Showing posts with label Chuyện tào lao. Show all posts
Showing posts with label Chuyện tào lao. Show all posts

Saturday, January 10, 2026

Phiếm : Ôn cố tri .... tâm :-)

 


Lâu nay, người ta thường nhắc đến cụm từ “ôn cố tri tân” như một chân lý hiển nhiên, như thể chỉ cần nhìn lại quá khứ thì tự khắc sẽ hiểu được hiện tại. Nhưng nghĩ kỹ thì cũng chưa chắc. Bởi “tri” là chuyện rất riêng, mà đã là chuyện riêng thì khó có sự đồng thuận. Tư duy con người phụ thuộc vào những điều kiện (nhân duyên) khác nhau, cuối cùng mỗi người “tri” một kiểu. Cái hiểu của người này khác với người kia, dẫn đến những tranh cãi, hoặc xung đột mâu thuẩn ngoài ý muốn, không cần thiết. Tranh luận về lịch sử VN trên mạng xh trong thời gian gần đây là ví dụ gần gũi nhất. Cùng một chuỗi sự kiện, cùng một nhân vật lịch sử, nhưng cách “tri tân” giữa người này khác với người kia, đàng trong khác với đàng ngoài, trong nước khác với ngoài nước ... Nhiều lúc khác nhau đến mức tưởng chừng như họ đang nói về hai lịch sử song song. Mặc dù ngày nay báo chí, tư liệu, phương tiện truyền thông đầy đủ hơn bao giờ hết, nhưng tin tức cũng có mặt trái của nó, nếu không biết gạn lọc phân tích thì mớ thông tin hổn độn đó lại trở thành những "sở tri chướng" trong cuộc sống. Bởi vậy cứ vài ba ngày một trận nhỏ, vài ba tuần một trận lớn, vài ba tháng một trận “nổi đình nổi đám”. Mới chuyện “mưa đỏ mưa xanh” chưa lắng, thì đã đến chuyện Bảo Ninh "Nỗi buồn chiến tranh", rồi Quang Trung Gia Long ... Hải ngoại cũng thế, cùng là thân phận sờ voi, người đọc báo lề trái công kích lề phải, ông đọc "tin vịt" phê phán bà đọc tin tức "chính thống", kẻ đọc báo "chợ" chê trách người đọc "tin gốc"...v.v.. Rồi cứ thế, nhu cầu chứng tỏ đúng sai, hiểu biết thời cuộc, được nâng cao hơn bao giờ hết. Vô tình tạo ra một môi truờng màu mỡ cho các youtube bẩn, tin vịt tin gà, hoặc các "ông chú vịt teo" chuyển tải tin tức ngày càng mạnh mẽ. Râm rang, ầm ỉ, sôi động, tiếp nối nhau không bao giờ kết. Bởi vậy mình thường nói đùa, đúng ra phải là "ôn cố tri ... tâm" mới đúng. Vì cho dù có "ôn" kiểu gì thì cuối ngày cái "tâm" của mỗi người sẽ là phần quyết định vẽ lên bức họa chân dung của riêng họ !

Nhưng nghĩ cho cùng, đời sống cũng cần như vậy mới vui. Chứ nếu ai cũng “ôn cố” mà “tri tân” giống nhau thì thiên hạ chắc là buồn lắm :-). 


Hôm nay, mình cũng thử “ôn cố”, nhưng ôn… chuyện Tam Quốc Chí cho vui, chứ hoàn toàn không có ý tranh chấp đúng sai. Trước hết phải nói cho rõ, truyện Tam Quốc mà chúng ta quen đọc, quen xem, vốn là một câu chuyện “thất thực tam hư”, bảy phần thực, ba phần hư. Tuy nhiên những phần hư ấy lại trở nên rất hấp dẫn đối với hậu thế, và có những bài học đáng giá. Đôi lúc cứ tưởng như là có thật 100% :-) 

