tốn hết 7,8 năm trên đường bộ giữa Ấn-Trung. Còn lại 10 năm ở trên đất Ấn, Ngài vừa học ngôn ngữ, vừa học đạo pháp, và sau đó đi dạy ở đại học PG Nalanda. Tính ra, ngài Huyền Trang chỉ cần 10 năm có thể học và hiểu thấu những ngôn ngữ tiếng Phạn (Pali, Sanskrit..) và những đạo lý kinh điển PG sâu sắc đến mức như vậy. Ngài có thể sáng lập ra Pháp Tướng tông, và sau đó khi trở về nước, dịch ra rất nhiều tạng kinh điển giá trị của PG Bắc tông, từ Đại Niết bàn cho tới Bát Nhã Ba La Mật, từ Duy Thức tông cho đến Tịnh độ đông ..v.v..Ngài thông hiểu cả 3 phần quan trọng nhất của kinh sách PG (Kinh tạng, Luật tạng, Luận Tạng), nên thiên hạ gọi ngài là Tam Tạng chứ không phải là do ăn được thịt Ngài thì trường sanh bất tử :-). Nhờ vậy mà còn có nhiều tạng kinh điển giá trị được lưu truyền cho nhân loại đến ngày hôm nay, trong đó có PG VN. Tất nhiên là để dịch giải được bao nhiêu kinh sách đó trong một thời gian hữu hạn thì cũng không thể tránh được những khó khăn và hạn chế nhất định.

Mà nói tới đây mình cũng cảm thấy hổ thẹn. Ngài chỉ có 10 năm mà làm ra bao nhiêu thành tựu vĩ đại cho thiên hạ. Còn kẻ phàm phu như mình ra nước ngoài đã mấy chục năm nay, tiếng Anh tiếng U còn chưa rành, chỉ quanh quẩn mấy chuyện cơm áo gạo tiền, mà cũng chưa xong. Hơn thua nhau cái đài cái xe, cái phone, chai rượu, món này món kia, ăn nhà hàng này ghé quán ăn nọ, so đo chuyện làm mướn làm thuê cho hãng này hãng khác, hết đời mình đến đời con ....lẩn quẩn. Ngồi nhậu chút, khoe tới khoe lui, uống nhiều uống ít, hơn thua chuyện tào lao, rồi cãi nhau chí choé. Chính trị, chính em thì cứ như những người mù sờ voi, sờ đưọc khúc đầu chê người khúc đuôi, cả ngày chính sự ra rả, mà không thay đổi được điều gì. Thậm chí có nhiều ông mình quen đã mấy chục năm nay mà sự nghiệp chửi vẫn còn chưa xong. Làm hết chức chủ tịch, qua đến chức hội trưởng, xuống chức hội phó, lớn tuổi trở lại chức hội viên, rồi ra đi trong nuối tiếc. Ước mơ "to tát" vẫn còn nguyên một gói chưa kịp mở ra. Đó là chuyện ngoài nước, còn trong nước thì cũng nhiều thứ lòng vòng hơn. Như hiện nay chuyện dịch bệnh thì đã mấy tháng nghĩ bàn đủ chiêu đủ kế, chống dịch như chống giặc, mà giặc thì còn chưa biết mặt mũi ra sao, người thân quen thì cứ chết rụng rơi mỗi ngày. Bằng này cấp nọ, chữ nghĩa một bụng, cũng chỉ để chê nhau, hơn thua là chính. Nói ra thì lắm người buồn. Bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Lý Bạch ngày xưa mà nhà thơ Tản Đà đã dịch lại:

....
Do lai chinh chiến địa,
Bất kiến hữu nhân hoàn.
Thú khách vọng biên sắc,
Tư quy đa khổ nhan,
Cao lâu đương thử dạ,
Thán tức vị ưng nhàn.

Phỏng dịch:
...
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà,
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đến nay than thở ắt là chưa nguôi !

Mà ngẫm nghĩ lại thì quả nhiên lịch sử cũng có nhiều chuyện thú vị. Lâu nay người TQ rất tự hào về vua Đường Thái Tông, khen nhà Đường thịnh, biết trọng nhân tài, thông hiểu đạo pháp. Nhưng mình nhớ là khi Ngài Tam tạng về lại TQ, ông vua Đường hỏi Ngài có muốn làm quan không, đem chức quan ra mà ban thưởng. Mình thì không nghĩ Đường Thái Tông thông hiểu đạo pháp khi xách chức quan ra chiêu mộ Ngài Huyền Trang. May là hồi đó chưa có quốc hội, chứ có dám cho Ngài Huyền Trang làm đại biểu quốc hội luôn rồi :-).

