Showing posts with label Đạo & Đời. Show all posts
Showing posts with label Đạo & Đời. Show all posts

Thursday, January 29, 2026

Lại chuyện chữ nghĩa ...



Thế là cơn bão lịch sử đã đi qua. Nắng lên, nhưng ngoài trời vẫn còn lạnh. Nhìn qua khung cửa, thấy mấy cây camellia (hoa trà, trà hoa nữ, trà mi...) mới bị phủ đầy băng tuyết vài hôm trước, nay đã tươi tỉnh trở lại. Tự nhiên thoáng chút lo lắng không biết có kịp nở hoa vào dịp Tết không ? Rồi phì cười khi nhận ra mình thường hay lo những chuyện chưa tới, nuối tiếc những chuyện đã qua. Mà con người vốn vậy, chứ thật ra chuyện đã qua thì không thay đổi được, còn chuyện sắp tới thì cứ đến lúc đủ điều kiện, đủ nắng, đủ ấm, hoa nở thôi. Tự nhiên là thế !

Ngồi đọc email của một ông anh chuyển cho mình, bài có tựa đề "Hiểu đúng về Đạo Phật", liền nghĩ ngay vậy là còn có những cái "Hiểu sai" tồn tại đâu đó ngoài kia. Lướt qua vài bài viết trên mạng, theo dõi hành trình các nhà sư đi bộ, đã đến Virginia, thấy có người nhắc đến quý sư thuộc về PG Nguyên thuỷ (Nam Tông), nghĩ ngay đến chuyện thiên hạ vẫn còn phân biệt tông phái Nam Tông, Bắc Tông, Thiền tông, Tịnh độ Tông .... Nghĩ vậy, rồi tự cười với cái tư duy "nhị nguyên" của mình, nó vốn vận hành như thế, dù mình đã "cảnh giác" lắm rồi. Kiểu này mà mong được nhìn thấy sự vật như nó "đang là" (như thị) thì chắc là còn lâu lắm đây.. :-) .

Cuối tuần qua, lúc cơn bão đang kéo đến, rảnh rỗi ngồi tản mạn chút, mình có nhắc đến chuyện "giáo dục". Qua giờ, nhận được vài email phản hồi rất thú vị. Hôm nay, mình cũng muốn chia sẻ thêm vài ý nghĩ nữa về những đề tài có phần “gai góc” hơn một chút. Chắc chắn không phải ai cũng quan tâm và đồng ý với những quan điểm của mình. Tuy nhiên, mình cũng muốn nhắc lại như đã từng nói trước đây, mình không phải là tu sĩ, càng không phải là người thuộc lòng kinh điển, rành rẽ giáo lý, của bất kỳ một tôn giáo hoặc tông phái nào. Chỉ là may mắn đọc được một số sách báo, tài liệu, có duyên gặp gỡ được sự chỉ dạy từ một số người. Trong đó, có một số vấn đề làm mình suy nghĩ, quan tâm đến, và muốn chia sẻ cùng anh chị em bạn bè thôi. Không hề có ý muốn giảng thuyết hoặc tranh chấp đúng sai. Nên chủ yếu là đọc cho vui thôi :-) .

Sỡ dĩ dông dài như vậy là vì trong đời sống xã hội nói chung, con người thường có xu hướng nhìn mọi việc qua lăng kính thiên kiến. Thấy một phần thì tưởng là toàn thể, nắm được một góc thì vội kết luận cả bức tranh. Từ đó, việc phê phán lẫn nhau dường như trở thành thói quen, đôi khi rất vô thức. Mình cũng vậy. Thực tế, lôi cuốn vào những tranh chấp đó, đa phần là tốn thời gian mà lại chẳng giúp ích được gì, cũng không đem lại sự an lạc cho bản thân và cho người khác. Giống như có nhiều tấm bản đồ chỉ cùng một đích đến. Bản đồ 2D, 3D, màu xanh màu đỏ, bút chì bút mực, google map, GPS ..., bản đồ của người này khác với của người kia. Cãi nhau vì cái bản đồ đẹp xấu hay màu sắc khác nhau, mà không thực sự đi, thì cũng chẳng bao giờ đến đích !

Mấy ngày qua, mưa bão, ở nhà đọc một số bài viết, nhận thấy có một vài khái niệm và từ ngữ trong PG rất dễ bị hiểu lầm, mình muốn chia sẻ dưới đây theo cái biết của mình. Hy vọng làm rõ thêm được chút đỉnh, còn nếu như lỡ làm cho quý bạn rối ren hơn thì thành thật xin lỗi vậy !

Trước hết là chữ "Pháp". Không hiểu bắt nguồn từ đâu, một số người khi nhắc đến chữ "pháp" là họ liên tưởng đến một cái gì mang tính pháp thuật, huyền bí, quyền năng, thuộc quyền sỡ hữu của thần linh hay một tôn giáo nào đó. Thực ra, "pháp" chỉ là cách thế giới chung quanh vận hành, ví dụ đập đầu vô tường thì bị u, không làm bài thì bị điểm xấu, chửi người ta thì người ta chửi lại, trời lạnh không mặc áo ấm thì bị cảm lạnh .... Vậy thôi. "Thuận duyên tuỳ pháp" là hiểu được đạo lý duyên khởi, sống dựa theo những nguyên tắc vận hành của thế giới và vũ trụ, không cưỡng cầu nghịch lý như đang đi giữa mưa mà cứ mong được khô ráo. Đức Phật ngày xưa chưa bao giờ cho rằng Ngài là Đấng Toàn năng hay đấng Tạo Hoá, nên chắc chắn Ngài không "chế tạo" ra cái pháp nào. Còn "Phật pháp" là những chân lý hoặc quy luật vận hành vốn tồn tại trong thế giới này mà Đức Phật đã "thấy, biết" (giác ngộ), rồi chỉ dạy lại cho chúng sanh, để mỗi người tự thực hành thoát khỏi vô minh, đoạn diệt phiền não. Thế nhưng thiên hạ có thấy ra, có đi theo, có làm theo, hoặc đi tới đâu, là do duyên nghiệp của mỗi người. Không ai bắt buộc, mà cũng không ai cưỡng cầu. 

Kế đến là chữ "tông phái". Trong PG, sự phân biệt tông phái thể hiện khá rõ ràng qua cách một số người nhìn nhận vấn đề. Có người theo Nam Tông (Theravada) dựa vào Tam Tạng Kinh điển để phê phán Bắc Tông (Mahayana), cho rằng kinh điển Đại thừa là thêm thắt, không phải là lời Phật dạy nguyên thủy; kinh Nikayas khác với Agamas; Bồ tát là không có thực ..v.v. Ngược lại, cũng có những người theo Bắc Tông nhìn Nam Tông như con đường “hạn hẹp”, chỉ lo tự giải thoát mà thiếu tinh thần nhập thế, giúp đời... Những cách nhìn như vậy, nếu xét kỹ, đều phản ánh cùng một điều, đó là chúng ta đang chấp vào hình tướng và chữ nghĩa nhiều hơn tinh thần của Phật pháp.

Thật ra, nếu quay về cội nguồn, đạo Phật vốn không có nhiều tông phái. Phật chỉ có một tông, có thể gọi giản dị là Phật Tông. Những gì gọi là Nam Tông, Bắc Tông, Đại thừa, Nguyên thủy, Tịnh độ Tông, Mật tông Kim Cang thừa… đều xuất hiện sau này, tùy theo thời đại, căn cơ, văn hóa, và nhu cầu của con người. Chúng không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện. 

Trong đó có những giai đoạn lịch sử, nhu cầu luận giải để tồn tại và truyền thừa đạo pháp trở nên vô cùng quan trọng và bức thiết, nên không tránh khỏi những sự phân chia, bất đồng quan điểm. Tôn giáo và xã hội nào cũng có những giai đọan như vậy. PG biến động nhiều nhất là thời gian sau khi Đức Phật nhập diệt cho đến các thời kỳ sau vua A-dục, và hoàng tử Mahinda. Rồi đến thời kỳ của Ngài Long Thọ Bồ tát và sự phục hồi đạo pháp trước những sự tấn công của các tôn giáo thời bấy giờ. Hơn hai nghìn năm qua, PG được truyền thừa qua nhiều quốc gia, vùng miền, ảnh hưởng nhiều màu sắc văn hoá dân tộc, tư tưởng, phương pháp tu tập của các vị Tổ, và các nghi thức tục lệ đia phương. Nên việc PG ngày nay có những dị biệt và biến tướng sai lệch ở một mức độ nhất định nào đó so với nguồn gốc ban đầu, thậm chí mang sắc thái mê tín cực đoan, cũng không phải là điều khó hiểu lắm. Những câu chuyện lịch sử này thì ngày nay tài liệu có nhiều, ai muốn tìm hiểu thì đọc thêm vậy.

Đức Phật khi còn tại thế chưa từng lập ra một hệ thống giáo điều cố định để người đời sau tranh luận đúng sai. Ngài chỉ chỉ ra khổ, nguyên nhân của khổ, khả năng chấm dứt khổ, và con đường để đi tới đó. Tùy người nghe, tùy hoàn cảnh, Ngài nói khác nhau. Với người này, Ngài nói cách này; với người khác, Ngài nói cách khác. Nếu lời dạy ấy được ghi lại và đặt vào bối cảnh hôm nay, rất có thể cũng sẽ bị xếp vào những “tông phái” khác nhau ! 

Trong Phật học, có một hình ảnh rất đẹp, đó là chiếc bè qua sông. Pháp là chiếc bè dùng để qua sông. Khi đã qua sông rồi, không ai vác bè lên vai để khoe mình đã dùng chiếc bè nào, làm bằng tre hay bằng gỗ, hàng hiệu hay hàng chợ, hàng của miền này hay miền kia... Nếu nhìn theo tinh thần đó, thì Nam Tông hay Bắc Tông, đều là bè. Kinh Pali hay kinh Đại thừa đều là bè. Thiền, Tịnh, Mật… đều là bè. Vấn đề không nằm ở chiếc bè nào “đúng” hơn, mà là người có bè chịu xuống nước hay không, có thật sự chèo qua sông chưa, hay vẫn còn cột dây ngồi đó ngắm nghía cái bè nào sơn phết đẹp hơn ? Khi còn tranh cãi tông phái, đúng sai, cao thấp, có lẽ chúng ta vẫn đang đứng trên bờ, chỉ trỏ vào chiếc bè của nhau. Trong khi đó, tinh thần cốt lõi của Phật pháp là buông bớt phân biệt, buông bớt cái tôi, buông bớt nhu cầu cần phải thắng trong tranh luận. Nếu một người tụng kinh Pali mà lòng đầy kiêu mạn, thì vẫn còn xa Phật. Nếu một người tụng kinh Đại thừa mà sống thiếu từ bi, thì cũng vậy. Ngược lại, nếu một người sống tỉnh thức, biết bớt làm khổ mình và khổ người, thì dù không gọi tên tông phái nào, người ấy cũng đang đi trên con đường của Phật.

Tông phái chỉ là cách con người tạm phân loại để dễ hiểu, dễ đi. Phương tiện chỉ là những dấu mốc trên đường để khỏi lạc lối. Nhưng nếu biến những điều ấy thành bản sắc để bảo vệ, thành hàng rào để phân biệt, thì rất có thể ta đã quên mất lý do ban đầu vì sao mình bắt đầu.

Phật chỉ có một tông. Còn tông phái là do con người đặt tên. Hiểu được điều đó, có lẽ đã là một bước tu rồi !

Một khái niệm nữa được rất nhiều người thường xuyên nhắc đến như là mục đích tối hậu, đó là "Giác Ngộ". Trong các kinh điển hoặc các bài giảng, sự "giác ngộ" được diễn đạt bằng những ngôn ngữ và trạng thái khác nhau tuỳ vào cách nhìn nào, ví dụ như là, trong sáng, rỗng rang, tịch tịnh tuyệt đối; thấy ra "Tánh Biết"; tri kiến giác ngộ; chấm dứt vô minh; đoạn diệt khổ đau (Khổ diệt), tuệ giác thấu suốt bản thể vạn vật; đại viên cảnh trí ...v.v.. Bởi vậy, một số người khi nghe đến chữ “giác ngộ” thường hình dung đó là một trạng thái nào đó rất siêu nhiên, xa đời sống, thoát tục, rời bỏ thế gian, rũ sạch bụi trần, không còn vướng bận buồn vui. Nhưng nếu nhìn kỹ lại tinh thần PG, giác ngộ không hề là một cuộc chia tay hay trốn chạy. Nó không đưa con người ra khỏi cuộc đời, mà đưa con người trở về với chính cuộc đời này, như nó đang là. 

Giác ngộ không phải là không còn đau, mà là thấy rõ nỗi đau khi nó đang có mặt. Không phải là không còn sợ, mà là nhận ra nỗi sợ khi nó nổi lên, không phủ nhận, cũng không chạy trốn. Khi thấy rõ được như vậy, nỗi đau và nỗi sợ không còn quyền lực tuyệt đối nữa. Chúng vẫn đến, rồi đi, nhưng không còn ai bị chúng cuốn theo !

Có một hiểu lầm khá phổ biến cho rằng người tu hành hay người tỉnh thức là người lúc nào cũng an nhiên, bình thản, như thể đã đứng ngoài mọi biến động. Thực ra, người thấy đời rõ hơn lại thường "cảm" đời sâu sắc hơn. Họ vui khi có niềm vui, buồn khi có nỗi buồn, thương khi có thương, mất mát khi có mất mát. Chỉ khác ở chỗ, họ không đồng hóa mình với những cảm xúc ấy, mà chỉ thấy “nỗi buồn, niềm vui" đang có mặt. Nhận ra sự hiện diện của mọi cảm xúc, đến rồi đi !

Giác ngộ, theo nghĩa này, không phải là đạt đến một cảnh giới siêu nhiên, cao vời, mà là không còn nhu cầu cần phải cao vời, khác thường. Không cần biến đời thành thiên đường, cũng không cần biến mình thành một ai khác. Chỉ cần thấy rõ những gì đang xảy ra, trong thân, trong tâm, và trong mối quan hệ với thế giới chung quanh. Đức Phật sau khi giác ngộ vẫn đi, vẫn nói, vẫn ăn, vẫn đau lưng, vẫn mệt. Các vị thiền sư giác ngộ vẫn cày ruộng, gánh nước, chăm sóc người khác, đối diện với những việc rất thường ngày. Cuộc đời không biến mất; chỉ có cách họ nhìn cuộc đời là đổi khác ! 

Giác ngộ không làm cho con người trở nên đặc biệt. Ngược lại, nó làm cho con người bớt đặc biệt hóa chính mình, vì thực chất là không có ai, không có "cái tôi" nào ở đó mà mong cầu đặc biệt. Khi không còn cố gắng đứng cao hơn người khác, họ tự nhiên đứng gần hơn với mọi người chung quanh. Nôm na, nói một cách đơn giản là giác ngộ không phải là thoát khỏi đời, mà là ở lại với đời, nhẹ hơn, rõ hơn, và chân thật hơn.


Kế đến là chữ "vô thường" (impermanence). Khái niệm này thì dễ hiểu, mà ai cũng thường nghe, đặc biệt là trong các bài giảng pháp thoại, hoặc là trong các câu chuyện xã giao hàng ngày. Đơn giản, nghĩa là vạn vật đều luôn thay đổi, không có gì thường hằng. (Mở ngoặc chút, có lẽ một số người từng nghe qua câu nói - sinh hữu tác thành, và cũng có thứ không sinh, không hữu, không tác, không thành - nhưng với phạm vi bài viết này, mình tạm bỏ qua ý này. Hẹn dip khác nói sau).  

Tuy nhiên có một số người hiểu lầm, cho rằng quy luật vô thường là của đạo Phật "sáng chế" ra. Thực ra đây là quy luật của vũ trụ, đã có hàng tỉ tỉ năm trước khi Đức Phật ra đời. Không ai sinh ra nó, mà cũng không bao giờ bị mất đi. Vô thường là cách "pháp" vận hành. Đức Phật chỉ chỉ ra quy luật hiển nhiên đó cho chúng sanh, vì đó cũng là một nguyên nhân của khổ đau nếu như con người cứ cưỡng cầu, bám víu vào những thứ luôn biến đổi mà mong mỏi sự thường hằng. Thế nhưng trong đời sống thỉnh thoảng cũng nghe đến những câu chuyện có người tin tưởng xây dựng được những thứ bền vững đời đời. Và cũng không hiếm nhũng người hiểu rõ đạo lý vô thường, nhưng tin thì vẫn tin, chờ thì vẫn chờ, chờ đợi một điều gì đó không bao giờ thay đổi, bất di bất dịch. Một trong những câu nói cuối cùng của Đức Phật, cũng nhắc lại quy luật vô thường cho hàng đệ tử trước lúc ra đi.

Mới hôm rồi nói chuyện vui với một người bạn, mình cho rằng ngay cả giới hạnh cũng phải theo quy luật vô thường, cũng phải thay đổi cho phù hợp, thích nghi với hoàn cảnh tu tập. Giả dụ như các nhà sư "đi bộ vì hoà bình" mà khư khư giữ giới hạnh đầu đà (dhutaṅga) như các tu sĩ thời của Đức Phật, thì chắc chắn là đã không có sự kiện "Walk for Peace" hôm nay rồi. Vì không ai có thể đi chân trần giữa trời bão tuyết băng giá như thế, mà mặc ba y một bát, tối ngủ ngoài nghĩa địa hay bãi đất trống ở các nước Bắc Mỹ, Bắc Âu.