Nguyên thủy Tam Quốc Chí là của Trần Thọ, viết vào thời Tây Tấn, khoảng thế kỷ thứ 2-3 gì đó sau Công nguyên. Sau đó có bao nhiêu bổ sung, chú giải của các học giả đời sau, nổi bật nhất là Bùi Tùng Chi với Tam Quốc Chí Chú. Rồi phải gần một ngàn năm sau nữa, đến thời nhà Minh (cùng thời với giai đoạn Hồ Quý Ly, Lê Lợi, Nguyễn Trãi ở nước ta), La Quán Trung mới dựa trên nền tảng đó mà viết nên Tam Quốc Diễn Nghĩa, một tiểu thuyết dã sử đúng nghĩa, lịch sử pha văn chương, chuyện thật hòa với "lý tưởng". Về sau, cũng có một số chi tiết thêm thắt, sửa sang như của Mao Tôn Cương, của các nhà tuyên giáo, hoăc các nhà xuất bản của nhà nước TQ, nhưng thực tế cũng không làm thay đổi bản chất vấn đề nhiều lắm. Nói cho cùng, Tam Quốc mà chúng ta đọc hôm nay đã là sản phẩm của nhiều lớp thời gian, nhiều tầng diễn giải, thực hư lẫn lộn. Bởi vậy, nếu chấp vào từng chi tiết để phân định đúng sai tuyệt đối thì e là… tự làm khổ mình.

Với phạm vi thời gian ngắn ngủi của ly cafe và bình trà, mình mạn phép chỉ xoay quanh vài nhân vật cộm cán quen thuộc thôi. Đọc như đọc một câu chuyện cũ, nghĩ như nghĩ một chuyện đời, không nhằm kết luận, càng không nhằm phán xét. Chỉ là ôn lại chuyện xưa, để thấy mỗi thời, mỗi người, mỗi cảnh ngộ đều có những cách ứng xử khác nhau. Và có lẽ, chính sự khác nhau ấy mới làm cho lịch sử, cũng như đời sống, còn điều đáng để suy ngẫm :-)

Trước tiên, nói đến hai cha con Đổng Trác và Lã Bố. Một người thì chuyên xử dụng quyền lực dựa trên bạo lực, không dựa trên chính danh. Một người thì có sức lực siêu quần, hám danh, tự cao tự đại, đánh đâu thắng đó, nhưng không giữ được kết quả lâu dài. Đổng Trác và Lữ Bố thất bại, bị đào thải khỏi ván cờ lịch sử, không phải chỉ vì thua trận, mà thua về tư duy chính trị, chiến lược dài hạn, và cách dùng người. Đổng Trác nắm quyền nhờ vũ lực và khủng bố, gieo rắc sợ hãi, thao túng triều đình, phế lập hoàng đế, nên làm mất lòng nhân sĩ, chư hầu và dân chúng. Tầm nhìn của Đổng Trác mang tính thời vụ, không xây dựng được một liên minh bền vững, và kế hoạch lâu dài. Và cũng chính vì lợi ích ngắn hạn nên chỉ dựa vào đám thuộc hạ trung thành, khiếp nhược, đa số phục tùng ông vì quyền lợi, vì sơ hãi, hoặc chịu đấm ăn xôi. Quan trọng hơn nữa là chính cái sức mạnh mà Đổng Trác dựa hơi, cũng không phải do ông tạo ra, mà là dựa vào Lữ Bố. Đây cũng là một ngộ nhận thường thấy, nhiều người hiểu lầm thiên hạ đang sợ bản thân họ (tự ngã) nhưng thực ra thiên hạ "sợ" họ vì một nguyên nhân khác. Nhìn chung, Đổng Trác không có chính danh, nghĩa là tự chuốc cô lập, thất bại chỉ là chuyện sớm muộn. 