Trong truyện của Ngô Thừa Ân, thấy ông không chú trọng đến đường về của Ngài Huyền Trang. Đó cũng là thắc mắc của mình. Có lẽ NTA cho rằng khi Đường Tăng thỉnh được kinh sách là viên mãn rồi, mission accomplished. Hoặc là đoạn đường về không còn bị kiếp nạn nữa chăng ? 

Mình thì có suy nghĩ khác, cho rằng đoạn đường về mới là quan trọng. Nếu không thì cũng tương tự như ráng cho dữ vào, cực khổ để kiếm được cái bằng, rồi chỉ để được lên chức, để in cạc visit, để đi ăn giỗ hoặc họp lớp, giới thiệu chút rồi xong, thì quả nhiên uổng phí. Cũng như làm quan, chiêu này chiêu kia leo lên được chức này chức nọ rồi chỉ để ký giấy và đi họp thì cũng uổng. Bởi ăn thua là có làm gì được cho dân cho nước, mới là quan trọng. Tất nhiên là Ngài Huyền Trang đã không chọn con đường về dễ dàng như vậy. Ngài đã từ chối những ân huệ và sủng ái đoàn tuỳ tùng tiền hô hậu ủng của vua Harsha ban cho, mà chọn đi về bằng một "con đường tơ lụa" khác, để có cơ hội giảng giải những điều đã học được cho nhiều người khác biết, cũng như giúp khám phá ra những lối đi mới. Thời đó trên những con đường tơ lụa này, biết bao nhiêu thương nhân đã bỏ mạng, ra đi không có ngày về. Nên kinh nghiệm và kiến thức càng là những điều cần thiết. Và chắc chắn sự chọn lựa này của Ngài không thể sánh bàn với những chuyện phàm phu như áo gấm về làng, tiền bạc, chức sắc bổng lộc, danh xưng vô nghĩa, hoặc vài ngôi chùa to chùa lớn. Tuy nhiên, mình vẫn có chút thắc mắc là thời đó Ngài có nghĩ ra được những kẻ hậu bối có thể lạm dụng con đường đó để làm ra những chuyện xấu xa trong tương lai chăng ? Nói vậy thôi, chứ đương nhiên là sự vật vô tội, con đường vô tội, biển đảo vô tội, chỉ là do bị con người lợi dụng thôi !

Nói đến chuyện những ngày cuối đời của Ngài, Ngài Huyền Trang căn dặn người thân chung quanh gói ông trong chiếc chiếu nhỏ, rồi đem chôn chỗ nào xa xa, vắng vẻ, đừng để thiên hạ bị ô uế mùi hôi. Nhưng tất nhiên là mấy ông vua quan, và hàng ngàn Phật tử đạo hữu, đâu dễ gì để Ngài yên ổn và toại nguyện như vậy. Chắc hẳn cũng là cờ xí rình rang cho xứng tầm. Nhưng thực ra với những bậc trí huệ như Ngài Huyền Trang thì có lẽ chiếc chiếu rách hoặc nghi lễ quốc tang cũng giống nhau, bởi đó chỉ là công cụ chôn cất. Cái còn lại của Ngài chính là những kiến thức và phẩm hạnh cho nhân loại hôm nay và mai sau, còn nghi lễ quốc táng hay cư tang rình rang, thì thiên hạ này cũng đã quên đi từ lâu lắm rồi. Ngày nay bên Nalanda Ấn độ vẫn còn khu tưởng niệm của Ngài (Xuanzang Memorial Hall), nhưng không biết TQ có ngày nào để tưởng niệm Ngài không ? Một kẻ độc tài tham vọng như Mao Trạch Đông, từng đưa ra quốc sách giết chết 45 triệu người TQ trong thời kỳ Great Leap Forward (Đại nhảy vọt/Bước quá độ); buộc 2 triệu người tự sát và bị giết, 20 triệu người bị cuỡng bức bắt bớ, và hàng trăm triệu người đói khát trong cuộc Cách mạng Văn hoá (Cultural Revolution); lại có ngày tưởng niệm to lớn. Trong khi đó một người truyền bá tư tưởng hoà bình, dịch giải đạo pháp đem lại sự giải thoát, sự an lạc và hạnh phúc cho nhân loại như Ngài Huyền Trang, mà lại không có ngày để người dân TQ ghi nhớ, thì quả là nghịch lý !