Một từ ngữ nữa trong PG, có hàm ý vô cùng sâu sắc, đó là "Vô Ngã". Tất nhiên, không thể nói hết ý nghĩa lý thuyết này trong vài cuốn sách chứ huống chi là vài dòng chữ. Nhưng đây là một lý thuyết vô cùng quan trọng cho những ai muốn đi sâu trên con đường thực hành PG. Lý thuyết này còn liên quan đến những khái niệm sâu sắc khác như "tánh Không" (emptiness), "linh hồn", tái sanh, đắc đạo ....v.v... và cũng là điểm khác biệt mấu chốt nhất giữa giáo lý PG và những tôn giáo khác. Dĩ nhiên, đây là một khái niệm tương đối khó diễn giải bằng ngôn ngữ, không khéo thì dễ dẫn đến những ngộ nhận hoặc suy diễn lệch lạc. Cho nên ở đây mình chỉ tóm lược vài ý gần gũi với đời sống hàng ngày thôi. 

Trong đạo Phật có một cách nhìn rất lạ, và cũng rất sâu sắc, đó là coi con người chưa bao giờ thật sự sinh ra, nên cũng chưa bao giờ thật sự chết đi. Nghe qua, điều đó có vẻ nghịch lý, thậm chí khó chấp nhận. Bởi ai cũng thấy rõ ràng trước mắt, có sinh có tử, có đến có đi. Tuy PG không phủ nhận những gì mắt thấy tai nghe, nhưng để hiểu cái nhìn "vô ngã" đó, con người cần phải nhìn sâu hơn vào cái mà ta luôn gọi là “ta” !

Nếu quan sát thật kỹ, thì cái gọi là “ta” chưa bao giờ đứng yên và tồn tại cố định. Thân thể này thay đổi từng ngày từng giờ. Ý nghĩ đến rồi đi, từng phút từng giây, không báo trước. Cảm xúc sinh ra, rồi tan biến. Ngay cả ký ức về chính mình cũng thay đổi theo thời gian. Theo PG, thứ tiếp diễn đó không phải là một cái "ta" cố định, mà là một dòng chảy của điều kiện. Có điều kiện thì hiện ra; điều kiện đổi thì hình tướng đổi. Giống như ngọn lửa được truyền từ cây đuốc này sang cây đuốc khác - có vẻ như cùng một ngọn lửa, nhưng thật ra chỉ là sự tiếp nối của nhiệt, của duyên, của gió và vật liệu. Nếu bạn nào biết qua vật lý lượng tử, có một khái niệm na ná như vậy nhưng tương đối dễ hiểu hơn, đó là "the observer effect in quantum mechanics", hành trình của các hạt lượng tử không cố định, luôn biến đổi theo cái nhìn và điều kiện tương tác.

Nói một cách khác, "vô ngã" trong PG không có nghĩa là “không có mình”, hay phải "xoá bỏ sự tồn tại của bản thân”. Vô ngã chỉ đơn giản là không có một cái tôi cố định, bất biến để bám vào. Cái “tôi” mà ta vẫn quen gọi tên, thực ra luôn thay đổi - hôm nay nghĩ khác hôm qua, vui buồn đổi liên tục, quan điểm sống cũng đổi theo hoàn cảnh. Thấy được vô ngã là thấy rằng những gì mình "đang là" chỉ là tạm thời, không cần phải bảo vệ hay đồng hoá quá mức. Khi không còn tin tuyệt đối vào cái tôi đang xuất hiện, con người tự nhiên bớt cố chấp, bớt khổ vì hơn thua, và dễ thở hơn khi cuộc sống đổi thay.

Thời nay, cái tôi có rất nhiều chỗ để phô bày và cũng rất dễ bị tổn thương. Trên mạng xã hội, một bài đăng, một bình luận, vài trăm lượt thích, hay vài lời chê bai cũng đủ làm tâm trạng lên xuống. Mạng xã hội khiến cái "ta" lúc nào cũng phải được nhìn thấy, được công nhận, được phản hồi. Trong khi đó, "vô ngã" lại đi ngược dòng. Nó nhắc nhở rằng mình không cần phải liên tục chứng minh mình là ai. Người ta thích hay không thích, nhớ hay quên, không nhất thiết phải trở thành thước đo giá trị của mình. Thực hành "vô ngã" giữa đời sống hiện đại không phải là rời bỏ mạng xã hội, mà là dùng nó nhưng không để nó điều khiển cảm xúc và lòng tự trọng của mình. Đăng thì đăng, nói thì nói, nhưng không để cái tôi phình to theo lời khen, hay co rút lại vì lời chê. Khi đó, mình vẫn sống giữa đời, nhưng không bị đời kéo đi quá xa :-) 

PG cho rằng cái tôi cố định vốn không có thực, mà nó chỉ là sản phẩm của ngũ uẩn (the five aggregates/ five skandhas) và các thức (consciousness) tạo tác. Tuy nhiên vì con người không thấy được điều đó, nên rơi vào "vô minh". "Vô minh" không phải là ngu dốt theo nghĩa nhiều người thường nghĩ, mà chỉ là ảo tưởng có một cái “tôi” riêng biệt, cố định, sinh ra rồi sẽ mất đi. Từ cái tưởng ấy, nảy sinh ra sợ hãi và khổ đau. Sợ mất. Sợ chết. Sợ thua. Sợ không còn là mình. Và từ sợ hãi ấy, con người bám víu, tranh giành, hám danh, cầu lợi, sĩ diện, bảo vệ tên tuổi, tạo tác không ngừng. Rồi khi không được thoả mãn hoặc như ý thì khổ đau. Chỉ đơn giản là vậy. 

Cho nên, dù theo tông phái nào, thiền sư ở ẩn trên núi cao, hay cao tăng dấu mình trong chốn rừng sâu tu tập, cuối cùng rồi cũng phải trực diện "trận chiến sống còn" với cái "tự ngã" trước khi bước qua ngưỡng cửa khác. Thái tử Tất Đat Đa ngày xưa ngồi thiền dưới gốc bồ đề 49 ngày cũng phải trải qua những thử thách này trước khi giác ngộ thành Phật. Trong kinh điển PG có nhiều câu chuyện rất hay về đạo lý "cái tôi", "cái ngã". Duy Thức học của PG cũng nói rất rõ về cách vận hành của Mạt Na thức, bạn nào có điều kiện nên đọc. Trong Thiền tông, câu chuyện của ngài Thần tú và Huệ Năng ngày xưa cũng là một ví dụ rất hay :-).




Thôi, nhìn tới nhìn lui, nãy giờ viết một lèo, cũng chỉ mong mấy chữ “dao to, búa lớn” không bị hiểu lầm. Mà trớ trêu là rốt cuộc phải dùng ngôn từ để giải thích ngôn từ, càng giải thích thì càng dễ lệch lạc. Vì ngôn ngữ, suy cho cùng, chỉ là phương tiện, mà đã là phương tiện, thì không phải là chân lý.

Nhưng con người lại rất dễ quên điều đó, quen dùng chữ nghĩa để diễn đạt, để giải thích, để phân tích, rồi dần dần tưởng rằng những gì có thể nói ra bằng lời chính là điều thật nhất. Trong khi đó, có rất nhiều điều trong đời sống, đặc biệt là những điều sâu sắc nhất, lại nằm ngoài khả năng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp ta tiếp cận, nhưng không thể thay thế cho sự "thấy, biết" trực tiếp. Ta có thể nói rất nhiều về vô thường, nhưng chỉ khi thật sự đối diện với mất mát, ta mới hiểu vô thường là gì. Ta có thể giảng giải rất hay về vô ngã, nhưng chỉ khi buông được một phần cái tôi trong đời sống hằng ngày, ta mới chạm được vào điều ấy.

Ngôn ngữ có giới hạn của nó. Nó luôn đi sau trải nghiệm. Nó mô tả, nhưng không phải là thực tại. Nó giống như bản đồ, rất cần thiết để định hướng, nhưng không phải là con đường. Nhìn bản đồ mãi mà không chịu bước đi, thì dù thuộc lòng từng ký hiệu, ta vẫn đứng yên tại chỗ. Ngôn ngữ sinh ra để phục vụ con người. Nhưng khi con người biến nó thành nơi bám víu, nó lại trói ngược con người. Chữ nghĩa lúc ấy không còn mở đường, mà chỉ làm dày thêm lớp sương mù giữa ta và thực tại.

Cũng vì vậy mà trong đạo Phật, người ta thường nhắc đừng lầm ngón tay chỉ trăng với mặt trăng. Ngón tay không sai. Nó rất cần. Nhưng nếu chỉ chăm chăm nhìn ngón tay, tranh luận xem ngón tay nào dài hơn, đúng hướng hơn, thì mặt trăng vẫn ở đó, còn ta thì chưa từng nhìn thấy.

Tóm lại, Phật pháp không nằm ở việc ta gọi tên con đường mình đi bằng danh xưng gì, cũng không nằm ở việc ta dùng chiếc bè nào để qua sông. Phương tiện phù hợp ở giai đoạn này chưa chắc còn phù hợp ở giai đoạn khác. Có những thứ từng giúp ta đứng vững, nhưng nếu ôm mãi, lại khiến ta không đi tiếp được. Nhận ra lúc nào nên nương vào phương tiện, và lúc nào nên buông phương tiện, cũng là một phần của trí tuệ.

Con đường của Phật pháp, suy cho cùng, không phải để phân chia, mà để hóa giải. Không phải để trở thành con người đặc biệt hơn, mà để làm con người bớt bị trói buộc hơn. Mình chia sẻ vài ý nghĩ trong bài này cũng chỉ là vậy. Không mong ai đồng ý hết, cũng không mong ai thay đổi gì ngay. Chỉ mong mỗi người, trong đời sống của mình, có thêm đôi chút lắng lại để nhìn cho rõ hơn. Đi được bao xa thì đi, mệt thì dừng. Thấy hợp thì giữ, không hợp thì buông. Nghĩ cho cùng, cũng giống như mấy cây Camellia ngoài kia. Không cần cố nở sớm hơn, cũng không cần lo lắng quá nhiều. Tới lúc đủ nắng đủ ấm, hoa sẽ nở. Không phải vì ai ban phát, mà vì nhân duyên đã chín.

Cảm ơn đã đọc. Chúc tất cả một cuối tuần an lành hạnh phúc !

PN


Saturday, January 10, 2026

Phiếm : Ôn cố tri .... tâm :-)

 


Lâu nay, người ta thường nhắc đến cụm từ “ôn cố tri tân” như một chân lý hiển nhiên, như thể chỉ cần nhìn lại quá khứ thì tự khắc sẽ hiểu được hiện tại. Nhưng nghĩ kỹ thì cũng chưa chắc. Bởi “tri” là chuyện rất riêng, mà đã là chuyện riêng thì khó có sự đồng thuận. Tư duy con người phụ thuộc vào những điều kiện (nhân duyên) khác nhau, cuối cùng mỗi người “tri” một kiểu. Cái hiểu của người này khác với người kia, dẫn đến những tranh cãi, hoặc xung đột mâu thuẩn ngoài ý muốn, không cần thiết. Tranh luận về lịch sử VN trên mạng xh trong thời gian gần đây là ví dụ gần gũi nhất. Cùng một chuỗi sự kiện, cùng một nhân vật lịch sử, nhưng cách “tri tân” giữa người này khác với người kia, đàng trong khác với đàng ngoài, trong nước khác với ngoài nước ... Nhiều lúc khác nhau đến mức tưởng chừng như họ đang nói về hai lịch sử song song. Mặc dù ngày nay báo chí, tư liệu, phương tiện truyền thông đầy đủ hơn bao giờ hết, nhưng tin tức cũng có mặt trái của nó, nếu không biết gạn lọc phân tích thì mớ thông tin hổn độn đó lại trở thành những "sở tri chướng" trong cuộc sống. Bởi vậy cứ vài ba ngày một trận nhỏ, vài ba tuần một trận lớn, vài ba tháng một trận “nổi đình nổi đám”. Mới chuyện “mưa đỏ mưa xanh” chưa lắng, thì đã đến chuyện Bảo Ninh "Nỗi buồn chiến tranh", rồi Quang Trung Gia Long ... Hải ngoại cũng thế, cùng là thân phận sờ voi, người đọc báo lề trái công kích lề phải, ông đọc "tin vịt" phê phán bà đọc tin tức "chính thống", kẻ đọc báo "chợ" chê trách người đọc "tin gốc"...v.v.. Rồi cứ thế, nhu cầu chứng tỏ đúng sai, hiểu biết thời cuộc, được nâng cao hơn bao giờ hết. Vô tình tạo ra một môi truờng màu mỡ cho các youtube bẩn, tin vịt tin gà, hoặc các "ông chú vịt teo" chuyển tải tin tức ngày càng mạnh mẽ. Râm rang, ầm ỉ, sôi động, tiếp nối nhau không bao giờ kết. Bởi vậy mình thường nói đùa, đúng ra phải là "ôn cố tri ... tâm" mới đúng. Vì cho dù có "ôn" kiểu gì thì cuối ngày cái "tâm" của mỗi người sẽ là phần quyết định vẽ lên bức họa chân dung của riêng họ !

Nhưng nghĩ cho cùng, đời sống cũng cần như vậy mới vui. Chứ nếu ai cũng “ôn cố” mà “tri tân” giống nhau thì thiên hạ chắc là buồn lắm :-). 


Hôm nay, mình cũng thử “ôn cố”, nhưng ôn… chuyện Tam Quốc Chí cho vui, chứ hoàn toàn không có ý tranh chấp đúng sai. Trước hết phải nói cho rõ, truyện Tam Quốc mà chúng ta quen đọc, quen xem, vốn là một câu chuyện “thất thực tam hư”, bảy phần thực, ba phần hư. Tuy nhiên những phần hư ấy lại trở nên rất hấp dẫn đối với hậu thế, và có những bài học đáng giá. Đôi lúc cứ tưởng như là có thật 100% :-) 

Nguyên thủy Tam Quốc Chí là của Trần Thọ, viết vào thời Tây Tấn, khoảng thế kỷ thứ 2-3 gì đó sau Công nguyên. Sau đó có bao nhiêu bổ sung, chú giải của các học giả đời sau, nổi bật nhất là Bùi Tùng Chi với Tam Quốc Chí Chú. Rồi phải gần một ngàn năm sau nữa, đến thời nhà Minh (cùng thời với giai đoạn Hồ Quý Ly, Lê Lợi, Nguyễn Trãi ở nước ta), La Quán Trung mới dựa trên nền tảng đó mà viết nên Tam Quốc Diễn Nghĩa, một tiểu thuyết dã sử đúng nghĩa, lịch sử pha văn chương, chuyện thật hòa với "lý tưởng". Về sau, cũng có một số chi tiết thêm thắt, sửa sang như của Mao Tôn Cương, của các nhà tuyên giáo, hoăc các nhà xuất bản của nhà nước TQ, nhưng thực tế cũng không làm thay đổi bản chất vấn đề nhiều lắm. Nói cho cùng, Tam Quốc mà chúng ta đọc hôm nay đã là sản phẩm của nhiều lớp thời gian, nhiều tầng diễn giải, thực hư lẫn lộn. Bởi vậy, nếu chấp vào từng chi tiết để phân định đúng sai tuyệt đối thì e là… tự làm khổ mình.

Với phạm vi thời gian ngắn ngủi của ly cafe và bình trà, mình mạn phép chỉ xoay quanh vài nhân vật cộm cán quen thuộc thôi. Đọc như đọc một câu chuyện cũ, nghĩ như nghĩ một chuyện đời, không nhằm kết luận, càng không nhằm phán xét. Chỉ là ôn lại chuyện xưa, để thấy mỗi thời, mỗi người, mỗi cảnh ngộ đều có những cách ứng xử khác nhau. Và có lẽ, chính sự khác nhau ấy mới làm cho lịch sử, cũng như đời sống, còn điều đáng để suy ngẫm :-)

Trước tiên, nói đến hai cha con Đổng Trác và Lã Bố. Một người thì chuyên xử dụng quyền lực dựa trên bạo lực, không dựa trên chính danh. Một người thì có sức lực siêu quần, hám danh, tự cao tự đại, đánh đâu thắng đó, nhưng không giữ được kết quả lâu dài. Đổng Trác và Lữ Bố thất bại, bị đào thải khỏi ván cờ lịch sử, không phải chỉ vì thua trận, mà thua về tư duy chính trị, chiến lược dài hạn, và cách dùng người. Đổng Trác nắm quyền nhờ vũ lực và khủng bố, gieo rắc sợ hãi, thao túng triều đình, phế lập hoàng đế, nên làm mất lòng nhân sĩ, chư hầu và dân chúng. Tầm nhìn của Đổng Trác mang tính thời vụ, không xây dựng được một liên minh bền vững, và kế hoạch lâu dài. Và cũng chính vì lợi ích ngắn hạn nên chỉ dựa vào đám thuộc hạ trung thành, khiếp nhược, đa số phục tùng ông vì quyền lợi, vì sơ hãi, hoặc chịu đấm ăn xôi. Quan trọng hơn nữa là chính cái sức mạnh mà Đổng Trác dựa hơi, cũng không phải do ông tạo ra, mà là dựa vào Lữ Bố. Đây cũng là một ngộ nhận thường thấy, nhiều người hiểu lầm thiên hạ đang sợ bản thân họ (tự ngã) nhưng thực ra thiên hạ "sợ" họ vì một nguyên nhân khác. Nhìn chung, Đổng Trác không có chính danh, nghĩa là tự chuốc cô lập, thất bại chỉ là chuyện sớm muộn. 