Còn Lữ Bố thì võ dũng tuyệt đỉnh, nhưng lại kém tư duy, mưu lược. Lữ Bố mạnh cá nhân nhưng thiếu trung thành (giết Đinh Nguyên, giết Đổng Trác), thiếu tầm nhìn, không biết cách giữ đất, giữ người, giữ lòng kẻ dưới. Ông dựa vào sức mạnh, đánh đâu thắng đó, nhưng không giữ được kết quả lâu dài, vì không có hệ thống mưu sĩ, không xây dựng được nền tảng chính trị. Cho nên Lữ Bố chỉ là hình mẫu của anh hùng cá nhân, trong khi Tam Quốc là cuộc chơi của tổ chức và trí tuệ tập thể, nên tất nhiên là sớm nở tối tàn. Thế nhưng, hình ảnh "anh hùng" và câu chuyện tình Lữ Bố Điêu Thuyền lại rất hấp dẫn với đám đông đời sau, nhất là trong các tuồng cải lương, hát chèo, hát bộ, hoặc các xe bán hủ tíu, phá lấu ngoài chợ  ...:-)

Kế đến là Tào Tháo. Một nhân vật tốn nhiều bút mực của lịch sử với những tranh cãi đa chiều. Nhiều người cho rằng nói đến thời Tam Quốc thì phải nói đến 3 nhân vật chủ chốt - Tào Tháo, Quan Công, và Khổng Minh. Có lẽ vậy, vì họ là biểu tượng của "tam tuyệt" trong thời kỳ Khổng giáo, Nho giáo, Đạo giáo của TQ được coi trọng. Mặt khác, Tam quốc Chí cũng mang tư tưởng "thiên thời, địa lợi, nhân hoà" một cách rõ nét. Ba nước Ngụy, Đông Ngô, và Thục được nhiều người cho là biểu tượng của 3 yếu tố đó. 

Thực ra cho tới giờ mình vẫn không hiểu tại sao VN ta mỗi lúc tiêu chảy là ví von "bị Tào tháo rượt". Chứ đứng trên phương diện quân sự chính trị, Tào Tháo là một nhà quân sự rất có tài. Ông thắng vì đánh bằng não, chứ không chỉ bằng gươm. Ngươc lại với Đổng Trác và Lữ Bố, Tào Tháo “phò thiên tử dĩ lệnh chư hầu”, mượn danh nhà Hán để gom người tài, tạo chính danh, kiến lập liên minh. Nổi bật là ông biết dùng người, trọng dụng mưu sĩ tướng tài như Tuân Úc, Quách Gia, Trình Dục, Hạ Hầu Đôn… Sẵn sàng chấp nhận người có quá khứ phức tạp nếu họ có năng lực. Tào Tháo có chiến lược dài hạn, có nguyên tắc. Khi ra trận không cần thắng tất cả các trận, mà chỉ cần thắng đúng thời điểm. Khi yếu, dám rút, dám nhịn, dám thua, dám thỏa hiệp khi cần. Ông biết xây dựng hệ thống, tổ chức quân đội, hậu cần, pháp luật. Quan trọng nhất là biết biến quyền lực cá nhân thành quyền lực thể chế !

Nôm na, Đổng Trác, Lữ Bố, và Tào Tháo là biểu tượng cho 3 con đường quyền lực trong thời loạn lạc. Tuy nhiên, lịch sử xưa nay không luôn chọn kẻ mạnh nhất, mà nó chọn kẻ hiểu được thời thế, biết mình đang đứng ở đâu trong dòng chảy của thời cuộc, giữa bạo loạn và trật tự, giữa quyền lợi và xung đột.

Rõ ràng, Đổng Trác dựa vào một thứ quyền lực không có gốc rễ, không xây dựng được niềm tin, mà chỉ tích lũy oán hận. Ông nắm triều đình bằng cách gieo rắc sự sợ hãi, áp đặt, một dạng quyền lực thuần bạo lực, không cần sự đồng thuận, không cần đạo lý, cũng không cần lòng người. Những loại quyền lực mang tính nhiễu loạn như vậy thường chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, dễ dàng mất đi khi thế lực chỗ dựa (Lã Bố) không còn. Vả lại, một khi quyền lực chỉ dựa trên nỗi sợ, kẻ cầm quyền tất yếu phải sống trong vòng vây của chính thuộc hạ. Cái chết của Đổng Trác dưới tay Lữ Bố, vì thế, không phải là một hành vi phản loạn bất ngờ, mà là hệ quả tất yếu. Nho gia gọi đó là quyền lực không chính danh, chỉ tạo ra bất ổn; còn Đạo gia thì cho rằng, thứ gì đi ngược tự nhiên, sớm muộn cũng tự diệt.