PN





Saturday, July 24, 2021

Tản mạn về dịch thuật kinh sách

 


Nói đến chuyện dịch thuật, mình nghĩ một trong những lãnh vực khó nhất là dịch kinh sách. Tôn giáo nào cũng thế, cho nên ngày xưa nhiều nhà truyền giáo phải ráng học cho rành rẽ tiếng địa phương. Thậm chí nhiều vị còn góp phần tạo ra hoặc hoàn chỉnh một số ngôn ngữ để dễ dàng diễn giải hơn. Trong tiếng Anh có cụm từ "Lost in Translation" mang tính hài hước để nói đến sự sai lệch ý nghĩa trong dịch thuật, dịch gà ra cuốc. Nhưng đó chỉ là nói đến chuyện thông dịch, thông ngôn hàng ngày. Dịch kinh sách còn khó hơn nhiều, vì để dịch được sát nghĩa, người dịch phải hiểu đúng ý nghĩa bao hàm của từ ngừ đó. Nếu không rất dễ gây ra ngộ nhận, và dẫn đến nhiều hệ lụy phiền phức. Đó là còn chưa nói đến nhiều người vô tình hoặc cố ý lợi dụng sự lệch lạc trong dịch thuật, dẫn dắt bản thân họ và người khác vào con đường mê tín, dị đoan.

Ví dụ như câu kinh 6 âm trong PG (The Six syllables) "Om Mani Padme Hum", rất ngắn gọn và sâu sắc, tán dương khả năng tự tỉnh thức và tự giác ngộ của tất cả chúng sinh như đóa sen vượt lên từ chốn bùn dơ. Câu kinh còn mang hàm ý sâu sắc hơn là không nên tìm kiếm "ông Phật" ở bên ngoài, mà là từ “Phật tánh” sẵn có bên trong. (Mỗi chữ Om, Mani, Padme, Hum đều mang hàm ý sâu sắc khác nhau. Có rất nhiều tài liệu về câu kinh này từ nhiều ngôn ngữ khác nhau kể cả tiếng Việt trên mạng, nếu ai muốn tìm hiểu).

Thế nhưng phiên âm (chứ không phải phiên dịch) tới lui một hồi, sao lại thành ra câu tiếng Việt "Án ma ni bát rị hồng". Rồi một số ông thầy bùa, thầy chú, thầy cúng, thầy làng, bắt ma bắt hồn, oan gia trái chủ ...lại đem ra xử dụng với đầy màu sắc mê tín !

Giờ trở lại câu chuyện chữ "Bát Nhã" trong kinh sách nhà Phật. Lâu nay ai ở VN cũng ít nhiều nghe qua chữ này, đặc biệt là những người có đọc qua kinh sách PG hoặc có đi chùa chiền. Thỉnh thoảng mình còn thấy mấy ông làm thơ, viết truyện, và cả mấy ông "nhậu sĩ", đem "Bát Nhã" lên thớt của họ hoặc cho vào quán nhậu để mổ xẻ nữa, nên chắc chữ này thì cũng không lạ lẫm gì với nhiều người VN.