Còn Lữ Bố thì võ dũng tuyệt đỉnh, nhưng lại kém tư duy, mưu lược. Lữ Bố mạnh cá nhân nhưng thiếu trung thành (giết Đinh Nguyên, giết Đổng Trác), thiếu tầm nhìn, không biết cách giữ đất, giữ người, giữ lòng kẻ dưới. Ông dựa vào sức mạnh, đánh đâu thắng đó, nhưng không giữ được kết quả lâu dài, vì không có hệ thống mưu sĩ, không xây dựng được nền tảng chính trị. Cho nên Lữ Bố chỉ là hình mẫu của anh hùng cá nhân, trong khi Tam Quốc là cuộc chơi của tổ chức và trí tuệ tập thể, nên tất nhiên là sớm nở tối tàn. Thế nhưng, hình ảnh "anh hùng" và câu chuyện tình Lữ Bố Điêu Thuyền lại rất hấp dẫn với đám đông đời sau, nhất là trong các tuồng cải lương, hát chèo, hát bộ, hoặc các xe bán hủ tíu, phá lấu ngoài chợ  ...:-)

Kế đến là Tào Tháo. Một nhân vật tốn nhiều bút mực của lịch sử với những tranh cãi đa chiều. Nhiều người cho rằng nói đến thời Tam Quốc thì phải nói đến 3 nhân vật chủ chốt - Tào Tháo, Quan Công, và Khổng Minh. Có lẽ vậy, vì họ là biểu tượng của "tam tuyệt" trong thời kỳ Khổng giáo, Nho giáo, Đạo giáo của TQ được coi trọng. Mặt khác, Tam quốc Chí cũng mang tư tưởng "thiên thời, địa lợi, nhân hoà" một cách rõ nét. Ba nước Ngụy, Đông Ngô, và Thục được nhiều người cho là biểu tượng của 3 yếu tố đó. 

Thực ra cho tới giờ mình vẫn không hiểu tại sao VN ta mỗi lúc tiêu chảy là ví von "bị Tào tháo rượt". Chứ đứng trên phương diện quân sự chính trị, Tào Tháo là một nhà quân sự rất có tài. Ông thắng vì đánh bằng não, chứ không chỉ bằng gươm. Ngươc lại với Đổng Trác và Lữ Bố, Tào Tháo “phò thiên tử dĩ lệnh chư hầu”, mượn danh nhà Hán để gom người tài, tạo chính danh, kiến lập liên minh. Nổi bật là ông biết dùng người, trọng dụng mưu sĩ tướng tài như Tuân Úc, Quách Gia, Trình Dục, Hạ Hầu Đôn… Sẵn sàng chấp nhận người có quá khứ phức tạp nếu họ có năng lực. Tào Tháo có chiến lược dài hạn, có nguyên tắc. Khi ra trận không cần thắng tất cả các trận, mà chỉ cần thắng đúng thời điểm. Khi yếu, dám rút, dám nhịn, dám thua, dám thỏa hiệp khi cần. Ông biết xây dựng hệ thống, tổ chức quân đội, hậu cần, pháp luật. Quan trọng nhất là biết biến quyền lực cá nhân thành quyền lực thể chế !

Nôm na, Đổng Trác, Lữ Bố, và Tào Tháo là biểu tượng cho 3 con đường quyền lực trong thời loạn lạc. Tuy nhiên, lịch sử xưa nay không luôn chọn kẻ mạnh nhất, mà nó chọn kẻ hiểu được thời thế, biết mình đang đứng ở đâu trong dòng chảy của thời cuộc, giữa bạo loạn và trật tự, giữa quyền lợi và xung đột.

Rõ ràng, Đổng Trác dựa vào một thứ quyền lực không có gốc rễ, không xây dựng được niềm tin, mà chỉ tích lũy oán hận. Ông nắm triều đình bằng cách gieo rắc sự sợ hãi, áp đặt, một dạng quyền lực thuần bạo lực, không cần sự đồng thuận, không cần đạo lý, cũng không cần lòng người. Những loại quyền lực mang tính nhiễu loạn như vậy thường chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, dễ dàng mất đi khi thế lực chỗ dựa (Lã Bố) không còn. Vả lại, một khi quyền lực chỉ dựa trên nỗi sợ, kẻ cầm quyền tất yếu phải sống trong vòng vây của chính thuộc hạ. Cái chết của Đổng Trác dưới tay Lữ Bố, vì thế, không phải là một hành vi phản loạn bất ngờ, mà là hệ quả tất yếu. Nho gia gọi đó là quyền lực không chính danh, chỉ tạo ra bất ổn; còn Đạo gia thì cho rằng, thứ gì đi ngược tự nhiên, sớm muộn cũng tự diệt.

Còn Lữ Bố là hiện thân của sức mạnh thuần tuý. Trên chiến trường ông là cơn bão, trong tiểu thuyết ông là biểu tượng. Nhưng trong lịch sử, ông lại là một con người không thuộc về thời đại mình đang sống. Thời loạn không cần anh hùng đơn độc, nó cần những người biết giữ đất, giữ lòng người, giữ lòng tin và lòng trung thành, kể cả khi phải nuốt nhục chịu đựng. Lữ Bố phản Đinh Nguyên, giết Đổng Trác, thay chủ như thay áo. Võ công có thể khiến người khác khiếp sợ, nhưng không thể khiến họ tin cậy. Lữ Bố không có mưu sĩ lớn, không nền tảng chính trị, không hệ thống tổ chức. Bởi vậy Lữ Bố luôn thắng trận, nhưng luôn thua cuộc. Ông giống Achilles hơn là Odysseus. Và lịch sử, cũng như chiến tranh, thường đứng về phía Odysseus !

Tào Tháo thì ngược lại, là một kẻ hiểu rõ bản chất của thời thế. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng Tào Tháo là gian hùng. Nhưng nếu bỏ qua những nhận định theo kiểu quán tính đó, thì quả nhiên Tào Tháo là người nhìn thấu thời cuộc. Tuy nhiên ông cũng là người có những khuyết điểm lớn tạo ra những bất đồng như đa nghi, độc đoán, vị kỷ. Ông không phải là người nhân từ nhất, cũng không phải người chính nghĩa nhất, nhưng ông là người tỉnh táo nhất. Khi thiên hạ loạn, ông không cố gắng làm thánh nhân. Ông làm người "quản lý" sự hỗn loạn đó. “Phò thiên tử dĩ lệnh chư hầu” không chỉ là mưu mẹo chính trị, đó là sự hiểu biết sâu sắc rằng chính danh vẫn còn giá trị xử dụng, ngay cả khi đạo đức xã hội đã rạn nứt. Tào Tháo mượn vỏ Nho gia để vận hành phép nước, nhưng trong nội tâm ông lại hành xử rất Đạo gia - linh hoạt, tùy thời, không chấp trước. Ông dùng người giỏi mà không đòi họ phải hoàn hảo. Ông chấp nhận bị mang tiếng uy hiếp thiên tử, miễn là giữ được trật tự. Tào Tháo không thắng vì mạnh hơn Lữ Bố, cũng không vì tàn bạo hơn Đổng Trác, mà ông thắng vì hiểu rằng lịch sử là trò chơi của hệ thống, không phải của cá nhân.

Vậy lịch sử đã chọn ai ? Đổng Trác đại diện cho thứ quyền lực thô thiển, chết nhanh. Lữ Bố đại diện cho anh hùng cá nhân, không bền vững. Tào Tháo đại diện cho trí tuệ có tổ chức, nên đã để lại di sản cho nhà Nguỵ. Tất nhiên xưa nay lịch sử không phán xét bằng lời nói, mà bằng kết cục. Kết cục của Tam Quốc rất rõ, trong thời loạn, người hiểu quy luật, sẽ sống sót và viết tiếp câu chuyện lịch sử, còn kẻ chỉ tin vào sức mạnh hoặc hào quang cá nhân, sẽ trở thành một chương bi kịch bị lãng quên !

Giờ mạn phép "bàn loạn" đến một vài biểu tượng của đạo đức và tài năng trong Tam Quốc Chí. Đó là những nhân vật luôn được hậu thế kính trọng, trong đó nổi bật nhất là Khổng Minh Gia Cát Lượng, Lưu Bị, Quan Công. Và cuối cùng, tất nhiên là một nhân vật không thể thiếu, Tư Mã Ý, người trụ lại sau cùng của cuộc chơi thời Tam Quốc :-) .

Trước tiên hãy nhìn lại lịch sử của nhân loại, có một nghịch lý rất cay đắng, đó là những người được yêu mến nhất, không phải lúc nào cũng là người chiến thắng sau cùng. Đọc Tam Quốc cũng vậy, lòng người luôn nghiêng về Lưu Bị nhân nghĩa, Quan Công trung liệt, và Khổng Minh mưu lược, trung thành, tận tụy đến chết. Nhưng đáng tiếc họ không phải là người chiến thắng. Họ giống như những vì sao sáng rực rỡ, có phương hướng đạo đức rõ ràng, và chết trong tư thế “đẹp”, đầy lý tưởng. Nhưng thực tế lịch sử không thưởng công cho vẻ đẹp đạo đức, mà giữ lại những con người biết cách tồn tại, sống sót lâu nhất trong giòng dịch chuyển của đời sống vô thường. Và người đó là Tư Mã Ý.

Một khi nhắc đến Khổng Minh, ai lại chẳng nể phục? Ngay cả kẻ thù cũng phải kính trọng, nể nang ông. Nhớ hồi nhỏ, có một thời mình mê mẫn nhân vật này mà bỏ học bỏ hành. Đi lục lọi tìm đọc đủ thứ sách, để mong được "trên thông thiên văn, dưới rành địa lý" như Khổng Minh. Lớn lên có lúc ngồi nhìn lại, phì cười một mình :-).

Quả nhiên Gia Cát Lượng là một hình ảnh cao quý - trung, tận, trí, liêm - gần như là lý tưởng hoàn hảo của Nho giáo, và là hình ảnh khuôn mẫu của người quân tử Á đông. Nhưng chính vì vậy, ông không thể chấp nhận thua cuộc được. Hình ảnh của ông phải được hoàn hảo, phải chính nghĩa, phải an dân, phải được kính trọng, phải được tôn vinh, kể cả nhiều lần vấp ngã của bản thân. Đó cũng chính bi kịch của người còn chấp trước “chính nghĩa phải thắng” ! 

Khổng Minh 5 lần đem quân Bắc phạt, cho đến khi kiệt sức qua đời, nhưng vẫn thất bại. Ông không thua vì kém trí, không thua vì kém đạo đức, mà thua vì thế lực và thời thế, vì sự bám chấp của bản thân. Khổng Minh phải trung với Hán, phải vì chính nghĩa, phải biết trước thiên hạ, phải tạo phúc cho bá tánh, phải ra tay trước đối phương .v.v... Ông đánh trận như đang gánh đạo lý của cả thiên hạ, và gánh nặng đó thuộc về tự ngã của bản thân và sự chấp trước của một sứ mệnh hoàn hảo !

Tư Mã Ý thì không. Tư Mã Ý không mang giấc mộng phục Hán. Ông cũng không cần chứng minh mình “đúng”. Đây là sự khác biệt giữa người còn trụ vào ngã "đạo đức", và người đã buông vai diễn lịch sử. Khổng Minh chết vì tận lực, Tư Mã Ý sống vì… không tận lực khi chưa đến lúc !

Tư Mã Ý không có “hình ảnh” để giữ. Ông không cần chết đẹp, chỉ cần sống đủ lâu, cho nên có thể nói rằng Tư Mã Ý hiểu được “vô ngã" danh vị. Khi Gia Cát Lượng dùng kế sĩ nhục, gởi tặng cho bộ yếm phụ nữ, ông đã ung dung mặc vào đi trước ba quân, chỉ quan tâm hỏi thăm sức khoẻ của Khổng Minh. Không phải ông lãnh đạo nào cũng làm được điều này. Nếu phải so sánh Tào Tháo với Tư Mã Ý, thì tạm gọi Tào Tháo là người hiểu được vô thường, còn Tư Mã Ý là người… ở yên trong vô thường. Tào Tháo không tự xem mình là thánh nhân. Ông cũng không cố gắng đóng vai kẻ phản diện một cách lãng mạn. Ông hành xử như một người biết rằng mình đang lội trong bùn, và không giả vờ rằng bùn là hoa sen. Tào Tháo chấp nhận để người đời nguyền rủa mình. Đây là một dạng vô ngã nghịch lý, không bám vào hình ảnh đạo đức của bản thân. Trong PG, gọi đó là “không trụ vào nơi tướng mà hành đạo”. Tào Tháo không trụ vào danh xưng trung thần, danh bạo chúa, danh anh hùng gì cả, mà ông chỉ dựa vào kết quả thực tế. Tất nhiên, Tào Tháo không phải là người giác ngộ, càng không phải là Phật tử, nhưng khác nhau là Tào Tháo nhìn thấy sự vô thường của thời cuộc, và chủ động can thiệp. Còn Tư Mã Ý thì cũng nhìn thấy vô thường nhưng không vội hành động, mà kiên nhẫn đợi chờ. Đây là điểm khác biệt then chốt !

Ở Tư Mã Ý, người ta dễ dàng nhận thấy ông hội đủ những tính cách rất quan trọng, là nhẫn nhịn và quan sát, không cưỡng cầu, không bộc lộ. Ông không tìm cách “làm nên thời đại”. Ông chỉ để thời đại tự bào mòn làm lộ diện sự khiếm khuyết, và những ham hố danh lợi vô bổ chung quanh. Trong khi các "anh hùng" khác muốn thắng nhanh, nổi tiếng, ham hố quyền lực trong thời loạn, thì kẻ ẩn nhẫn chỉ cần… sống sót. Tư Mã Ý đã chọn cách này để tồn tại dưới trướng Tào Tháo, ung dung chờ đến phiên mình :-) .

Nhiều người cho rằng Tư Mã Ý nể sợ Tào Tháo, mình thì không nghĩ vậy, nhưng ông là một kẻ biết ẩn mình. Tư Mã Ý là một người vô cùng cao ngạo nhưng biết tiết chế bản thân. Nếu có một người để TMY nể phục về tài năng, thì người đó là Khổng Minh. Nhưng TMY đã nhanh chóng nhận ra ông có lợi thế hơn KM về thời gian và sức khoẻ. Còn đối với Tào Tháo và các vua con, giòng dõi, hậu duệ của Tào Tháo và nhà Nguỵ, không là gì trong mắt của TMY, nhưng bên ngoài ông vẫn nghi lễ chờ thời ! 

Trong Thiền tông PG có câu nói “Nhẫn không phải để thắng người, mà để thắng thời gian". Khi tất cả các anh hùng danh tiếng lần lượt mệt mỏi ra đi, Tư Mã Ý vẫn còn đó, không phải vì ông mạnh hơn, mà vì ông ít bị tiêu hao hơn. Cho nên nhiều nhà phân tích thời cuộc ngày nay, họ không lo ngại bởi một nhân vật nào đó to tiếng, ầm ĩ khoe khoang, mà họ e ngại những kẻ biết dấu mình, biết thổi phồng sức mạnh của đối phương, biết nhẫn nhịn, sẵn sàng bơm bong bóng cho những kẻ hám danh, kéo dài thời gian chuẩn bị, đợi chờ thời cơ thích hợp đằng sau hậu trường !

Tất nhiên, lịch sử sẽ không yêu Tư Mã Ý, bởi vì ông không cho ta một hình mẫu đạo đức để cho thiên hạ ngưỡng mộ. Ông không chết vì nghĩa, cũng không sống vì lý tưởng cao đẹp, cũng không để lại lời trăn trối cảm động lâm ly bi đát gì. Ông chỉ để lại một kết cục, đó là kết quả của nhân duyên, chứ không phải công trạng đạo đức. Cuối cùng ông có thể ung dung lật đổ một triều đại để lập ra một triều đại mới. Lịch sử cần người như Tư Mã Ý, nhưng văn học và lòng người thì không !

(Mở ngoặc chút, nhớ hồi nhỏ mình coi Tam quốc Chí, ghét nhất là Tư Mã Ý. Sau này lớn lên, nhìn hình ảnh họ Đặng cuối rạp mình trước tổng thống Carter trước khi xua quân tấn công giết chóc dân VN năm 1979, mình cứ ám ảnh là Đặng Tiểu Bình và Tư Mã Ý có nhiều điếm tương đồng. Tuy nhiên không ai phủ nhận rằng sở dĩ TQ có được ngày hôm nay là nhờ công lớn của Đặng Tiểu Bình, một đại công thần của TQ hiện đại. Bởi vậy nhiều khi đọc về những cuộc chiến tranh hoặc các diễn biến chính trị thời cận đại gần đây, nhiều người cứ nghĩ rằng (hoặc mong muốn rằng) kẻ thắng cuộc phải là kẻ đúng, kẻ nhân từ, hoặc là người tốt, nhưng thực tế thì không phải như vậy. Xưa nay kẻ thắng cuộc chưa chắc là kẻ đúng, cũng không hẳn là "người tốt" theo nghĩa đạo đức ở đời, mà là những kẻ không bị cuốn đi, thậm chí là kẻ có nhiều thủ đoạn hơn hoặc vô liêm sĩ. Nhưng đáng tiếc đó lại là sự thật, bởi thực tế không phải là câu chuyện cổ tích hoặc các phim ảnh cao bồi Viễn Tây).