Còn Lữ Bố là hiện thân của sức mạnh thuần tuý. Trên chiến trường ông là cơn bão, trong tiểu thuyết ông là biểu tượng. Nhưng trong lịch sử, ông lại là một con người không thuộc về thời đại mình đang sống. Thời loạn không cần anh hùng đơn độc, nó cần những người biết giữ đất, giữ lòng người, giữ lòng tin và lòng trung thành, kể cả khi phải nuốt nhục chịu đựng. Lữ Bố phản Đinh Nguyên, giết Đổng Trác, thay chủ như thay áo. Võ công có thể khiến người khác khiếp sợ, nhưng không thể khiến họ tin cậy. Lữ Bố không có mưu sĩ lớn, không nền tảng chính trị, không hệ thống tổ chức. Bởi vậy Lữ Bố luôn thắng trận, nhưng luôn thua cuộc. Ông giống Achilles hơn là Odysseus. Và lịch sử, cũng như chiến tranh, thường đứng về phía Odysseus !

Tào Tháo thì ngược lại, là một kẻ hiểu rõ bản chất của thời thế. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng Tào Tháo là gian hùng. Nhưng nếu bỏ qua những nhận định theo kiểu quán tính đó, thì quả nhiên Tào Tháo là người nhìn thấu thời cuộc. Tuy nhiên ông cũng là người có những khuyết điểm lớn tạo ra những bất đồng như đa nghi, độc đoán, vị kỷ. Ông không phải là người nhân từ nhất, cũng không phải người chính nghĩa nhất, nhưng ông là người tỉnh táo nhất. Khi thiên hạ loạn, ông không cố gắng làm thánh nhân. Ông làm người "quản lý" sự hỗn loạn đó. “Phò thiên tử dĩ lệnh chư hầu” không chỉ là mưu mẹo chính trị, đó là sự hiểu biết sâu sắc rằng chính danh vẫn còn giá trị xử dụng, ngay cả khi đạo đức xã hội đã rạn nứt. Tào Tháo mượn vỏ Nho gia để vận hành phép nước, nhưng trong nội tâm ông lại hành xử rất Đạo gia - linh hoạt, tùy thời, không chấp trước. Ông dùng người giỏi mà không đòi họ phải hoàn hảo. Ông chấp nhận bị mang tiếng uy hiếp thiên tử, miễn là giữ được trật tự. Tào Tháo không thắng vì mạnh hơn Lữ Bố, cũng không vì tàn bạo hơn Đổng Trác, mà ông thắng vì hiểu rằng lịch sử là trò chơi của hệ thống, không phải của cá nhân.

Vậy lịch sử đã chọn ai ? Đổng Trác đại diện cho thứ quyền lực thô thiển, chết nhanh. Lữ Bố đại diện cho anh hùng cá nhân, không bền vững. Tào Tháo đại diện cho trí tuệ có tổ chức, nên đã để lại di sản cho nhà Nguỵ. Tất nhiên xưa nay lịch sử không phán xét bằng lời nói, mà bằng kết cục. Kết cục của Tam Quốc rất rõ, trong thời loạn, người hiểu quy luật, sẽ sống sót và viết tiếp câu chuyện lịch sử, còn kẻ chỉ tin vào sức mạnh hoặc hào quang cá nhân, sẽ trở thành một chương bi kịch bị lãng quên !

Giờ mạn phép "bàn loạn" đến một vài biểu tượng của đạo đức và tài năng trong Tam Quốc Chí. Đó là những nhân vật luôn được hậu thế kính trọng, trong đó nổi bật nhất là Khổng Minh Gia Cát Lượng, Lưu Bị, Quan Công. Và cuối cùng, tất nhiên là một nhân vật không thể thiếu, Tư Mã Ý, người trụ lại sau cùng của cuộc chơi thời Tam Quốc :-) .