Thực ra chữ Bát Nhã có nguồn gốc từ tiếng Phạn, đó là chữ Prajna, được kết hợp bởi 2 chữ Pra- và -jna. Để giải thích chi tiết của 2 từ này thì hơi dài và trừu tượng. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trên mạng nhé. Theo Wiki thì "Prajna" được nói đến như thế này (is used to refer to the highest and purest form of wisdom, intelligence and understanding. Prajna is the state of wisdom which is higher than the knowledge obtained by reasoning and inference). Nôm na là một trạng thái trí tuệ cao nhất bao gồm nhiều góc cạnh khác nhau, vượt qua các ngưỡng cửa của sự thông minh, hiểu biết, và kiến thức thông thường. Ví dụ như trí tuệ của một ông giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, na sa na séo, ha va ha viếc, chủ tịch, giám đốc, nhà phát minh ra đèn đom đóm, keo dính chuột..v.v.. đều là nhừng kiến thức chuyên môn, trí óc thông minh, kiến thức rộng rãi, nhưng đó không phải là trí tuệ "bát nhã". Bởi thế để dịch được chữ "Prajna" ra một ngôn ngữ khác cho đúng nghĩa thì quả là vô vàn khó khăn, mà có khi chẳng bao giờ diễn đạt cho trọn vẹn, thế nào cũng thiếu đầu thiếu đuôi. Thực tế là trong cuộc sống có những từ ngữ chỉ hiểu, “ngộ”, nhưng rất khó diễn đạt. Đặc biệt là trong các lãnh vực triết học, tôn giáo,  hoặc tâm linh. Cho nên các Ngài ngày xưa đã để nguyên chữ "Prajna" không dịch. Khi những tạng kinh này đến Trung quốc, cũng chỉ phiên âm ra tiếng địa phương na ná như “Pra-jna”, rồi qua đến Việt Nam thì trở thành “bát nhã" như ngày hôm nay.

Rồi cũng chính vì ý nghĩa bao la của chữ "bát nhã", mà lôi cuốn không biết bao nhiêu vị tu sĩ, triết gia, trí thức, nhân sĩ  ...vào cuộc, tìm tòi, mổ xẻ, phân tích ra nhiều tầng, nhiều lớp khác nhau. Cuối cùng có nhiều người bị lạc vô cái mê hồn trận chữ nghĩa đó, thành ra vô tình đi ngược lại với cái mục đích giải thoát mà họ đã tìm kiếm ban đầu. Tất nhiên cũng không hiếm những người hiểu biết và nhận ra được giá trị cốt lõi của cuộc sống và sự giác ngộ, nên lựa chọn con đường đi riêng cho họ. Bên cạnh đó, cũng có nhiều người tuy nhận thức được vấn đề, nhưng lại bị những hệ lụy chằng chịt trong cuộc sống, những rào cản trói buộc của đời thường, nghiệp cơm áo gạo tiền quá nặng, hoặc tham vọng thành tựu quá lớn, mà không thoát ra nỗi. Rồi cuộc sống ngắn ngủi chóng qua đi, tháng ngày cứ quanh quẩn với những trách nhiệm và “thành tựu”, đầy rẫy những vướng mắc. Vướng vào hình thức thay vì nội dung, vướng vào lý thuyết suông thay vì thực hành, vướng vào ảo tưởng thay vì thực chứng, ráng kiếm thêm cho nặng chứ không phải bỏ đi cho nhẹ, ráng hiểu biết để hơn thua chứ không phải để nhẫn nhịn …v.v. Ham muốn (desires) và gắn bó (attachments) ngày càng nhiều, đời này chưa hết đã muốn lôi kéo đời khác. Cho nên cuối cùng là thuyền "bát nhã" của họ cứ quay vòng vòng trong bờ, hết xăng bao nhiêu lần rồi, mà vẫn còn chưa định hướng đi đuợc, chứ đừng nói tới chuyện bến bờ bên kia. Tất nhiên trong đám phàm phu đó có bản thân mình :-).

Và dĩ nhiên là mình không muốn bàn luận xa hơn về ý nghĩa và nội dung của chữ "Bát Nhã" trong phạm vi ngắn ngủi của bài viết này, mà chỉ muốn nói đến vấn đề dịch thuật kinh sách. Vì nếu không cẩn thận, đôi lúc sẽ làm mất đi cái ý nghĩa thâm diệu của chữ nghĩa, mà thậm chí còn dẫn đến những hiểm lầm đáng tiếc !

Ví dụ như bản kinh "Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh" ở VN. Theo mình, khi dịch cái tựa của kinh "Prajna-paramita Hrdaya Sutra" (The Heart Sutra of Perfect Wisdom) ra thành "Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh", mà không giải thích rõ ràng, là đã vô tình làm mất đi một số ý nghĩa vô cùng quan trọng của bản kinh ! 