Còn Quan Công, Lưu Bị thì đơn giản hơn, hoàn hảo hơn, bởi vì họ là những anh hùng chính diện, là những cái "đẹp" lý tưởng của Nho giáo, "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", "tam cương ngũ thường" ... Tuy nhiên, khi con người quá bám víu, trụ vào những giá trị đạo đức mang tính quy ước, thì lại vướng phải những trở ngại to lớn hơn của sự chấp trước. Quan Công trung nghĩa đến mức trở thành biểu tượng. Lưu Bị nhân ái đến mức được người đời tôn kính. Trong PG, quan niệm rằng chấp "thiện" cũng là chấp, chứ không phải chỉ có chấp "ngã", chấp "pháp" .... Cho nên trong kinh điển có những câu chuyện nói về các vị tu sĩ, tu hoài, tu miết, làm toàn chuyện tốt chuyện thiện, thông làu kinh sách, nhưng không thể đạt tới sự giác ngộ được. Còn đời thường tục đế thì thôi khỏi nói rồi, mở mắt ra là gặp "nhị nguyên", chấp thiện chấp ác khắp mọi nơi :-) .

Nôm na, Quan Công chấp "trung", không chịu linh hoạt, làm mất Kinh Châu. Lưu Bị chấp "nghĩa", xuất quân báo thù, dẫn tới đại bại Di Lăng. Cả hai đều đặt đạo lý lên trên thời thế. Trong một thế giới đổ vỡ, điều đó tạo ra một bi kịch đẹp, chứ không tạo ra được một kết cục có hậu. 

Nhìn lại lịch sử, điều nguy hiểm nhất của quyền lực không phải là tàn bạo, mà là tự đồng hóa mình với quyền lực. Khi con người không còn phân biệt được đâu là mình, đâu là vai diễn, đâu là chức vị, thì mọi quyết định đều dễ trở thành mù quáng. Nếu nhìn Tam Quốc Chi như một bài học, ta có thể tóm gọn rằng ai cũng vướng vào những dạng chấp trước của riêng họ. Lưu Bị và Quan Công, thiện nhưng còn chấp. Khổng Minh, trí nhưng còn trụ.Tào Tháo, tỉnh nhưng còn tạo nghiệp. Tư Mã Ý, nhẫn nhục, chờ đợi, không làm biểu tượng nhưng âm thầm nuôi dưỡng tham vọng. Tuy nhiên, trong thế giới vô thường, kẻ không làm biểu tượng thường là kẻ sống sót sau cùng. Đó không phải là chiến thắng của đạo đức, cũng không phải chiến thắng của gian trá, mà là chiến thắng của sự hòa tan vào thời thế. Một chiến thắng lạnh, nhưng rất thật, đúng với bản chất của lịch sử !

Nhưng rốt cuộc thì mọi chuyện vẫn không thể thoát khỏi quy luật vô thường của tạo hóa. Hết triều đại này sẽ đến triều đại khác, hết thời kỳ này đến thời kỳ kia, thịnh suy thời nào cũng có, hết Tào Ngụy rồi đến Tây Tấn cũng bị diệt vong. "Vận nước" của quốc gia nào rồi cũng nổi trôi theo từng giai đoạn, có lúc may mắn, gặp người lãnh đạo đủ tầm, đủ đức, đem lại sự an yên và thịnh vượng lâu dài cho dân tộc. Ngược lại có lúc đất nước gặp những ông vua háo danh, háo sắc, kém tài, để lại sau lưng những di sản và năm tháng đau thương, chia rẽ, đổ nát, mà phải tốn nhiều năm tháng mới khôi phục lại được.

Lịch sử thế giới đã quá dài, quá nhiều thăng trầm, để những bài học căn bản ấy không còn là điều xa lạ với bất kỳ ai muốn nhìn, muốn học. Cho nên, tin tức thời sự thì cứ đọc cho biết, cho “cập nhật” với thiên hạ. Muốn cãi thì cứ cãi, để trau dồi khả năng hùng biện, giảm thiểu các căn bệnh đãng trí mau quên, nhưng cũng mong đừng bám chấp quá sâu vào điều đó. Lại càng không nên trụ vào những ông chú “Vịt teo” hay các thông tấn xã bàn phiếm tự phát. Cực đoan bao giờ cũng không phải là điều tốt đáng theo đuổi. Mọi thứ trong cuộc sống đều vận hành theo quy luật của nó. Bám chấp cưỡng cầu chỉ làm khổ mình, khổ người.

Nhu cầu muốn chứng tỏ và được chứng tỏ của loài người thì lúc nào cũng tồn tại. Khi nào không còn nhu cầu ấy nữa, có lẽ tâm thức đã rẽ sang một lối đi khác. Biết đâu lúc đó lại được ngắm nhìn nhiều hoa thơm cỏ lạ hơn ?

Thôi, phiếm chút cho vui. Chúc tất cả mọi người một cuối tuần bình an, thân tâm an lạc.

PN 



Wednesday, December 24, 2025

Chúc mừng Giáng Sinh và Năm mới 2026 !


Năm nay, thời tiết ở Mỹ lạnh sớm hơn mọi năm. Mùa lễ hội Giáng Sinh cũng có vẻ trầm lắng hơn, ít mua sắm và chuẩn bị hơn mọi khi. Một phần vì kinh tế khó khăn, phần khác vì tâm trạng bất an len lỏi trong đời sống nhiều người, nhất là những cộng đồng di trú, kể cả những người có quy chế hợp pháp. Nhưng dẫu thế nào, đêm Giáng Sinh vẫn là đêm của những cõi lòng rộng mở, đêm của thương yêu và chia sẻ, nơi con người tìm về với gia đình, bạn bè, và những ấm áp bình dị. Nhiều gia đình đã dựng cây Noel từ sau lễ Tạ Ơn, để tận hưởng hương vị lễ hội suốt mùa đông, đến tận giữa tháng Giêng mới gỡ xuống.

Nhân có một số bạn bè hỏi thăm về nguồn gốc của ngày 25/12, mình xin tóm lược đôi chút. (Xin lỗi mình vốn không phải là người Ki tô giáo, nên nếu có nhẫm lẫn gì thì các bạn ý kiến chỉnh sửa dùm nhé). Từ lâu, phần đông quen nghĩ rằng Giáng Sinh (25/12) là ngày Chúa Jesus được sinh ra. Nhưng theo đa số học giả và sử gia Kinh Thánh, Chúa Hài Đồng không sinh vào ngày ấy, thậm chí cũng không sinh vào năm ấy. Tuy nhiên, điều đó không ảnh hưởng gì đến ý nghĩa tôn giáo của lễ Giáng Sinh, bởi nhân loại đã chọn một ngày để mừng “ánh sáng đến với thế gian”, một biểu tượng của niềm hy vọng cứu rỗi, và niềm vui được chia sẻ giữa con người với nhau.

Dựa vào nhiều dữ kiện lịch sử, các nhà nghiên cứu cho rằng Chúa Jesus có thể đã sinh vào mùa Xuân hoặc mùa Thu, khoảng năm thứ 4 đến thứ 6 trước Công Nguyên. Vua Herod chết vào năm 4 BCE, mà Jesus thì sinh trước khi Herod mất (vì Herod chính là người ra lệnh truy sát Hài Nhi). Thêm vào đó, đoạn Kinh Luca nói về các mục đồng canh giữ đàn chiên ban đêm, điều vốn chỉ xảy ra vào mùa Xuân hoặc mùa Thu, khi thời tiết ấm, thuận lợi cho đàn cừu. Các cuộc kiểm tra dân số La Mã thời đó cũng diễn ra vào cuối mùa thu, khi nông dân rảnh rỗi sau mùa gặt.

Vậy, vì sao Đế quốc La Mã chọn ngày 25/12 làm lễ Giáng Sinh?

Ngày 25/12 vốn là ngày lễ ngoại giáo lớn của La Mã cổ, lễ Sol Invictus, tôn vinh "Thần Mặt Trời Bất Khả Chiến Bại". Ngày lễ này cũng mang ý nghĩa mặt trời "hồi sinh" sau ngày Đông chí, và là một lễ hội cực kỳ quan trọng của dân La Mã. Cuối tháng 12 còn có lễ Saturnalia (17–24/12), mùa hội hè, tặng quà, đèn đuốc và tiệc tùng. Khi Kitô giáo trở thành quốc giáo La Mã, Giáo hội chọn ngày 25/12 để giúp dân ngoại dễ tiếp nhận lễ mới, hòa nhập vào các truyền thống quen thuộc. Năm 354, Giáo hoàng Liberius chính thức ghi ngày 25/12 là “Dies Natalis Christi” – Ngày Sinh của Đức Kitô. Từ đó, chúng ta có đêm Giáng Sinh 24/12 và ngày 25/12 như ngày nay.

Lịch sử của ông già Santa Claus và cây Noel cũng là câu chuyện giao thoa văn hóa thú vị. Hình ảnh ông già Noel (Santa Claus) ngày nay là sự kết hợp của ba nguồn gốc lớn. Thứ nhất là ông thánh Nicholas của Ki tô giáo, nổi tiếng vì giàu lòng bác ái, cứu giúp trẻ em và người nghèo. Kế đến là ông thần Odin của các nước Bắc Âu, ông thần có giai thoại thường cưỡi ngựa bay (Sleipnir) trên bầu trời vào mùa đông để ban thưởng cho trẻ em. Còn nguồn gốc thứ 3 thì hơi thực dụng chút, là do mấy ông Mỹ vẽ vời ra. Những nguời Hà Lan ngày xưa gọi ông Thánh Nicholas là "Sinterklaas". Khi di cư sang Mỹ, họ mang theo truyền thống này. Mấy ông Mỹ đọc nhại riết, rồi từ chữ "Sinterklaas" trở thành "Santa Claus", kiểu như mấy ông Tây ông Mỹ học tiếng Việt, đọc riết chữ "đảm đang" thành "dâm đãng" :-). Nhưng phải nói công trạng lớn nhất của người Mỹ là đã “hoàn thiện” được ông già Noel như ngày hôm nay. Một ông già Santa cưỡi xe tuần lộc, vào nhà bằng ống khói, có một thân hình mập mạp, râu ria và vui tính. Riêng chuyện ông già Noel luôn mặc áo đỏ viền trắng, thì công trạng thuộc về .... ông Trump. Giỡn chút thôi, chứ công cán thuộc về hãng nước ngọt Coca Cola :-). Vào thập niên 30+, ông họa sĩ Haddon Sundblom đã vẽ ông già Noel trong chiến dịch quảng cáo Coca Cola, mặc áo đỏ, râu trắng, bụng phệ, hiền hòa, vui vẻ ... và từ đó hình ảnh ông Santa đỏ trắng bắt đầu phổ biến toàn cầu cho đến nay. Không biết sau này có ai đó lại sáng kiến một hình mẫu ông già Noel mới, hoặc đổi tên lại cho giống ông xoài, ổi, nào nữa không, thì chưa biết :-).

Tương tự, lịch sử cây Noel cũng có nguồn gốc từ tục thờ cây xanh trong mùa đông của châu Âu cổ đại. Rồi nước Đức là nơi biến nó thành cây Giáng Sinh thật sự, và Anh và Mỹ đưa nó thành biểu tượng lễ hội Giáng Sinh toàn cầu. Cây Noel tượng trưng cho sự sống trong mùa đông, hy vọng, ánh sáng thắng bóng tối, và sự đoàn tụ gia đình. Những ý nghĩa này theo các nhà nghiên cứu đã được tồn tại rất lâu từ trước thời Chúa Jesus ra đời. 

Xưa nay vẫn vậy, đằng sau mỗi biểu tượng hoặc tục lệ bao giờ cũng bắt đầu bằng những điển tích hoặc câu chuyện văn hoá địa phương thú vị, rồi lan toả và ảnh hưởng nhiều nơi. Xét cho cùng, mọi biểu tượng đều vô thường, được xây dựng và tái tạo theo tâm thức con người qua từng thời đại.



Mấy hôm trước, đi shopping mua quà Noel với con, thấy một nhóm biểu tình ngay trước trung tâm thương mại, giăng biểu ngữ kêu gọi nhân viên ICE rời khỏi thành phố. Bốn mươi năm sống trên đất nước này, mình chưa hề thấy cảnh tượng như thế, nhất là vào những ngày vốn rất an bình của mùa lễ hội Giáng sinh. Trong lòng dấy lên một chút gì xót xa khó tả !

Lâu nay ai cũng biết đất nước Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ (USA) được xây dựng từ những đôi tay và khối óc của người di dân. Từ buổi lập quốc đến nay, Mỹ vẫn là miền đất hứa, nơi cưu mang nhiều thế hệ di trú và tị nạn nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào. Những hàng dài trước các lãnh sự quán Mỹ trên khắp thế giới cho thấy rằng, dù đất nước có những thăng trầm hoặc có những thời kỳ chưa hoàn thiện lắm, nước Mỹ vẫn là biểu tượng của hy vọng, của cơ hội, của những giấc mơ được bắt đầu nuôi dưỡng.

Người tị nạn (refugees) đến đây theo nhiều con đường khác nhau, tị nạn chính trị, tị nạn "giáo dục", tị nạn tôn giáo, tị nạn dân chủ…v.v. Người di trú (immigrants) cũng vậy, có nhiều lý do khác nhau để ra đi. Nhưng đằng sau tất cả những danh xưng hình thức đó, họ đều có một lý do chung. Đó là rời bỏ quê hương để tìm một nơi tốt đẹp hơn cho bản thân và cho thế hệ mai sau. Tất nhiên, đại đa số người tị nạn nếu không vì hoàn cảnh bắt buộc họ sẽ không chọn lựa rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

Nói đến đây, mình chợt nghĩ đến một trong những gia đình tị nạn đầu tiên trong lịch sử, đó là gia đình của Chúa Jesus - Mary, Joseph và Hài Nhi Jesus. Họ phải bỏ xứ ra đi, chạy trốn sự bạo tàn của vua Herod, một kẻ lo sợ mất quyền lực đến mức ra lệnh tàn sát trẻ sơ sinh ở Bê-lem (Bethlehem). Joseph bồng vợ con chạy sang Ai Cập, một đất nước xa lạ về ngôn ngữ, văn hóa và niềm tin. Họ ra đi mang theo không gì khác hơn ngoài nỗi lo sợ và một tia hy vọng mong manh. Về bản chất, đó chính là những người tị nạn, và cũng là câu chuyện mở đầu của lễ Giáng Sinh.

Nhiều người từng hỏi, vậy Mary và Joseph có phải là tị nạn chính trị không? Kinh Thánh chép rằng sau khi Jesus sinh ra, vua Herod nghe tin "một Vị Vua mới" xuất hiện nên ra lệnh giết tất cả trẻ em trai dưới hai tuổi ở Bê-lem (sự kiện này gọi là The Massacre of the Innocents - Cuộc tàn sát các hài nhi vô tội). Được thiên sứ báo mộng, Joseph phải đem Mary và Chúa Hài đồng Jesus trốn sang Ai Cập. Họ chạy trốn vì bị truy sát bởi một chế độ độc tài, đó chính là tị nạn chính trị. Họ sống ở Ai Cập cho đến khi Herod chết mới trở về Nazareth. Vì thế, Mary, Joseph và Jesus được xem là những người tị nạn chính trị đầu tiên trong lịch sử Ki tô giáo. Cũng vì lẽ đó mà trong thần học hiện đại, việc giúp đỡ người tị nạn được xem như một nghĩa vụ đạo đức thiêng liêng.

Bởi vậy, nếu nhìn dưới ánh sáng lịch sử, Giáng Sinh không bắt đầu bằng ánh đèn lung linh, mà bằng nỗi bất an và hành trình chạy trốn của một gia đình nghèo. Nhiều người tị nạn ngày nay cũng vậy, họ rời quê hương với một phần ký ức đứt gãy và một tương lai chưa định hình rõ rệt.. Trong số chúng ta, bản thân nhiều người hoăc cha mẹ, ông bà tổ tiên, từng là người tị nạn. Họ mang trong mình hai quê hương, một quê nhà ở phía sau, một quê người trước mặt, và trong lòng là một khoảng trống khó đặt tên. Họ sống âm thầm giữa đất khách, đi qua những góc khuất mà hiếm khi được lịch sử nhắc đến.

Trong mỗi người tị nạn đều có một “Bê-lem” riêng, nơi họ bắt đầu, nơi họ rời bỏ, nơi họ vẫn mãi không thể quên. Nhưng họ vẫn phải bước tiếp, cũng như Joseph và Mary, bởi cuộc đời không có một con đường quay lại trọn vẹn. Vì thế Giáng Sinh không chỉ nói về việc Chúa Hài đồng được sinh ra, mà còn là câu chuyện về hành trình của những con người bé nhỏ trước quyền lực lớn, về sự hy sinh thầm lặng của các bậc cha mẹ, và về sức mạnh âm thầm của niềm hy vọng.

Giáng Sinh cũng nhắc chúng ta rằng trước khi là câu chuyện thiêng liêng của đấng Cứu thế, đó còn là câu chuyện của con người - Một đứa trẻ sinh ra trong máng cỏ, một gia đình lầm lũi chạy trốn, và những bước ngoặc đầu đời của một hy vọng mong manh. Nhưng đáng tiếc là đến ngày hôm nay, câu chuyện "rời bỏ quê hưong đi tìm đất sống" ấy vẫn đang tiếp tục tái diễn ở nhiều nơi, khắp các biên giới, các trại tị nạn ... Vẫn còn đó, những phận người nhỏ bé vô danh, trốn chạy tìm nơi nương náu, ngay cả trên nước Mỹ, nơi từng là biểu tượng hy vọng của bao con người bất hạnh từ những vùng đất xa xôi. Hy vọng trần gian vẫn luôn nhớ rằng lễ Giáng Sinh bắt đầu từ nỗi khổ của một gia đình tị nạn, và sự sống đã được nuôi dưỡng và lớn lên nhờ lòng nhân ái của những người đã dang tay đón nhận họ.