Trước tiên hãy nhìn lại lịch sử của nhân loại, có một nghịch lý rất cay đắng, đó là những người được yêu mến nhất, không phải lúc nào cũng là người chiến thắng sau cùng. Đọc Tam Quốc cũng vậy, lòng người luôn nghiêng về Lưu Bị nhân nghĩa, Quan Công trung liệt, và Khổng Minh mưu lược, trung thành, tận tụy đến chết. Nhưng đáng tiếc họ không phải là người chiến thắng. Họ giống như những vì sao sáng rực rỡ, có phương hướng đạo đức rõ ràng, và chết trong tư thế “đẹp”, đầy lý tưởng. Nhưng thực tế lịch sử không thưởng công cho vẻ đẹp đạo đức, mà giữ lại những con người biết cách tồn tại, sống sót lâu nhất trong giòng dịch chuyển của đời sống vô thường. Và người đó là Tư Mã Ý.

Một khi nhắc đến Khổng Minh, ai lại chẳng nể phục? Ngay cả kẻ thù cũng phải kính trọng, nể nang ông. Nhớ hồi nhỏ, có một thời mình mê mẫn nhân vật này mà bỏ học bỏ hành. Đi lục lọi tìm đọc đủ thứ sách, để mong được "trên thông thiên văn, dưới rành địa lý" như Khổng Minh. Lớn lên có lúc ngồi nhìn lại, phì cười một mình :-).

Quả nhiên Gia Cát Lượng là một hình ảnh cao quý - trung, tận, trí, liêm - gần như là lý tưởng hoàn hảo của Nho giáo, và là hình ảnh khuôn mẫu của người quân tử Á đông. Nhưng chính vì vậy, ông không thể chấp nhận thua cuộc được. Hình ảnh của ông phải được hoàn hảo, phải chính nghĩa, phải an dân, phải được kính trọng, phải được tôn vinh, kể cả nhiều lần vấp ngã của bản thân. Đó cũng chính bi kịch của người còn chấp trước “chính nghĩa phải thắng” ! 

Khổng Minh 5 lần đem quân Bắc phạt, cho đến khi kiệt sức qua đời, nhưng vẫn thất bại. Ông không thua vì kém trí, không thua vì kém đạo đức, mà thua vì thế lực và thời thế, vì sự bám chấp của bản thân. Khổng Minh phải trung với Hán, phải vì chính nghĩa, phải biết trước thiên hạ, phải tạo phúc cho bá tánh, phải ra tay trước đối phương .v.v... Ông đánh trận như đang gánh đạo lý của cả thiên hạ, và gánh nặng đó thuộc về tự ngã của bản thân và sự chấp trước của một sứ mệnh hoàn hảo !

Tư Mã Ý thì không. Tư Mã Ý không mang giấc mộng phục Hán. Ông cũng không cần chứng minh mình “đúng”. Đây là sự khác biệt giữa người còn trụ vào ngã "đạo đức", và người đã buông vai diễn lịch sử. Khổng Minh chết vì tận lực, Tư Mã Ý sống vì… không tận lực khi chưa đến lúc !