(Còn tại sao như thế ? Trước hết xin nói rõ, đây chỉ là ý nghĩ cá nhân của mình. Tất nhiên đây là một vấn đề rất quan trọng, mà đã có biết bao nhiêu vị cao tăng tu sĩ VN, đức độ trí huệ cao cả, từng nghiên cứu dịch thuật trong bao nhiêu năm qua, nên mình không hề có ý dám xúc phạm hoặc phê phán.)

Trước hết nói sơ qua về ý nghĩa của kinh Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh. Là một trong những kinh căn bản và phổ thông nhất trong đạo Phật, thường dùng để đọc tụng. Nguyên gốc từ tiếng Phạn là "Prajna-paramita Hrdaya Sutra", dịch sang tiếng Anh là "The Heart Sutra of Perfect Wisdom". Gọi cho đơn giản là Tâm kinh. Kinh này ngắn, có khoảng chừng 260 chữ (bản ngắn tiếng TQ), hiện nay được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Có nhiều giả thiết khác nhau về nguồn gốc và thời điểm ra đời của Tâm Kinh, không đồng nhất. Và toàn bộ bản gốc của bộ kinh lớn Đại Bát Nhã (Maha Prajna Paramita) cũng đã bị quân Hồi giáo tiêu hủy khi họ đánh chiếm Đại học PG Nalanda Ấn độ vào thế kỷ 12.

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh đọc tắt là Tâm kinh (The Heart Sutra), là tóm lược của bộ kinh Đại Bát Nhã Ba la Mật (Great Perfecton of Wisdom Sutra, tiếng Phạn gọi là Maha-prajna-paramita-sutra), gồm có 600 quyển. Tâm Kinh có nhiều bản dịch từ tiếng Phạn ra tiếng TQ. Trong đó bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập (402-412) và Ngài Huyền Trang (Tam Tạng) vào thế kỷ thứ 7 sau CN, là thông dụng nhất, được truyền qua VN và lưu hành cho đến ngày nay. Còn phiên bản tiếng Anh thì đến thế kỷ 19,  mới được Samuel Beal dịch ra. Ngày nay có rất nhiều sách vở tài liệu nói về Tâm Kinh của nhiều tác giả, nhiều tu sĩ khắp nơi trên thế giới . Tất nhiên là cũng không hiếm những tranh luận đối đáp gay gắt, bất đồng quan điểm, như bao vấn đề khác của tôn giáo và xã hội lâu nay. Có người đọc kinh sách để gom hết về một mối, rồi buông bỏ hết coi như không đọc chữ nào. Thì bên cạnh đó cũng có những người càng đọc, càng ôm, càng rối, càng lụy, sợi tóc chẻ làm năm làm bảy. Đọc để tranh luận hơn thua, đọc để trói chứ không phải để mở, đọc để chứng tỏ chứ không phải để thực hành, nên càng đọc càng nặng nề. Âu cũng là chuyện bình thường thôi. Như trong Tâm kinh có một câu rất nổi tiếng "Form is emptiness (śūnyatā), emptiness is form", mà nhiều nhà nghiên cứu, học giả phương Tây cũng thường nhắc đến. (Tạm dịch là: Sắc tức là không, không tức là sắc). Ai cũng nói được nhưng mấy ai thực chứng được điều này ?

Mở ngoặc chút, ngài Huyền Trang (Xuanzang), tức là ngài Đường Tăng Tam Tạng trong truyện hư cấu Tề thiên đại thánh của Ngô thừa Ân, đã tốn 3 năm đi bộ từ TQ qua Ấn độ để tìm học kinh Phật và thỉnh kinh đem về cho TQ. Rất nhiều người cũng đã từng đi như thế và bị chết trên đường vào thời kỳ đó. Tất nhiên là thực tế thì chẳng có Tề thiên, Trư bát giới .. nào đi theo cả, mà Ngài chỉ đi một mình. Sau khi đến nơi, ngài lưu lại Ấn độ 17 năm để học tiếng Phạn tiếng Ấn, rồi được vua Ấn độ mời làm "quốc sư" hiệu trưởng trường đại học Nalanda. Nhưng sau đó ngài xin hồi hương đem kinh sách về cho TQ. Về đến TQ, vua Đường cho lập khu dịch thuật rất lớn, tuyển dụng nhiều người phụ giúp Ngài. Với lực lượng hùng hậu như thế, mà phải tốn gần 5 năm sau, Ngài Huyền Trang mới dịch xong bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 cuốn. Thế mà kinh Bát Nhã Ba la mật Tâm kinh, nói gọn là (Heart Sutra) tóm lược được ý nghĩa của bộ Đại Bát Nhã đó, thì cũng tưởng tượng ra ý nghĩa súc tích của Tâm Kinh đến mức độ nào. Tuy nhiên cho dù là thâm thuý và uy lực đến đâu, thì cũng không phải chỉ cần ngồi đó đọc tụng mà giác ngộ được !