Mở ngoặc chút nói thêm về câu chuyện an ninh di dân di trú. Xưa nay ở đâu cũng vậy, cho dù là người tị nạn (refugees) hay người di trú (immigrants), cho dù nguồn gốc xuất xứ dân tộc khác nhau, trình độ văn hoá khác nhau, nhưng ai cũng mong muốn đất nước họ sinh sống được an yên, không đầy rẫy kẻ xấu, tội phạm, hoặc người cư trú bất hợp pháp. Ai cũng muốn con cái họ có một môi trường phát triển tốt, gia đình yên ổn làm ăn sinh sống, tuân thủ đầy đủ bổn phận công dân, trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, bên cạnh đó, con người cũng mong được đối xử bằng sự tử tế và bình đẳng. Không ai muốn chứng kiến cảnh chính trị hóa đời sống, hay vũ khí hoá các vấn đề xã hội, lợi dụng danh nghĩa “hợp pháp” để cậy mạnh hiếp yếu, kỳ thị, chà đạp nhân phẩm người khác. Bởi dù khác màu da, khác tiếng nói, khác hoàn cảnh, nhưng phẩm giá con người vẫn luôn là điều đáng được tôn trọng trước tiên.

Nhân mùa Giáng Sinh và năm mới 2026 sắp đến, kính chúc quý anh chị em, bằng hữu và gia đình một đêm Giáng Sinh an lành, và một năm mới nhiều sức khỏe, bình an, may mắn.

Merry Christmas and Happy New Year!


PN (2025)



Saturday, December 13, 2025

Vài suy nghĩ vụn về "Nhị Nguyên" trong PG.


Nói đến lý thuyết “nhị nguyên” thì đối với nhiều người không còn xa lạ gì nữa. Từ thuở bập bẹ, tóc chỏm đuôi gà, khi mà tâm trí chưa đủ khả năng phân tích hay nhận định vấn đề, thì cuộc sống, gia đình, nhà trường, xã hội ... đã bắt đầu định hình chúng ta bằng những "cặp phạm trù" hay khái niệm nhị nguyên dựa trên các quy ước vùng miền với ngôn ngữ văn hoá nhất định nào đó. Những khái niệm ấy, theo thời gian, trở thành những “mặc định nhận thức” đi cùng năm tháng và lớn lên cùng với chúng ta. Từ đó, phần lớn quan niệm về chánh-tà, đúng-sai, thương-ghét, tốt-xấu ... của mỗi cá nhân được xây dựng trên nền tảng của tư duy nhị nguyên này.

Nói một cách đơn giản hơn, từ nhỏ, đọc truyện xem phim đã "biết" bên nào là thiện, bên nào là ác. Chơi với bạn bè thì học phân biệt “thương-ghét”, “quân tử-tiểu nhân”. Lớn lên chút, tiếp xúc nhiều hơn với sách vở và xã hội, có thêm chút đỉnh kiến thức, lại củng cố những phân định như đúng-sai, thành công-thất bại, sang-hèn, giỏi-dở, thông minh-ngu dốt... Đến khi đất nước bước vào chiến tranh, sự phân đôi càng rõ, địch-ta, quốc gia-cộng sản, bên này-bên kia, thương mến-hận thù.... Khi chiến tranh kết thúc, những đối lập mới lại xuất hiện như lý lịch tốt-xấu, miền Nam-miền Bắc, quân ta-quân “ngụy”... Một người lỡ nói điều trái tai hay bày tỏ quan điểm phản biện, dù chẳng động dao động thớt gì, cũng dễ bị gán nhãn mác là “phản động", hoặc thành phần nọ kia .v.v.. Vô tình hay cố ý, tất cả đều là những biến dạng của tư duy nhị nguyên, cứ không phải “ta” thì mặc nhiên trở thành “địch” !

Rồi ngay cả khi có nhiều người may mắn được ra nước ngoài sinh sống, học hành, thì những mô thức nhị nguyên này vẫn được tiếp tục mang theo. Có khác chăng là thay vì dùng từ “phản động”, người ta chuyển sang thủ sẵn vài chiếc “nón cối” trong đầu. Hễ ai nghịch ý mình, hoặc “yêu nước” theo cách không giống mình, thì lập tức ban phát cho vài chiếc nón cối, rồi tranh chấp địch-ta cho đến hết phần đời còn lại. 

Nhưng đó mới chỉ là câu chuyện quê nhà. Vậy dân bên Tây bên Tàu có khá hơn không?

Tất nhiên là có khác, khác văn hoá, khác hình tướng, khác thể chế... Nhưng xét về tư duy nhị nguyên, thì cũng chẳng khác bao nhiêu. Đặc biệt là công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, thông tin càng đa dạng, thì những thiên kiến nhận thức và tư duy đối lập ngày càng nhiều. Ví dụ như chuyện chính trị chính em tại Mỹ, trong những năm gần đây xuất hiện nhiều hiện tượng phân hoá, tư duy đối lập rất khôi hài, thậm chí ngô nghê. Không rõ khởi đầu từ đâu, mà từ đen cho đến trắng, từ ướt cho đến ráo, từ cơm cho đến đậu, từ ông dân cho đến ông quan, từ người chỉ đọc báo mạng, cho đến kẻ chỉ nghe đài FB, YouTube, Tiktok… đa số mặc định như thế giới này chỉ còn hai phe CH và DC. Ai không thích cánh tả thì bị xếp vào cánh hữu; ai phê phán CH thì lập tức bị gán là DC. Ai không ưa Biden thì chắc chắn là khoái Trump...v.v... Lối suy nghĩ này na ná chuyện tiếu lâm bên nhà, hễ chán cơm thì phải tìm phở; hễ vợ là “địch” thì bồ bịch là “ta". Và cũng chính vì thế, tư tưởng nhị nguyên có đất dụng võ, có đầy đủ lý do chính đáng để tiếp tục xoay vòng, lẩn quẩn luân hồi, bám riết lấy con người đời này sang đời khác :-). (Dĩ nhiên, không phải ai cũng suy nghĩ như vậy. Vẫn có nhiều người rất tỉnh táo, sáng suốt, phân biệt rạch ròi, không vướng vào tư duy "nhị nguyên", nên không hề bị lôi cuốn vào những câu chuyện lẩm cẩm ấy).

Nhân nhắc đến “nhị nguyên”, mình cũng muốn tản mạn đôi chút về đề tài này. Nhưng đây là một lý thuyết vô cùng quan trọng trong PG, mình không dám nhận là hiểu biết thấu đáo, lại càng không có ý giảng thuyết hay tranh luận đúng sai, chỉ xin chia sẻ đôi cảm nghĩ cá nhân, nên ai thích thì tìm đọc thêm nghen. Trong triết học Ấn Độ, Advaita Vedānta (Bất Nhị), cũng như triết học phương Tây của Immanuel Kant, đều bàn đến những hiện tượng rất gần với cái gọi là “nhị nguyên”, nếu ai muốn tìm hiểu sâu hơn. Dĩ nhiên, nói đến những lý thuyết sâu sắc này là phải đụng đến vài thuật ngữ trong kinh điển PG, đôi khi hơi khó hiểu. Có nhiều tác giả viết cả cuốn sách vẫn chưa nói hết ý của tư tưởng Nhị Nguyên. Cho nên với phạm vi ngắn ngủi của bài viết này, chủ yếu là đọc cho vui thôi. Mình vốn không thích sự giới hạn của ngôn ngữ, nhưng nếu không dùng ngôn ngữ thì lại chẳng diễn đạt được gì. Đây quả nhiên là một nghịch lý, mong thông cảm vậy :-) .

Trong triết học phương Tây, “nhị nguyên” thường mang nghĩa dualism, là hai thực thể độc lập như thân-tâm, hay vật chất-tinh thần. Kant thì cho rằng tâm luôn đóng vai trò trung gian, vì vậy tri giác của con người mang tính cấu trúc chủ quan. Nhưng trong Phật giáo, “nhị nguyên” không phải là cấu trúc của thế giới, mà là cách "tâm" phân chia, và đối lập hóa thực tại. Chính cái nhìn phân chia này mới là nguồn gốc của vô minh, và là chướng ngại của sự giác ngộ, giải thoát.

Phật giáo gọi đây là "nhị nguyên phân biệt" (tiếng Phạn là Dvaya), nghĩa là con người luôn bị vướng vào hai cực đối lập như có-không, còn-mất, đúng-sai, sạch-dơ, thiện-ác… Nhị nguyên chỉ xuất hiện khi con người đặt tên, đóng khung, phân chia, hoặc phán xét thế giới chung quanh bằng các khái niệm đối lập, nhưng những đối lập này không tồn tại độc lập, chúng sinh ra từ sự vận hành của Tưởng và Thức trong Ngũ Uẩn. Cho nên Phật giáo cho rằng Nhị Nguyên không phải là bản chất của vạn vật hoặc vạn pháp (theo từ ngữ của PG), mà chỉ là cách tâm phân loại. Nhị nguyên chỉ là một ảo tưởng của nhận thức, không phải thực tại khách quan. Nhị nguyên cũng là biểu hiện của chấp thủ, nguyên nhân chính là do tâm không thấy được duyên khởi và tính Không của vạn vật .


Sự giác ngộ, dưới cái nhìn của PG không phải là tích lũy tri thức, hay đạt đến cảnh giới nọ kia hoặc chức danh nào đó, mà là thấy được thực tại như nó đang là (tiếng Phạn là yathābhūta), tức thấy bằng trí tuệ vô phân biệt (nirvikalpa-jñāna). Nhưng chính tư tưởng nhị nguyên đã che lấp trí tuệ này bằng nhiều cách khác nhau.

Một trong những tác động đầu tiên của nhị nguyên là sinh ra chấp thủ. Khi có hai bên đối lập, tâm sẽ chọn một bên và loại trừ bên kia. Ví dụ như ghét phe này thì phải chọn phe kia, không ưa điều này thì lập tức ôm lấy điều ngược lại. Từ đó nảy sinh yêu-ghét, bảo vệ-chống đối, và vô số phản ứng kéo theo. Nhưng cho dù bám vào bất kỳ bên nào thì cũng dẫn đến khổ đau. Trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật dạy rằng “do chấp thủ mà khổ sinh”. Quả nhiên là vậy, bởi chấp thủ nên tâm con người khó giữ được trung đạo. Và vì thế họ không thể thảnh thơi, luôn dính mắc, không thể có được tự do thực sự .

Một luận điểm quan trọng nữa là "nhị nguyên" che lấp tính Không (emptiness). PG quan niệm vạn pháp đều vô tự tính, vô thường, và do duyên khởi. Nhưng khi tâm con người chia thế giới thành hai bên, họ gán cho sự vật những bản chất cố định. Điều này trái ngược hoàn toàn với cái thấy của trí tuệ Bát Nhã  “Sắc tức thị Không”. Thực tế thì không có sự thành tựu nào tồn tại độc lập, cũng không có cái đẹp nào độc lập, mà cũng chẳng có cái xấu nào độc lập. Không có “ta”, mà cũng chẳng có “người”, theo nghĩa tuyệt đối, nhưng "nhị nguyên" khiến cho con người không thể thấy được tầng sâu sắc này. 

Đồng thời, nhị nguyên cũng nuôi dưỡng bản ngã. Trong đời sống hằng ngày, cặp nhị nguyên lớn nhất chính là “Ta” và “Không phải ta”. Khi tâm đặt cái tôi “tự ngã” ở một phía, và thế giới còn lại ở phía bên kia, thì mọi phát sinh kiêu mạn, ganh ghét, sợ hãi, cố chấp ... theo đó hình thành. Mà chính những thứ đó là những chướng ngại lớn nhất của con đường giác ngộ.

Không chỉ vậy, nhị nguyên khiến "tâm" con người luôn phân biệt không ngừng. Khi tâm vận hành theo nhị nguyên, nó liên tục so sánh, đánh giá, dựng lập ý niệm, khái niệm... Vì thế, con người không thể an trú trong hiện tại và không thể thấy vạn pháp “như thị” (như nó đang là). Trong kinh Kim Cang có câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.” Nhị nguyên chính là cái “sở trụ” ấy. Khi tâm còn bám vào một cực, một quan điểm, một mô hình, hay một giáo điều nào đó, thì trí tuệ không thể sinh khởi. Câu chuyện về Ngài Huệ Năng gặp hai vị tăng tranh luận về lá cờ đang bay là minh họa rõ nhất. Một vị nói cờ động, vị kia nói gió động. Huệ Năng bảo: “Không phải gió động, không phải cờ động, mà là tâm các ông động.” Ngài chỉ ra rằng nhị nguyên không nằm trong sự vật, mà trong dao động của tâm.

Theo cách hiểu của mình, thì cái "thấy" và cái "biết" của những bậc giác ngộ vượt ra khỏi nhị nguyên. Họ không xóa bỏ nhị nguyên về mặt ngôn ngữ, mà chỉ không còn bị nhị nguyên trói buộc. Họ thấy đẹp mà không bị đẹp ràng buộc, thấy xấu mà không sinh ghét bỏ, nghe khen mà không kiêu ngạo, nghe chê mà không giận hờn, thấy “ta” mà không chấp ngã, thấy “người” mà vẫn khởi lòng từ bi. Đó là vô phân biệt trí, là nhất như, bất nhị (non-dual awareness).

Tóm lại, nhị nguyên chỉ là thói quen của tâm, không phải bản chất của vạn pháp. PG không phủ nhận nhị nguyên, nhưng xem nó như một phương tiện ngôn ngữ, không phải chân lý tối hậu. Thực tại vốn không hai, vì tất cả đều duyên khởi, vô ngã và vô thường. "Nhị nguyên" chỉ là cái bóng của ý niệm, và "Giác ngộ" là sự tan biến của cái bóng ấy !

Ngày nay, nhất là trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI), thiên kiến nhận thức (cognitive bias) là một trong những vấn đề trung tâm của triết học tâm thức và khoa học nhận thức hiện đại. Con người, do giới hạn của tri giác và sự hoạt động có tính mô hình hóa của tâm, thường vội vàng kết luận dựa trên những thông tin không đầy đủ, đặc biệt là các yếu tố hình tướng bên ngoài. Trong văn hóa Đông phương, hiện tượng này đã được phân tích sâu sắc trong hệ thống tư tưởng PG và Đạo gia, vốn xem sự bám chấp vào hình tướng (sắc tướng) là nguồn gốc của vô minh và phân biệt.

Nói thêm chút, theo PG, thế giới con người được cấu thành bởi Ngũ Uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó, sắc uẩn là yếu tố vật chất, hiện tượng có thể quan sát. Tuy nhiên, sắc chỉ là lớp biểu hiện đầu tiên, không hàm chứa bản chất (svabhāva) của vạn vật. Kinh Kim Cang có ghi “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng" (tạm dịch là: Hễ cái gì có hình tướng đều là hư vọng). Điều này hàm ý rằng việc dựa vào sắc để kết luận bản chất là một sai lầm nhận thức, bởi sắc chỉ biểu hiện tạm thời, chịu chi phối bởi vô thường và duyên khởi. Trong tâm lý học, điều này tương ứng với bias of appearance-based judgment, nơi con người phán đoán phẩm chất thực dựa trên dấu hiệu bề ngoài. Và dĩ nhiên nhiên chính sự thiên lệch này là nền tảng của hiện tượng “vơ đũa cả nắm,” khi cá nhân con người sử dụng một mẫu hình nhỏ nhoi để đại diện cho một tập thể rộng lớn. 

Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy rằng những gì mắt thấy chỉ là cảnh, tức biểu tượng được tâm tái tạo, không phải thực tánh của sự vật. Phân biệt giữa “cảnh” và “tướng” cho thấy mức độ can thiệp của nhận thức chủ quan. Điều này gần với mô hình “constructivism” của triết học hiện đại: nhận thức là sự kiến tạo, không phải sự phản ánh đơn giản. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, tư tưởng “Sắc bất dị Không” tiếp tục khẳng định rằng mọi biểu hiện đều không có tự tính cố định. Bám vào "sắc" để phán xét, là đồng nhất cái tạm thời với cái bản chất, một sai lầm logic căn bản. 

Tư tưởng Lão-Trang cũng có nhiều điểm tương đồng. Lão Tử dạy: “Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh”. Hình tướng và tên gọi chỉ là ký hiệu, không thể gói trọn bản chất. Trang Tử thì dùng các câu chuyện nghịch lý để phá vỡ nhị nguyên, cho thấy ta không thấy sự vật như nó là, mà chỉ thấy sự vật qua tâm mình. Điều này rất gần với khái niệm “projective bias” ngày nay .


Trở lại quan sát đời sống hiện tại, mỗi ngày chung quanh ta có vô số nạn nhân của cái nhìn thiên kiến và lối suy nghĩ vơ đũa cả nắm. Nhiều người chạy theo tin tức phiếm diện, fake news, những video nguỵ tạo, cắt xén, câu view, câu like, để đánh giá hoặc phân tích vấn đề. Con người dễ dàng dùng một dấu hiệu bề ngoài để phán xét bản chất, hoặc lấy một trải nghiệm nhỏ để khái quát thành quy luật. PG cảnh báo rằng không có pháp nào cố định để ta dựa vào mà suy rộng tuyệt đối. Lão-Trang cũng nhắc rằng các đối lập như đúng-sai, thiện-ác, đẹp-xấu đều chỉ là quy ước, không phải bản chất của đạo.