Tư Mã Ý không có “hình ảnh” để giữ. Ông không cần chết đẹp, chỉ cần sống đủ lâu, cho nên có thể nói rằng Tư Mã Ý hiểu được “vô ngã" danh vị. Khi Gia Cát Lượng dùng kế sĩ nhục, gởi tặng cho bộ yếm phụ nữ, ông đã ung dung mặc vào đi trước ba quân, chỉ quan tâm hỏi thăm sức khoẻ của Khổng Minh. Không phải ông lãnh đạo nào cũng làm được điều này. Nếu phải so sánh Tào Tháo với Tư Mã Ý, thì tạm gọi Tào Tháo là người hiểu được vô thường, còn Tư Mã Ý là người… ở yên trong vô thường. Tào Tháo không tự xem mình là thánh nhân. Ông cũng không cố gắng đóng vai kẻ phản diện một cách lãng mạn. Ông hành xử như một người biết rằng mình đang lội trong bùn, và không giả vờ rằng bùn là hoa sen. Tào Tháo chấp nhận để người đời nguyền rủa mình. Đây là một dạng vô ngã nghịch lý, không bám vào hình ảnh đạo đức của bản thân. Trong PG, gọi đó là “không trụ vào nơi tướng mà hành đạo”. Tào Tháo không trụ vào danh xưng trung thần, danh bạo chúa, danh anh hùng gì cả, mà ông chỉ dựa vào kết quả thực tế. Tất nhiên, Tào Tháo không phải là người giác ngộ, càng không phải là Phật tử, nhưng khác nhau là Tào Tháo nhìn thấy sự vô thường của thời cuộc, và chủ động can thiệp. Còn Tư Mã Ý thì cũng nhìn thấy vô thường nhưng không vội hành động, mà kiên nhẫn đợi chờ. Đây là điểm khác biệt then chốt !

Ở Tư Mã Ý, người ta dễ dàng nhận thấy ông hội đủ những tính cách rất quan trọng, là nhẫn nhịn và quan sát, không cưỡng cầu, không bộc lộ. Ông không tìm cách “làm nên thời đại”. Ông chỉ để thời đại tự bào mòn làm lộ diện sự khiếm khuyết, và những ham hố danh lợi vô bổ chung quanh. Trong khi các "anh hùng" khác muốn thắng nhanh, nổi tiếng, ham hố quyền lực trong thời loạn, thì kẻ ẩn nhẫn chỉ cần… sống sót. Tư Mã Ý đã chọn cách này để tồn tại dưới trướng Tào Tháo, ung dung chờ đến phiên mình :-) .

Nhiều người cho rằng Tư Mã Ý nể sợ Tào Tháo, mình thì không nghĩ vậy, nhưng ông là một kẻ biết ẩn mình. Tư Mã Ý là một người vô cùng cao ngạo nhưng biết tiết chế bản thân. Nếu có một người để TMY nể phục về tài năng, thì người đó là Khổng Minh. Nhưng TMY đã nhanh chóng nhận ra ông có lợi thế hơn KM về thời gian và sức khoẻ. Còn đối với Tào Tháo và các vua con, giòng dõi, hậu duệ của Tào Tháo và nhà Nguỵ, không là gì trong mắt của TMY, nhưng bên ngoài ông vẫn nghi lễ chờ thời ! 

Trong Thiền tông PG có câu nói “Nhẫn không phải để thắng người, mà để thắng thời gian". Khi tất cả các anh hùng danh tiếng lần lượt mệt mỏi ra đi, Tư Mã Ý vẫn còn đó, không phải vì ông mạnh hơn, mà vì ông ít bị tiêu hao hơn. Cho nên nhiều nhà phân tích thời cuộc ngày nay, họ không lo ngại bởi một nhân vật nào đó to tiếng, ầm ĩ khoe khoang, mà họ e ngại những kẻ biết dấu mình, biết thổi phồng sức mạnh của đối phương, biết nhẫn nhịn, sẵn sàng bơm bong bóng cho những kẻ hám danh, kéo dài thời gian chuẩn bị, đợi chờ thời cơ thích hợp đằng sau hậu trường !

Tất nhiên, lịch sử sẽ không yêu Tư Mã Ý, bởi vì ông không cho ta một hình mẫu đạo đức để cho thiên hạ ngưỡng mộ. Ông không chết vì nghĩa, cũng không sống vì lý tưởng cao đẹp, cũng không để lại lời trăn trối cảm động lâm ly bi đát gì. Ông chỉ để lại một kết cục, đó là kết quả của nhân duyên, chứ không phải công trạng đạo đức. Cuối cùng ông có thể ung dung lật đổ một triều đại để lập ra một triều đại mới. Lịch sử cần người như Tư Mã Ý, nhưng văn học và lòng người thì không !