Giờ trở lại nói về chuyện phiên âm dịch thuật cái tựa "Prajna paramita Hridaya Sutra" ra tiếng VN, vô tình làm mất đi một số ý nghĩa quan trọng. Khi phiên âm chữ Prajna thành ra "Bát Nhã", paramita phiên âm thành ra "Ba la mật” hoặc “ba la mật đa", Hrdaya (dịch ra thành"Tâm"), Sutra (dịch ra thành “Kinh"). Thì người VN đọc câu "Bát Nhã Ba la Mật tâm kinh" không có ý nghĩa gì đặc biệt, mà chỉ đơn giản là một cái tựa đề của 1 bài kinh, như bao nhiêu kinh sách khác, kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Cú, kinh Hoa Nghiêm ...v.v..Thậm chí một số ít người nghe đến chữ ba-la-mật còn tưởng có liên quan gì đến mật tông mật pháp hoặc phương pháp bí mật nào đó. Điều này quả nhiên là không chính xác, và làm mất đi những ý nghĩa rất quan trọng của câu chữ "Prajna paramita Hridaya Sutra". Cũng tương tự như trường hợp đọc "Om mani padme hum" thành ra "Án ma ni bát rị hồng", không hiểu được hàm ý sâu sắc bên trong, mà chỉ mơ hồ hiểu được cái ý nghĩa “tâm linh” của nó !

1. Prajna (bát nhã) được ghép từ 2 chữ : Pra-jna ; Pra là Tối thượng và duy nhất, Jna là hiểu biết, là trí tuệ 

2. Paramita (sự hoàn hảo) được ghép lại từ Parama (the other shore, tức là bờ bên kia) , và Ita (that which has arrived tức là đến, sẽ đến, hoặc đã đến ...)

3. Hrdaya (là tâm, là chính yếu, trọng tâm, điểm chính), chứ không phải nghĩa đen của trái tim, nhịp đập trong cơ thể.

Có những vị cao tăng, thiện tri thức ngày xưa chỉ giảng giải câu "Prajna paramita Hrdaya Sutra" mà tốn tới hàng tháng, hàng năm mới nói hết ý nghĩa của nó. Trong khi đó chúng ta chỉ đọc lướt qua câu "Bát nhã ba-la-mật tâm kinh" như một cái tựa đề thì uổng phí quá.

Chỉ cần qua cái tựa đề, Tâm Kinh đã giải thích cho người ta thấy được cái ý nghĩa quan trọng tối thượng của trí huệ Bát Nhã trong việc tìm đến sự tỉnh thức & giác ngộ. Đó là phải tự mình học hiểu và thực chứng mới đi đến được bờ bên kia. Không nên chờ đợi ở bất cứ ai và cũng không ai có thể ban bố sự giác ngộ được cho mình. Những đạo lý vô thường, vô ngã, có, không, được, mất ....trong bản kinh là những diễn giải, chỉ ra cho con người hiểu thấu và thực hành để thực chứng, để đạt được trí huệ Bát Nhã, chứ không chỉ để đọc và cầu nguyện. Các vị Bồ Tát xưa nay cũng đã phải đi theo con đường đó mà tìm đến giác ngộ, chứ không hề có ngoại lệ hoặc phải nhờ đến thân thế, quen biết, hay lý lịch tốt :-).
Thực tế, thì cũng có rất nhiều người loay hoay nhầm nhẫn giữa các phương pháp tu tập, cũng như các loại trí tuệ và kiến thức thông thường trong cuộc sống với cái trí tuệ "bát nhã" được nhắc đến trong kinh sách. Nên xã hội vẫn thường xảy ra ngộ nhận về những giá trị có liên quan đến địa vị, bằng cấp, chức tước, giàu nghèo, sang hèn, hình thức (tu sĩ, trí thức..) ..v.v.. trong đời sống tâm linh, và trên con đường tìm kiếm những giải đáp cho bản thân của họ. Ví dụ: Một nhà khoa học sáng chế ra bom nguyên tử, ra vũ khí sinh học ...có thể rất thông minh, kiến thức chuyên môn tuyệt đỉnh, tuy nhiên đó không phải là loại trí tuệ Bát Nhã, mà có thể là một dạng u mê. Một nhà độc tài đi tới đâu người ta cũng vỗ tay, chào đón khóc lóc như điên dại, cũng có thể là một dang thông minh biết cách mị dân, trấn áp xã hội. Nhưng chắc chắn đó không phải là trí tuệ Bát Nhã mà trong Tâm kinh nói đến…(Cho nên cũng không nên mù quáng tin vào lý thuyết hoặc danh xưng của bất kỳ ai, cho dù họ có quyền lực, chức tước, hình thức, ông này bà nọ, hoặc chùa to chùa lớn, mà phải tự thực chứng đạo lý đó với chính bản thân. Đạo Phật không chủ trương “blind faith”, tức là tin một cách mù quáng, tin mà không hiểu. Đức Phật thời còn tại thế cũng đã dạy dỗ như vậy).