Bài học rút ra là muốn thấy đúng sự thật, con người phải vượt ra khỏi sắc tướng và những khuôn mẫu tâm lý vốn dễ dẫn đến thiên kiến. Chỉ khi ấy, ta mới nhận thức bằng trí tuệ thay vì thói quen phán xét. Nhận thức đúng, không chỉ là tri giác chính xác, mà còn là sự giải phóng bản thân ra khỏi những khuôn mẫu do tâm tự dựng lên. Nhiều vị cao tăng cho rằng để tu tập vượt ra khỏi sắc tướng cần phải thực hành chánh niệm và thiền định, thường xuyên quan sát tâm mình. 

Tất nhiên khi đã nói đến chuyện học hỏi tu tập thì còn lệ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu tố khác nữa, tuỳ duyên mà tạo tác. Nên chuyện to tác thì chưa dám nói đến, nhưng theo thiển ý của mình, trong đời sống hàng ngày nếu thực hành được một vài việc đơn giản cũng là ngon lành rồi. Ví dụ như cố gắng tránh chuyện vơ đũa cả nắm; thông tin thì cố gắng tìm hiểu từ nhiều nguồn khác nhau để hạn chế lệch lạc, vì thực ra báo đài nào lại chẳng có lúc lệch lạc, chỉ là nhiều hay ít. Cũng không dễ dàng hoặc mù quáng tin theo người khác cho dù họ là tỉ phú, triệu phú, quan quyền, chùa to chức lớn, hay bằng này cấp nọ gì đó, mà nên thực chứng bằng kinh nghiệm của bản thân để tránh những thiệt hại không cần thiết và ảnh hưởng lâu dài đến cái "thấy biết" (tức là sự tỉnh thức giác ngộ) của bản thân. Chỉ mong là được như vậy !

Cho nên mình vẫn thường nói đùa rằng nếu “tu” hoài, đi chùa, làm phước, đọc kinh, tế lễ thường xuyên, mà vẫn còn phân biệt, vẫn còn bám chấp vào hình tướng bên ngoài, dựa vào "fake" news, ta địch, bên này bên kia, bằng này cấp nọ, hoặc danh xưng vô bổ để phán xét hay phân biệt, thì có lẽ vẫn còn… y nguyên :-) .

Lan man chút vậy thôi. Thân chúc tất cả anh chị em và bằng hữu một cuối tuần an vui, bình an giữa mùa lễ hội.

PN
12/2025


Saturday, November 22, 2025

Tản mạn: Nỗi lo mùa lễ hội ....

 


Hằng năm, khi tháng 11 khép lại, những con đường trên khắp nước Mỹ lại khoác lên mình ánh đèn ấm áp. Hàng xóm bắt đầu trang hoàng sân vườn rực rỡ để chuẩn bị cho mùa lễ hội. Lễ Tạ Ơn, rồi Giáng Sinh đến như một lời nhắc nhở dịu dàng rằng sau một năm dài nhiều biến động, con người vẫn có thể ngồi lại bên nhau, ăn chung một bữa “gà tây”, chia sẻ nhau những vui buồn và lòng biết ơn cùng sự tha thứ.

Trong nhiều nền văn hoá, Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh tượng trưng cho khoan dung và đoàn tụ. Thế nhưng, trong không ít năm gần đây, những ngày lẽ ra phải thanh bình ấy lại thường bị phủ bóng bởi nỗi lo âu. Tin tức chiến tranh, bạo lực, khủng bố, hay những vụ tấn công vô nghĩa vào dịp lễ đông người… tất cả như những vệt mực vô tình rơi xuống trang giấy vốn được viết bằng hy vọng. Người ta sợ nơi đông người, sợ bước ra đường, sợ rằng ngay cả ngày thiêng liêng nhất cũng không tránh khỏi sự tàn nhẫn của con người.

Ở Mỹ năm nay, từ nhiều tháng trước, các cuộc truy bắt người di dân bất hợp pháp diễn ra khắp nơi. Như bất kỳ hoạt động quy mô lớn nào, không tránh khỏi có những sai sót, bắt lầm người, hoặc hành vi bạo lực. Điều ấy làm dấy lên tâm lý bất ổn và hoang mang, không chỉ trong cộng đồng di dân bất hợp pháp, mà cả những người có tư cách pháp lý đầy đủ. Nhiều đứa trẻ thuộc các gia đình gốc Nam Mỹ đi học với ánh mắt lo âu đáng thương. Ở tiểu bang nơi mình đang sống, các thành phố lớn, mấy hôm nay nhiều người nhập cư hợp pháp thế hệ đầu tiên cũng ngại đi làm, ngại đưa con đến trường. Sự bất an vốn thường trực trong đời sống nay lại bị khuếch đại vào đúng thời điểm lẽ ra là mùa bình yên. Những hiện tượng này thật sự hiếm hoi, xưa nay chưa từng thấy ở nước Mỹ.

Câu hỏi đặt ra là liệu những hành động như vậy có tạo ra giá trị thật sự hay không, khi được triển khai đúng vào mùa lễ, thời điểm con người cần sự yên ổn, đoàn viên, cõi lòng rộng mở?

Mục đích lớn nhất của một quốc gia là gì? Tạo dựng môi trường an bình để người dân yên tâm làm ăn, dân giàu nước mạnh? Hay tạo ra nỗi bất an tập thể?

Dĩ nhiên, bàn đến những vấn đề này sẽ khó tránh tranh cãi, đụng chạm quan điểm, đảng phái. Nhưng mình thì không có hứng thú phân định thắng thua, chỉ muốn chiêm nghiệm một vài điều nho nhỏ trong đời sống hiện tại, cũng như từ lịch sử loài người.

Xưa nay, bạo lực, khủng bố hay những hành vi phi nhân đạo trong dịp lễ hội đều có chung một gốc rễ, đó là những trái tim bị che khuất bởi giận dữ và thành kiến. Chúng không thể bị đánh bại bằng sự căm ghét, mà chỉ bằng một sức mạnh bền bỉ hơn, là khả năng tha thứ và nhìn thấy nhau như những đồng loại cùng mong cầu hạnh phúc, những con người cùng khát vọng tự do.

Khi một con người biết tha thứ, họ không làm nhỏ đi nỗi đau của mình, mà họ mở lòng để hiểu nỗi đau của người khác. Khi một cộng đồng còn giữ được lòng trắc ẩn, chiến tranh và sợ hãi trở nên lạc lõng. Và khi nhân loại vẫn có thể ngồi lại bên bàn ăn, chia nhau một miếng bánh mì hay một lời chúc bình an, thì dù ngoài kia thế giới rung chuyển đến đâu, ý nghĩa thật sự của mùa lễ vẫn không mất đi.

Trong tư tưởng Kitô giáo, tha thứ mang tính cứu rỗi, con người có lỗi lầm nhưng có thể tái sinh qua tình thương. Trong PG Đại thừa, tha thứ là hệ quả của trí tuệ thấy rằng mọi hành vi đều bị điều kiện hoá bởi vô minh và nghiệp lực. Do vậy, bản chất của oán hận thực ra không có một nền tảng bền vững.

Bởi thế, khi bạo lực xảy ra đúng vào dịp lễ, thời khắc được mặc định cho bình an, thì đó là dấu hiệu của sự đứt gãy trong năng lực tha thứ của xã hội. Bạo lực trong ngày lễ không chỉ là biến cố chính trị, mà còn là dấu hiệu cho thấy xã hội đang đánh mất khả năng “sản sinh tình người”. Ngược lại, tha thứ là một phương cách chữa lành cộng đồng. Nếu bạo lực phá vỡ trật tự, thì tha thứ chính là hành vi tái lập trật tự một cách có ý thức. Trong bối cảnh các ngày lễ, điều này lại càng đúng. Sự tha thứ làm hồi sinh ý nghĩa nhân bản của mùa đoàn tụ, khẳng định rằng người với người vẫn là nơi trú ẩn cuối cùng.

Có một nghịch lý thật trớ trêu, là nước Mỹ được dựng nên bởi những thế hệ di dân nối tiếp nhau, vậy mà trong thực tế, không ít người “đến trước” lại phân biệt những người “đến sau”. Khi đã hội nhập, đã đứng vững trong đời sống mới, nhiều người dường như quên mất cha ông mình cũng từng bước xuống tàu, đi qua đại dương với cùng một nỗi sợ hãi, mong cầu và bất định như những người di dân hôm nay.

Trong những giờ phút đối diện với sống chết, bất kỳ chiếc phao nào cũng trở nên quý giá. Khi cuộc sống lênh đênh, điều duy nhất mà con người mong mỏi là một nơi trú ẩn an toàn, một vùng đất có thể mở ra cơ hội mới. Lúc ấy, không ai phân biệt người cứu mình, hay ông tổng thống nhận mình là thuộc đảng nào, tin vào điều gì, hay đến từ đâu. Nhưng khi đã đứng được trên mảnh đất an toàn ấy, khi đời sống bớt chòng chành, người ta lại dễ dàng chia rẽ nhau theo nhãn mác, người này "thuộc DC”, người kia “thân CH”..v.v.. như thể sự an toàn tự thân cho phép họ quay lưng với những ai đang sống lại chính câu chuyện của cha ông họ ngày xưa, hoặc thậm chí là những trải nghiệm của chính bản thân họ.

Tâm trạng của nhiều di dân hôm nay, sự lo lắng, bất trắc, nỗi sợ bị xua đuổi, thực chất cũng là tâm trạng từng in hằn trên khuôn mặt của bao thế hệ công dân đang chỉ trích họ. Những cảm xúc ấy không phải mới, chúng chỉ là vòng tròn lẩn quẩn của lịch sử con người.

Triết gia Levinas nói rằng “Thông cảm là nhìn thấy ở người kia khuôn mặt của con người”. Tức là nhận ra nhân vị phía sau những khái niệm, định kiến, hay ranh giới do lịch sử tạo ra. Nhưng thực tế lại phức tạp hơn nhiều. Con người có xu hướng quên rất nhanh, quên mình đã từng yếu đuối, từng mong cầu, từng được cứu, từng là “kẻ mới đến”.

Và vì thế, lịch sử sẽ cứ tiếp tục là chuỗi những câu chuyện… về sự "hay quên". Không phải quên thành tựu, mà là quên chính nguồn cội của lòng nhân ái, của tình người, điều duy nhất có thể nối kết những thế hệ di dân trong hành trình không ngừng tìm kiếm một nơi để được sống như con người.

Không phải ngẫu nhiên mà tinh thần Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh luôn gắn liền với hình ảnh tha thứ. Đó là thời điểm con người dễ nhận thức về sự mong manh của kiếp sống, là khoảnh khắc họ tạm dừng cuộc đua thường ngày, để nhìn lại chính mình. Giữa ánh đèn và những bữa ăn ấm cúng, tha thứ trở thành một hiện diện cần thiết, không phải chỉ là bỏ qua lỗi lầm, mà là chọn lựa đứng về phía ánh sáng trong một thế giới vô cảm, đầy bất trắc.

Do đó, những hành động truy đuổi, săn bắt khiến cộng đồng bất an trong mùa lễ lộc, dù có lý lẽ riêng, nhưng vẫn khó tránh cảm giác rằng đó là điều không nên làm, bởi chúng gây xáo trộn, gieo rắc nỗi sợ hãi, mà không mang lại sự chuyển hoá bền vững.

Giữa tiếng chuông lễ hội, tha thứ nhắc chúng ta rằng con người không bị quyết định bởi bản năng gây hấn cho người khác, mà bởi khả năng chọn con đường đúng đắn cho bản thân, dù con đường ấy đòi hỏi phải có dũng khí hơn, hoặc gian nan hơn. Một xã hội biết tha thứ không phải là xã hội quên đi tội ác, mà là xã hội không để tội ác quyết định tương lai của mình. (Viết tới đây, mới nhớ đến mấy ngày nay đọc tin tức xả lũ kinh hoàng ở VN. Nhưng có lẽ đợi dịp khác viết về vấn đề này !)

Trên thực tế trong mọi cuộc xung đột, bạo lực luôn xuất hiện trước tiên với âm thanh ầm ỹ, và vẻ mạnh mẽ đầy hăm doạ. Nó khiến người ta tưởng rằng quyền lực nằm ở nòng súng và sự khuất phục của kẻ khác. Nhưng khi tiếng ồn tan đi, khi khói bụi lắng xuống, thứ còn lại không bao giờ là sự thống trị, mà chỉ là những vết thương. Bạo lực chỉ tạo ra im lặng tức thời và sự chịu đựng, nhưng không thể tạo ra tương lai.

Ngược lại, tình người, tưởng như yếu mềm, lại bền bỉ hơn mọi thứ vũ khí. Một cử chỉ bao dung, một lời tha thứ, hay một bàn tay chìa ra giữa đổ nát có thể vực dậy cả một cộng đồng, hàn gắn những gì đạn bom không thể chạm tới. Lịch sử thuộc về những ai giữ được lòng nhân khi nhiều người khác đánh mất nó. Và chiến thắng cuối cùng, khi mọi tranh giành đã phai mờ, luôn thuộc về những ai dám yêu thương trong thời điểm dễ căm ghét nhất.

Nhớ đến thời vua Quang Trung, mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789), sau trận Ngọc Hồi – Đống Đa, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Trong lịch sử, đây thường là lúc đạo quân chiến thắng dễ rơi vào nạn kiêu binh, trả thù, hoặc cướp bóc. Nhưng vua Quang Trung đã ra lệnh không được cướp bóc của dân, không được trả thù phe Trịnh Lê, không được đụng đến phụ nữ và trẻ em, và tuyên bố nghiêm trị bất cứ ai vi phạm. Bên cạnh đó, mới lên ngôi, lẽ ra có thể thanh trừng, nhưng ông lại mời các sĩ phu Bắc Hà ra hợp tác, như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực. Hành động này mang tính hoà giải dân tộc hiếm thấy, đối xử nhân đạo cả với dân của “bên thua cuộc”. Vua Trần Nhân tông cũng vậy, khoan dung độ lượng, tha cho tướng giặc Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp. Khi quân Nguyên bị đánh bại, nhiều đại tướng bị bắt sống. Thay vì giết để trả thù tàn khốc (vì quân Nguyên từng nhiều lần tàn sát dân Việt), vua Trần Nhân Tông đã xử lý theo hướng nhân đạo - không tra tấn, không giết hại gia đình họ, đối xử đúng lễ nghi với tù binh. Ông Ngô Thì Sĩ (cha ông Ngô Thời Nhiệm) sau này gọi đó là "đại lượng của bậc thánh quân", thắng bằng võ lực nhưng kết thúc bằng đức độ.

Còn chuyện bên Tây thì cũng không hiếm, như Alexander Đại đế sau khi đánh bại vua Ba Tư Darius III, bắt được mẹ, vợ và con của kẻ thù. Thay vì bắt làm nô lệ hoặc hành hạ (tập quán phổ biến thời đó), ông bảo vệ danh dự và an toàn cho họ, đối đãi như người hoàng tộc, và không chiếm đoạt bất cứ phụ nữ nào. Mẫu hậu của vua Darius đã khóc và quỳ lạy Alexander, gọi ông là “vị vua thật sự của nhân loại”. Đây là câu chuyện thường được trích dẫn trong các tác phẩm chính trị quân sự phương Tây như một ví dụ về “tinh thần hiệp sĩ cổ đại”. 

  


Gần đây hơn, thì nước Mỹ có tổng thống  Abraham Lincoln và tinh thần “malice toward none, charity for all” (tạm dịch: Hận thù chẳng dành cho ai, lòng nhân ái dành cho tất cả). Thời nội chiến Nam Bắc Hoa Kỳ, ngay trước khi chiến tranh kết thúc, Lincoln tuyên bố: “Hận thù chẳng dành cho ai, lòng nhân ái dành cho tất cả".Ông chủ trương: Không trả thù miền Nam, mà tái thiết đất nước bằng khoan dung. Không xử tử hàng loạt tướng lãnh miền Nam, không tịch thu đất đai, và không truy quét tận diệt các gia đình miền Nam. Cho nên dù ông bị ám sát, chính sách của ông trở thành biểu tượng của hòa giải lịch sử. Và ông được đánh giá là vị tổng thống xuất sắc nhất của nước Mỹ. Lịch sử cả Đông lẫn Tây đều chứng minh rằng đức độ làm nên hoà bình bền vững hơn bất kỳ cuộc chinh phục nào.

Dĩ nhiên, ở đâu có ánh sáng, ở đó cũng có bóng tối. Lịch sử cũng ghi lại không ít những cuộc tấn công vào dịp lễ, từ Pearl Harbor ngay sau tuần Lễ Tạ Ơn (1941), đến trận Ardennes cuối năm 1944, khi quân Đức hy vọng xoay chuyển cục diện trước Giáng Sinh. Thậm chí câu trả lời “NUTS!” của tướng McAuliffe ở Bastogne còn trở thành giai thoại quân sự thú vị. Thế giới luôn là sự đan xen giữa thiện và ác, lòng nhân và bạo lực.

Thôi xin tạm dừng tại đây, chỉ mạn phép lan man đôi điều về tâm trạng bất ổn của cộng đồng di trú, những người phải rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của họ vì những lý do khác nhau. Cầu mong mọi điều tốt đẹp nhất đến với mọi người. Hy vọng rằng dù thời cuộc ra sao, tình người vẫn còn chỗ để nương náu !

Thân chúc mọi người một tuần Lễ Tạ Ơn an lành. 

PN
(11/2025)



Saturday, October 18, 2025

Tản mạn ngày 17/10 ...



Hôm qua là ngày thế giới dành cho người nghèo. Ngày 17/10 hằng năm được chọn là "International Day for the Eradication of Poverty" (tạm dịch: Ngày Quốc tế xoá nghèo). Không phải để kể lể về nỗi khổ, cũng không phải để làm giàu thêm lòng thương hại nhất thời, mà để nhắc nhở nhân loại rằng không ai thật sự đứng một mình trên thế gian này.

Ngày nay, những hiện tượng phân hoá xã hội và phân biệt kỳ thị đẳng cấp giàu nghèo, không còn lạ lẫm gì với thế giới nữa. Thế nhưng những câu chuyện về lòng trắc ẩn, thương cảm trước những hiện tượng xã hội đó lại là một vấn đề khác. Kết quả của những nổ lực hổ trợ nhân đạo, xoá đói giảm nghèo toàn cầu hoàn toàn tuỳ thuộc vào tư duy nhận thức của con người, văn hoá vùng miền từng địa phương, và sự trợ giúp từ chính phủ, chính quyền sở tại, cũng như nhiều nguồn hổ trợ khác nhau trên thế giới. Ngay cả ở VN hôm nay, bước ra đường cũng thấy rõ hai thế giới song song. Một bên là những tòa nhà hoành tráng, tiệc tùng, xe sang, hàng hiệu... Một bên là những em nhỏ bán vé số, những bà cụ nhặt ve chai, những người lao động tối mặt mà vẫn không đủ ăn... Điều đáng trân quý là những năm gần đây, VN có nhiều tổ chức dân sự và đoàn thể đã tham gia một cách hiệu quả các công việc từ thiện địa phương, hổ trợ xoá đói giảm nghèo, giúp đỡ nhiều học sinh và gia đình hoàn cảnh khó khăn mà không cần đến những tung hô mang hình thức phô diễn. 

Và mặc dù là thiểu số, nhưng điều đau xót hơn, là không ít sự giàu sang trong xã hội đã được tạo dựng trên bất công, phi pháp, còn cái nghèo thì lại rơi xuống đúng những người lương thiện. Vì vậy, nói đến người nghèo không chỉ là nói về “số phận”, mà còn nói về công bằng, đạo đức, và lương tâm xã hội. Khoảng cách giàu nghèo không chỉ là chuyện tiền bạc, mà còn là khoảng cách của lòng chia sẻ và trách nhiệm với đồng loại.



Trong đạo Phật, Đức Phật dạy từ bi đơn giản rằng "Have compassion for all beings, rich and poor alike; each has their suffering. Some suffer too much, others too little". (Tạm dịch Hãy khởi lòng từ với tất cả chúng sinh, giàu hay nghèo cũng vậy; ai cũng có nỗi khổ của riêng mình. Có người chịu khổ quá nhiều, có người chịu khổ quá ít.). 

Bởi vậy từ bi không hỏi “anh là ai”, mà hỏi “anh đang khổ ở chỗ nào”. Từ bi không đứng ngoài quan sát, mà bước tới và san sẻ trong khả năng có thể. Thực ra, ai cũng có thể trở thành người nghèo ở một giai đoạn nào đó của đời mình, nghèo tiền bạc, nghèo sức khỏe, nghèo tình thương, nghèo hy vọng... Cho nên nhiều người quan niệm rằng - Giúp người không phải là một lòng tốt tùy hứng, cũng không phải mong được phước báu hay công đức gì, mà là một nghĩa vụ nhân tính căn bản. Một ổ bánh chia đôi không làm ai chết đói, nhưng có thể cứu được chỗ lương thiện cuối cùng trong một con người. Một bàn tay đưa ra đúng lúc có khi quan trọng hơn cả vạn lời thuyết giảng. Tất nhiên, thế giới này không nghèo đi vì chia sẻ, mà chỉ nghèo đi vì thờ ơ. Ngày nay có rất nhiều tổ chức thiện nguyện phi chính phủ, tập thể, cá nhân, đã không quản ngại khó khăn, hy sinh đi khắp nơi trên thế giới, vùng sâu vùng xa của nhiều châu lục, để tham gia hổ trợ các chương trình xoá đói giảm nghèo và xoa dịu những nỗi khổ của đồng loại. Thật đáng kính trọng ! 

Gần đây, chính quyền Mỹ đã yêu cầu Quốc hội giữ lại nhiều tỷ USD ngân sách viện trợ nước ngoài và huỷ bỏ hoặc đóng băng nhiều khoản đã duyệt trước. Có báo cáo rằng khoảng 83% các chương trình của USAID (khoảng 5.200/6.200 dự án) đã bị hủy sau một đợt “thanh lọc” trong 6 tuần đầu năm 2025. Các nghiên cứu cho rằng nếu tình trạng cắt giảm tiếp diễn, có thể dẫn tới hơn 14 triệu ca tử vong thêm trên toàn cầu đến năm 2030, trong đó hơn 4,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Các quỹ cứu trợ y tế, về dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh đã bị cắt rất mạnh. Ví dụ chương trình chống lao bị cắt 56%, chương trình nước và vệ sinh bị cắt tới 86% trong một số phân tích. Ngoài ra còn nhiều ảnh hưởng khác đến các quỹ nhân đạo & phát triển xoá đói giảm nghèo khác.

Hệ thống y tế HIV/AIDS ở các nước như Lesotho bị bứt gãy, hơn 8,000 nhân viên y tế mất việc, nhiều phòng khám đóng cửa sau các khoản viện trợ bị rút. Các chương trình cứu trợ thực phẩm khẩn cấp qua tổ chức như World Food Programme (WFP) báo cáo tình trạng khẩn cấp do thiếu quỹ, có thể ảnh hưởng tới 14 triệu người ở nhiều quốc gia vì cắt viện trợ từ các nước, trong đó Mỹ là một đóng góp lớn. Các chương trình phát triển nông nghiệp, chống biến đổi khí hậu và hỗ trợ người dân nghèo giáp ranh có nguy cơ bị thu hẹp mạnh. Câu hỏi là - USAID bắt đầu từ năm 1961, gần 70 năm qua, vì sao hôm nay có chuyện này ?

Ngắn gọn là do chính sách “America First” (nước Mỹ trước) dẫn tới yêu cầu tái xem xét viện trợ nước ngoài, cho rằng một số chương trình không còn phù hợp với lợi ích quốc gia Mỹ hoặc bị lãng phí. Có sự chuyển giao quyền điều hành viện trợ sang bộ phận khác hoặc sát nhập cơ quan. Có tin cho rằng USAID sẽ bị sáp nhập hoặc chức năng chủ yếu được chuyển cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Ngân sách bị căng thẳng, phải cắt giảm trong bối cảnh thâm hụt lớn, lạm phát và chính sách tài khóa. Mặt khác, khi tranh luận về hiệu quả của viện trợ nước ngoài, một số nhà cố vấn phê bình cho rằng quá nhiều chương trình không đạt hiệu quả, quản lý kém... 

Hoặc có thể có vài lý do chủ quan khác nữa, nhưng cho dù là lý do gì, với sự cắt giảm đó của chính phủ Mỹ, sẽ có nhiều tác động đáng lo, có thể làm thụt lùi nhiều thành quả phát triển, đặc biệt ở các nước nghèo như dịch bệnh tái phát, dinh dưỡng trẻ em đi xuống, nghèo đói tăng...v.v. Hệ thống cứu trợ khẩn cấp bị suy yếu, khi thiên tai, xung đột xảy ra, khả năng phản ứng bị hạn chế hơn. Ảnh hưởng không chỉ tới các nước nhận viện trợ, mà dài hạn tới cả an ninh toàn cầu: vấn đề dịch bệnh, biến đổi khí hậu, di cư, xung đột, đều liên quan. 

Riêng đối với VN, nếu các chương trình quốc tế bị thu hẹp, thì sự hỗ trợ từ bên ngoài, vốn vẫn đóng vai trò bổ sung trong một số lĩnh vực sẽ khó khăn hơn. Mặc dù Việt Nam trong những năm gần đây đã có tốc độ phát triển nhanh và lộ trình giảm phụ thuộc viện trợ nước ngoài, nhưng vẫn có những phân khúc như vùng sâu vùng xa, điều kiện y tế, hỗ trợ nghề cho người nghèo, nơi viện trợ quốc tế đóng vai trò hổ trợ. Việc cắt giảm viện trợ toàn cầu có thể dẫn đến những hạn chế trong việc lựa chọn nguồn hỗ trợ bên ngoài cho các chương trình nhân đạo, phát triển nhỏ. Do đó, trong bối cảnh ấy, việc tăng cường nguồn lực nội địa, hợp tác giữa các tổ chức công & tư, các đoàn thể, để phát huy nội lực địa phương càng trở nên quan trọng. Thực tế các chương trình xoá đói giảm nghèo không phải chỉ dừng lại ở mức độ từng bữa ăn mà là một kế hoạch lâu dài, trồng cây gì nuôi con gì, giáo dục đào tạo, y tế cộng đồng ...v.v. Cho nên bên cạnh yếu tố con người và các chương trình trợ giúp, thì vai trò của chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng.

Và cũng chính vì những thay đổi đột ngột như thế nên gần đây có nhiều người than vãn, trách móc, cho rằng tại sao thế giới lại có nhiều biến động như vậy. Và liệu những đổi thay đó có làm đời sống người dân nước Mỹ nói riêng, và thế giới nói chung, tốt đẹp và hạnh phúc hơn chăng? Cái này thì tuỳ vào khả năng nhận thức và phân tích của mỗi cá nhân dựa vào thực tế đang xảy ra. Bởi rất khó để có thể thuyết phục con người thay đổi tư duy thiên kiến lệch lạc của họ, hoặc buông bỏ những thứ mà họ tin tưởng hoặc tôn thờ !

Còn nói đến sự đổi thay. Đó là chuyện tất nhiên, xưa nay vạn vật luôn thay đổi. Quy luật vô thường của vũ trụ là vậy. Sự tiến bộ của khoa học ngày nay cũng đã chứng minh điều đó. Tuy nhiên, có sự thay đổi làm cho tốt hơn, thì cũng có sự thay đối làm cho tồi tệ hơn. Mở ngoặc chút, đạo Phật có nói đến 3 đặc điểm căn bản nhất (The three marks of existence) trong thế giới chúng ta, đó là: Vô Thường (tiếng Phạn là Anicca hay Anitya, tiếng Anh là Impermanence), Vô Ngã (tiếng Phạn là Anatta hay Anatman; tiếng Anh là Non-self), và Khổ (tiếng Phạn là Dukkha hay Duhkha; tiếng Anh là Suffering/Unsatisfactoriness). Cho nên nếu có ông nào giảng giải tràng giang đại hải hoặc lý thuyết cao siêu về đạo Phật, mà không đề cập hoặc tán đồng với 3 đặc điểm cơ bản đó thì coi chừng họ đang nói về đạo khác ? Và tất nhiên, những vị đã "chứng ngộ" được chân lý vô thường, vô ngã, thì họ không còn Khổ (Dukkha) nữa. Còn phe ta, những kẻ phàm phu đầy lý thuyết, đầy lý luận, đầy chức danh, đầy kinh điển, thích chứng tỏ, thích cãi nhau, thích hơn thua, thích tiếng tăm, thích xưng tụng..v.v.. thì cứ mãi còn đeo lon thượng sĩ 3 gạch... Còn khổ dài dài :-) !


Nhân đây mình cũng muốn nhắc lại một câu chuyện, mà chắc chắc có nhiều anh chị em đã từng đọc qua. Đó là một trong những giai thoại nổi tiếng xoay quanh danh họa Leonardo da Vinci và kiệt tác “The Last Supper”. Tuy nhiên, cần nhắc lại là câu chuyện Leonardo tìm gương mặt để vẽ Chúa Jesus (Giêsu) và Judas (Giuđa) chỉ là một huyền thoại dân gian, không có chứng cứ lịch sử xác thực, nhưng mang giá trị biểu tượng và triết lý rất sâu sắc về bản chất thiện ác trong con người.

Theo truyền thuyết, khi danh hoạ Leonardo da Vinci được giao vẽ bức “The Last Supper” (1495–1498) cho tu viện Santa Maria delle Grazie ở Milan, ông đã quyết định tìm người thật để làm mẫu cho các gương mặt của Chúa Giêsu và 12 tông đồ. Ông muốn mỗi khuôn mặt phải thể hiện một trạng thái tâm hồn đặc trưng, đặc biệt là Chúa Jesus (biểu tượng của tình thương và tha thứ) và Judas Iscariot (biểu tượng của phản bội và tham lam).

Leonardo mất nhiều tháng trời để tìm được người có gương mặt thể hiện sự thanh khiết, nhân từ của Chúa Giêsu, và ông đã chọn một ca sĩ trong dàn hợp xướng nhà thờ có khuôn mặt sáng, đôi mắt hiền, gợi vẻ thánh thiện. Còn tìm hình mẫu của nhân vật Judas thì khó khăn hơn nhiều. Ba năm sau khi bức họa gần hoàn thành, Leonardo đi khắp hang cùng ngõ hẽm vẫn chưa tìm ra người phù hợp để vẽ Judas. Ông cần một gương mặt phản ánh sự sa ngã, tội lỗi, và dằn vặt của linh hồn. Sau nhiều ngày tìm kiếm, ông gặp một người tù bị kết án tử hình ở Rome, gương mặt đầy u tối, ánh mắt cay độc và tuyệt vọng. Leonardo xin phép cho người này làm mẫu để hoàn thiện gương mặt Judas trong bức tranh.

Sau khi bức họa hoàn tất, Leonardo nói lời cảm ơn người tù. Khi đó, người tù bật khóc và nói: “Ngài không nhận ra con sao? Con chính là người đã từng làm mẫu cho ngài vẽ Chúa Jesus ba năm trước đây.”

Leonardo lặng người. Câu chuyện khép lại trong im lặng, như một ẩn dụ về hai mặt của con người. Thiện và ác, ánh sáng và bóng tối, có thể tồn tại trong cùng một linh hồn. Dù không có bằng chứng lịch sử xác nhận, nhưng câu chuyện này được xem là một ẩn dụ tuyệt vời về con đường tâm linh và đạo đức của con người. Con người không sinh ra là Judas hay Jesus, mà chính sự lựa chọn và những trải nghiệm trong cuộc đời khiến họ trở thành ai.

Thiện và ác không ở ngoài, mà cùng tồn tại trong mỗi người, giống như ánh sáng và bóng tối trong cùng một bức tranh. Leonardo, dù là họa sĩ, đã trở thành triết nhân qua chính cách ông khiến người ta suy ngẫm: “Trong cùng một con người có thể ẩn chứa cả thánh thiện và tội lỗi. Điều khác biệt nằm ở ánh sáng mà họ hướng về”. Thật là trùng hợp, đây cũng chính là điều mà đạo Phật nói đến, thiện ác do tâm tạo ra !

Tuy nhiên sau này, các nhà nghiên cứu nghệ thuật (như Giorgio Vasari, Kenneth Clark, hay các tài liệu của Bảo tàng Leonardo da Vinci) cho rằng Leonardo không hề dùng tù nhân hay người thật làm mẫu cho riêng Judas, mà ông thường quan sát, phác họa nhiều gương mặt ngoài đời rồi tổng hợp thành những biểu cảm tượng trưng. Câu chuyện trên xuất hiện từ thế kỷ XIX trong các tuyển tập giai thoại đạo đức Kitô giáo, chứ không có trong các ghi chép gốc về Leonardo. Tuy vậy, người ta vẫn thích kể lại câu chuyện ấy như một “ngụ ngôn về con người”, sâu sắc và cảm động, vượt xa giá trị nghệ thuật. Đó là, thiện ác, sáng tối, đều khởi đầu từ trong chính trái tim con người.

Hy vọng sau khi nước Mỹ hạn chế các chương trình viện trợ nhân đạo xoá đói giảm nghèo đối với những đất nước nghèo khó trên thế giới, thì sẽ có những cá nhân, tố chức, hoặc quốc gia khác đứng lên điền vào chỗ trống. Suy cho cùng, hơn thua không đến từ vị kỷ, và giá trị không đến từ hư danh. Mọi chuyện đều sẽ đổi thay, kể cả sự hoang tưởng!

Thân chúc tất cả một cuối tuần an vui.

PN

Saturday, October 04, 2025

Tản mạn: Tìm gì, ở đâu ?

 


Mới đó đã mùa Thu. Ngoài đường đã bày bán bí đỏ bí ngô, hoa cúc, đủ loại, đủ màu đủ sắc. Tuần rồi, có vợ chồng đứa em quen ở VN qua FL, ghé thăm. Thấy mấy chậu cúc "mâm xôi" ở nhà mình, hỏi thăm chưa tới Tết sao cúc đã trổ hết rồi ? Bên này cúc nở vào mùa Thu, chứ không phải mùa Xuân như ở VN. Mỗi nơi xuân về sẽ có những loài hoa trái khác nhau. Cho nên nếu hồi đó 3 ông Trịnh, Lâm, Ngân, mà ở Tây ở Mỹ thì bây giờ không có câu ca bất hủ " Mẹ ơi, hoa cúc hoa mai nở rồi". Tuỳ duyên là vậy :-).