Bởi thế, mới có một Huệ Năng nhà nghèo, không biết chữ, chỉ cần một câu "Ưng vô sở trụ, sinh nhi kỳ tâm" mà trở nên tỉnh thức. Trong khi đó, một Thần Tú, tu sĩ, con nhà giòng dõi, kiến thức uyên bác, học sâu hiểu rộng, tên tuổi vang lừng, nhưng vẫn chưa đạt đến cái trí tuệ “bát nhã” của sự giác ngộ. Cho nên bài thơ rất hay của Ngài Thần Tú vẫn chưa "thấy” ra được cái "có" và cái "không" trong việc tu học. (Tất nhiên là còn nhiều yếu tố duyên nghiệp trong đây nữa. Câu chuyện này cũng nói đến khái niệm tiện ngộ và đốn ngộ trong PG).

Thân thị bồ đề thọ             
Tâm như minh cảnh đài     
Thời thời cần phất thức     
Vật sử nhạ trần ai.             

Tạm dịch:

Thân là cây bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn siêng lau chùi
Chớ để bụi trần bám.

Thôi, cuối tuần, tản mạn một chút về cái tựa đề của một bài kinh quen thuộc. Chỉ là ý kiến cá nhân, không có ý dám múa rìu qua mắt thợ. Tất nhiên thời này thông tin tin tức không thiếu, quý vị nào muốn kiểm chứng hoặc nghiên cứu sâu hơn đều có thể tìm đọc dễ dàng. Mình thì luôn quan niệm rằng, ai cũng có thể sai lầm, cho dù là người tài giỏi hoặc là tiền nhân đi trước. Mạnh dạn trao đổi trong khiêm tốn cũng là một đức hạnh của "kiến hoà đồng giải" vậy. Còn nếu cứ khư khư quan niệm "áo mặc không qua khỏi đầu", cái biết của mình là luôn luôn đúng, chủ nghĩa của mình là luôn luôn vô địch, thì có thể là đang đi ngược lại với đạo lý vô thường của vũ trụ. Và cũng coi chừng là đang đi ngược lại với cái đạo lý vô ngã, cái tánh không “emptiness" thâm diệu mà Bát Nhã Ba la Mật đa Tâm kinh (Prajna paramita Hrdaya Sutra) đang nói đến.

Chúc tất cả bình an mùa dịch bệnh !

PN 

p.s: Nếu quý vị nào nghe được tiếng Anh, mình trích dẫn đường link dưới đây của tu sĩ Guan Cheng bên Canada giảng về "Tâm Kinh". Vị này giảng tương đối đơn giản, dễ hiểu, dễ theo dõi đối với những người mới bắt đầu tìm tòi. Thực ra thời nay có rất nhiều chư vị tăng ni, cư sĩ trí thức nói về Tâm Kinh, hoặc thuyết giảng trên mạng. Quý vị nào rảnh rang muốn tìm hiểu, nên tìm kiếm những ai có cách diễn giải phù hợp với mình, thì sẽ dễ dàng theo dõi hơn .