Tán gẫu chuyện thời sự bên Mỹ cũng vậy, ông tổng thống hiện tại lên ngôi cũng được chục tháng rồi, chưa kể là trước đây ông cũng từng làm qua 4 năm tt nữa. Nên ít nhiều thì người ta cũng được nhìn thấy người thật việc thật, cảm nhận, hiểu biết thêm về tài năng lãnh đạo, và đạo đức tư cách của con người ông. Mình không muốn bàn đến chuyện tốt xấu, đúng sai ở đây, bởi mỗi người đều có tư duy, hiểu biết, và cái nhìn riêng biệt để suy luận. Ai cũng có quyền diễn đạt tư tưởng cá nhân, ai cũng có quyền chọn lựa đức tin cho riêng mình, và ai cũng cần có trách nhiệm với bản thân về sự chọn lựa của họ. Có điều mình tưởng rằng trong cuộc sống hàng ngày, một khi thiên hạ thấy biết một điều gì đó rõ ràng hơn, thì họ sẽ ít tranh cãi hơn. Giống như đã được thấy con voi rồi, thì không cần tranh cãi với nhau bộ phận nào to nhất nữa. Thế nhưng thực tế không phải vậy, nhìn lại cuộc sống chung quanh, những cuộc tranh cãi vẫn còn cứ tiếp diễn, sôi nổi và nóng bỏng. Tin thật tin giả, chính thống, nổi trôi, nửa gà nửa vịt, vẫn cứ đầy rẫy khắp nơi, trên mạng, quán cafe, quán nhậu, vũ trường, và ... quốc hội :-) .

Đôi khi mình cũng thắc mắc, cuối cùng thì con người thực sự tìm kiếm điều gì, và tìm ở đâu ? 

Có một nghịch lý tồn tại trong đời sống nhận thức của con người, đó là ai cũng nói rằng mình yêu chân lý, nhưng khi sự thật hiện ra, không phải ai cũng đủ can đảm để đối diện với nó. Bởi lẽ, con người thường không tìm kiếm sự thật, mà chỉ tìm kiếm điều gì khiến họ cảm thấy dễ chịu, an toàn, hoặc phù hợp với niềm tin sẵn có của mình.


Trong sâu thẳm tâm lý, mỗi người đều có một “bản đồ” về thế giới, một hệ thống niềm tin, định kiến, và kinh nghiệm được tích lũy qua thời gian. Khi đứng trước một thông tin hay hiện tượng mới, người ta thường vô thức so sánh nó với "bản đồ" ấy. Nếu nó khớp, ta dễ dàng chấp nhận; nếu nó trái ngược, ta lập tức phản bác, thậm chí né tránh. Chính điều đó tạo nên hiện tượng mà các nhà tâm lý học gọi là “thiên kiến xác nhận”. Con người có xu hướng chỉ tin những gì củng cố cho quan điểm của mình, thay vì thử thách nó bằng sự thật.

Nhìn quanh đời sống xã hội, ta thấy điều này diễn ra ở khắp nơi. Trong các cuộc tranh luận, người ta không lắng nghe để hiểu, mà lắng nghe để phản biện. Trong việc học hỏi, nhiều người chỉ chọn đọc những gì mình đã tin, và gạt bỏ những gì khiến mình phải suy nghĩ lại. Thậm chí trong tôn giáo, khoa học hay chính trị, sự thật đôi khi không phải là điều được tôn vinh cao nhất, mà là một "phiên bản của sự thật" phù hợp với số đông, với quyền lực, với "dao to búa lớn", hoặc với cảm xúc của con người.

Thế nhưng, sự thật thì không cần ai tin để trở thành sự thật. Nó tồn tại độc lập với niềm tin của chúng ta. Sự trưởng thành trong nhận thức bắt đầu khi con người dám đặt câu hỏi cho chính mình như : Điều ta đang tin có thật là đúng không ? hay ta chỉ tin vì nó khiến ta thấy dễ chịu? hay ta tin vì bạn bè ta tin như vậy ? hay ta tin vì ông giáo sư tiến sĩ kia nói vậy ? hay ta tin vì ông sếp ta cũng tin như vậy? hay ta tin chỉ vì quyền lợi? hay ta tin chỉ vì muốn chứng tỏ ..v.v..và ..v.v.

Thông thường người trí tuệ không tìm sự dễ chịu, mà tìm sự thật, dù đôi khi nó cay đắng, cô độc, hoặc khiến họ phải từ bỏ những điều đã từng nâng đỡ hoặc đem lại quyền lợi cho họ trước đây. Đức Phật cũng từng dạy rằng: “Đừng tin vì nghe truyền lại, vì thấy hợp lý, hay vì người đáng kính nói ra. Hãy tự mình quán chiếu để thấy đó là sự thật.” Câu nói ấy không chỉ là lời khuyên cho người tu hành, mà cho mọi ai muốn sống thật với chính mình. Bởi chỉ khi ta dám nhìn thẳng, vượt qua cái tôi và định kiến, ta mới có thể chạm đến điều chân thật trong thế giới, và trong chính lòng mình.

Carl Jung, một nhà tâm lý học nổi tiếng của thế giới, cho rằng sự thật không nằm ở một hệ thống tri thức tuyệt đối bên ngoài, mà ở sự đối diện trung thực với chính vô thức của con người. Ông nói con người không thật sự “tìm kiếm sự thật”, mà chỉ đi tìm những hình ảnh giúp họ duy trì cảm giác an toàn trong tâm hồn. Phần lớn chúng ta sống trong thế giới của ảo tưởng bản ngã (ego), tự cho rằng mình hiểu biết, trong khi những động lực sâu xa của hành vi lại nằm trong vô thức tập thể (collective unconscious), nơi chứa các biểu tượng, nguyên mẫu và bản năng nguyên thủy.

Với Jung, “sự thật” không chỉ là điều được lý trí công nhận, mà là sự hòa hợp giữa ý thức và vô thức, giữa cái mà ta tin và cái mà ta sợ. Con người chỉ thực sự chạm đến chân lý khi dám đối diện với “bóng tối” của mình, tức phần tâm lý bị che giấu, bị chối bỏ,  và dung hòa nó vào cái toàn thể. Ông từng nói: “Con người không được soi sáng bằng cách tưởng tượng ra ánh sáng, mà bằng cách làm cho bóng tối trở nên có ý thức.” Vì thế, với Jung, sự thật không phải là điều ta tìm thấy bằng tri thức, mà là điều ta trở thành khi dám nhìn sâu vào chính mình.


Từ xa xưa đến nay, trong cuộc sống hàng ngày luôn có những dị biệt, từ chuyện to đến chuyện nhỏ, từ thế giới quan cho đến nguyên tắc sống. Nguyên nhân không phải chỉ dừng lại ở sự khác biệt về trình độ, kiến thức, tôn giáo, hoàn cảnh ..... Mà thực chất là ở cái nhìn phiếm diện và cách hiểu chủ quan của từng người. Ví dụ như những năm gần đây, quan sát hiện tượng phân hoá và xung đột mâu thuẩn chính trị ở những nước dân chủ văn minh như Mỹ khiến người ta ngao ngán và thất vọng. Có lúc băn khoăn không biết ai nói đúng ai nói sai, hay là cả các bên đều nói dối, hay mạnh ai nấy hiểu, hiểu sai sự thật từ một vấn đề chung. Rồi dẫn đến bên nói gà, bên nói vịt, ai cũng cho mình tài, mình đúng :-) ? Thực ra cái căn bệnh "ta luôn đúng" này, thì vô cùng khó trị. Đó là căn bịnh ung thư đã di căn của nhân loại, không chừa một ai !

Theo thiển ý của mình, sự thật không bao giờ thuộc về kẻ cố bảo vệ quan điểm, mà thuộc về người đủ khiêm nhường để lắng nghe, đủ can đảm để thay đổi. Cho nên một số người thực hành sống tỉnh thức (mindfulness) thường cho rằng - chân lý không nằm trong sự khẳng định, mà nằm trong sự thức tỉnh ! 

Viết tới đây, bỗng nhớ đến một người, đó là Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ (xin lưu ý, cái danh Thượng Sĩ này hình như là do vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi Ngài, chứ không phải giống danh xưng "vô thượng sư" nghen :-). Nôm na, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ (TTTS) là anh ruột của Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn.  Ngài cũng vừa là bác họ, vừa là cậu, vừa là Thầy của Phật hoàng Trần Nhân Tông (người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm của VN sau này).  


Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ tại gia, từng là một danh tướng, không xuống tóc quy y, không sống theo thân phận hoàng tộc, mà chọn con đường hòa mình vào đời sống bình dị, gần gũi với dân gian, nhất là với những người dân chài ven biển. Ở giữa đời thường, Ngài vẫn sống một cách tự tại, thong dong, dùng trí tuệ và tâm từ để chỉ dạy cho người đời. Chính vì vậy, nhiều người xem Ngài là một bậc giác ngộ giữa cõi nhân gian, người đã chứng đạo mà vẫn không rời thế tục.

Vua Trần Thánh Tông, vốn am hiểu sâu sắc giáo lý Phật giáo và hết sức cẩn trọng trong việc giáo dục con cái, rất kính trọng Tuệ Trung Thượng Sĩ. Chính nhà vua đã giao phó việc chỉ dạy thái tử Trần Nhân Tông cho Ngài, vị thầy vừa là người thân trong hoàng tộc, vừa là bậc đắc đạo giác ngộ, không màng danh lợi. Nhờ được dẫn dắt từ thuở nhỏ trong tinh thần ấy, sau này Trần Nhân Tông mới có thể vừa là một minh quân, vừa là một thiền sư khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo và đời.

Đến ngày nay, nhiều bậc thiền sư hiện đại như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ... vẫn thường trích giảng các bài pháp kệ trong “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục”, xem đó là những viên ngọc quý trong kho tàng tư tưởng Thiền học Việt Nam. Không chỉ là những lời dạy về đạo, mà trong đó còn phản chiếu tinh thần nhân văn, trí tuệ và lòng từ bi của người Việt thời Trần, thời đại mà Phật pháp, văn hóa, và lòng yêu nước hòa quyện làm một.

Thời kỳ ấy không chỉ có những pháp thoại và thiền kệ sâu xa, mà còn đầy ắp những câu chuyện về lòng dũng cảm, sự hy sinh, tình yêu, và khí phách ngút trời của một dân tộc nhỏ bé ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, đế quốc hùng mạnh từng chinh phục cả Á – Âu.

Điều đáng tiếc là cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một tác phẩm văn chương hay điện ảnh thật xứng tầm để tái hiện trọn vẹn vẻ đẹp tinh thần của thời đại huy hoàng ấy, thời của Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Hưng Đạo, và Trần Nhân Tông... Trong khi đó, trên các kênh truyền hình đại chúng, phim dã sử và anh hùng giả tưởng của Trung Quốc, Hàn Quốc lại tràn ngập, khiến khán thính giả VN càng thêm khát khao được nhìn thấy hào khí Đông A của chính dân tộc mình được sống dậy trên màn ảnh.

Trở lại chuyện hành trình đi tìm "sự thật", Tuệ Trung Thượng Sĩ từng dạy:

“Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.”

(Tạm dịch: Hãy soi lại chính mình, đó là việc lớn lao nhất đời người, đừng mong ai khác chỉ cho mình thấy sự thật.)

Sự thật vốn không xa. Nó nằm ngay trong từng hơi thở, từng ý nghĩ, từng hành động. Nhưng bởi con người ưa tìm kiếm ở ngoài, nên càng tìm càng xa. Ta đọc sách, nghe giảng, chất chứa tri thức… mà ít khi dừng lại để lắng nghe sự thật trong chính tâm mình. Cái "biết" càng nhiều, thì cái "thấy" lại càng bị che lấp. Càng cố chứng minh rằng mình đúng, ta càng đánh mất khả năng nhìn thấy điều đang là !

Có nhiều người cho rằng những bậc trí tuệ không sợ sự thật, vì họ hiểu rằng sự thật không đến để làm tổn thương, mà để giải thoát. Còn những kẻ chấp ngã thì sợ, vì sợ mất đi cái khung hiểu biết quen thuộc, sợ rằng nếu một ngày nhận ra mình sai, thì mình là ai? Nhưng chính khoảnh khắc ta chịu buông cái sai ấy, cũng là lúc chân tâm bừng sáng, như mây tan để mặt trời hiển lộ. Ngài TTTS cũng từng dạy cho vua Trần Nhân Tông “Phật là tâm ông, ngoài tâm không có Phật. Tìm sự thật cũng vậy, ngoài tâm không có sự thật. Nếu tâm ta bị khuấy động bởi ưa ghét, thương giận, thì sự thật liền bị nhuộm màu theo cảm xúc ấy. Khi tâm lặng, sự thật tự hiển. Không cần tìm, cũng chẳng cần hiểu, chỉ cần thấy."

Nhớ ngày xưa, mình đã từng đọc những phần này. Đọc tới đọc lui, rồi nghi ngờ tự hỏi: Chân lý cao siêu lại có thể đơn giản đến thế sao?

Giờ thì đã lang bạt tha phương mấy chục năm, lăn lộn với cơm áo gạo tiền, tiêu nhiều hơn muối (mà cũng có lúc muối nhiều hơn tiêu 😊). Quay trở lại, cũng đọc những chuyện ngày xưa ấy, lại thấy… không còn gì để nghi ngờ nữa. 

Thế nhưng, lâu lâu mở YouTube, xem TV, nghe tin vịt, thấy người ta cãi lộn lung tung, vu khống, chụp mũ bên nọ bên kia trên mạng … thì tâm vẫn chưa thể "lặng" được. Rồi tự nhủ - Có lẽ con người thường đi tìm điều mình muốn nghe, chứ không tìm điều mình cần thấy. Mà chân lý sự thật thì vốn không sinh ra để làm vừa ý ai. Nó chỉ chờ một tâm hồn đủ tĩnh lặng để lắng nghe, đủ can đảm để buông bỏ cái biết cũ, và đủ khiêm nhường để nói là ... tôi chưa biết :-).

Thực tế thì đến một lúc nào đó, trí óc ai cũng trở nên già nua. Quy luật sinh, lão, bệnh, tử của vạn vật, chẳng ai tránh khỏi. Mình cũng vậy, có những lúc nhớ được một điều gì đó rất hay, nhưng lại không nhớ là đã từng đọc ở đâu, hay nghe ai giảng dạy. Ráng lục lọi ký ức mãi, không hình dung được, rồi lại bật cười: “Nhớ chi cho mệt. Ai nói thì cũng vậy thôi. Ông Phật, ông Chúa, ông xe ôm, ông vô gia cư, ông sư thầy, bà tiến sĩ giáo sư, hay một kẻ nghèo hèn khốn khổ nói, thì có gì khác nhau đâu ? Thực tế thì ai cũng có thể dạy mình !"

Quả nhiên là vậy, bằng cấp, vật chất, hay địa vị xã hội không bảo đảm được một trí tuệ (wisdom) thực sự, nhất là trong hành trình kiếm tìm sự thật của bản thân. Nhớ mang máng có ai đó đã từng dạy rằng: “Tìm kiếm sự thật không phải là gom nhặt thêm hiểu biết, mà là gột bỏ những lớp hiểu biết sai. Tu không phải là chạy ra ngoài tìm Phật, mà là trở về soi sáng tự tâm. Tu cũng không phải để trở thành, mà là để trở về. Một người có thể học cả ngàn kinh điển, mà vẫn chưa bước được một bước trên đường giác ngộ. Nhưng khi tâm đã an nhiên, lời và ý đều rơi rụng, thấy vạn vật như nó đang là, thì chỉ còn lại sự sáng biết (tánh biết) lặng lẽ. Lúc ấy, sự thật không còn là điều phải tìm, mà chính là ta đang sống trong nó, như con cá bơi trong nước, đâu cần hỏi nước ở đâu.”

Và mỗi lúc nhớ đến những lời dạy đó, mình thường nghĩ rằng - Đấy, chuyện chỉ đơn giản như vậy thôi, mà cả mấy ngàn năm qua, bao nhiêu kinh sách, bao nhiêu tông phái, bao nhiêu ông này bà nọ ...vẫn loay hoay đi tìm sự thật chưa ra, huống chi là kẻ phàm phu tục tử như mình :-). Mà quả nhiên là sự thật chưa từng ở đâu xa, chỉ vì ta không chịu nhìn vào chính mình, mà chỉ mải mê tìm kiếm hoặc chờ đợi từ nơi khác !

Và cũng biết đâu, trong câu chuyện Nỏ Thần của An Dương Vương – Triệu Đà ngày xưa, khi cụ Rùa Vàng (Thần Kim Quy) nói “Kẻ thù đang ở ngay sau lưng nhà ngươi", đó không chỉ là lời cảnh báo cho một vị vua, mà còn là thông điệp gửi lại cho hậu thế.

Bởi kẻ thù thật sự của con người không phải lúc nào cũng mang gươm giáo hay mưu mô, mà chính là những ảo giác, vọng tưởng và chấp niệm ta mang theo trong chiếc ba lô của hành trình cuộc đời mình. Chứ cũng chẳng phải lúc nào cũng có Trọng Thủy hay Mỵ Châu nào đó đâu. Chỉ có ta, với chính những bóng hình trong tâm tưởng mình. Tự biên tự diễn, vừa là người lữ hành, vừa là kẻ tự giăng bẫy rãi đinh trên đường đi 😊.

Thôi, lan man chút cho vui. Giờ đến lúc dọn vườn quét lá rồi. Chúc quý bằng hữu một cuối tuần an vui, hạnh phúc và tĩnh tại . 

PN
10/2025