(Mở ngoặc chút, nhớ hồi nhỏ mình coi Tam quốc Chí, ghét nhất là Tư Mã Ý. Sau này lớn lên, nhìn hình ảnh họ Đặng cuối rạp mình trước tổng thống Carter trước khi xua quân tấn công giết chóc dân VN năm 1979, mình cứ ám ảnh là Đặng Tiểu Bình và Tư Mã Ý có nhiều điếm tương đồng. Tuy nhiên không ai phủ nhận rằng sở dĩ TQ có được ngày hôm nay là nhờ công lớn của Đặng Tiểu Bình, một đại công thần của TQ hiện đại. Bởi vậy nhiều khi đọc về những cuộc chiến tranh hoặc các diễn biến chính trị thời cận đại gần đây, nhiều người cứ nghĩ rằng (hoặc mong muốn rằng) kẻ thắng cuộc phải là kẻ đúng, kẻ nhân từ, hoặc là người tốt, nhưng thực tế thì không phải như vậy. Xưa nay kẻ thắng cuộc chưa chắc là kẻ đúng, cũng không hẳn là "người tốt" theo nghĩa đạo đức ở đời, mà là những kẻ không bị cuốn đi, thậm chí là kẻ có nhiều thủ đoạn hơn hoặc vô liêm sĩ. Nhưng đáng tiếc đó lại là sự thật, bởi thực tế không phải là câu chuyện cổ tích hoặc các phim ảnh cao bồi Viễn Tây).


Còn Quan Công, Lưu Bị thì đơn giản hơn, hoàn hảo hơn, bởi vì họ là những anh hùng chính diện, là những cái "đẹp" lý tưởng của Nho giáo, "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", "tam cương ngũ thường" ... Tuy nhiên, khi con người quá bám víu, trụ vào những giá trị đạo đức mang tính quy ước, thì lại vướng phải những trở ngại to lớn hơn của sự chấp trước. Quan Công trung nghĩa đến mức trở thành biểu tượng. Lưu Bị nhân ái đến mức được người đời tôn kính. Trong PG, quan niệm rằng chấp "thiện" cũng là chấp, chứ không phải chỉ có chấp "ngã", chấp "pháp" .... Cho nên trong kinh điển có những câu chuyện nói về các vị tu sĩ, tu hoài, tu miết, làm toàn chuyện tốt chuyện thiện, thông làu kinh sách, nhưng không thể đạt tới sự giác ngộ được. Còn đời thường tục đế thì thôi khỏi nói rồi, mở mắt ra là gặp "nhị nguyên", chấp thiện chấp ác khắp mọi nơi :-) .

Nôm na, Quan Công chấp "trung", không chịu linh hoạt, làm mất Kinh Châu. Lưu Bị chấp "nghĩa", xuất quân báo thù, dẫn tới đại bại Di Lăng. Cả hai đều đặt đạo lý lên trên thời thế. Trong một thế giới đổ vỡ, điều đó tạo ra một bi kịch đẹp, chứ không tạo ra được một kết cục có hậu. 

Nhìn lại lịch sử, điều nguy hiểm nhất của quyền lực không phải là tàn bạo, mà là tự đồng hóa mình với quyền lực. Khi con người không còn phân biệt được đâu là mình, đâu là vai diễn, đâu là chức vị, thì mọi quyết định đều dễ trở thành mù quáng. Nếu nhìn Tam Quốc Chi như một bài học, ta có thể tóm gọn rằng ai cũng vướng vào những dạng chấp trước của riêng họ. Lưu Bị và Quan Công, thiện nhưng còn chấp. Khổng Minh, trí nhưng còn trụ.Tào Tháo, tỉnh nhưng còn tạo nghiệp. Tư Mã Ý, nhẫn nhục, chờ đợi, không làm biểu tượng nhưng âm thầm nuôi dưỡng tham vọng. Tuy nhiên, trong thế giới vô thường, kẻ không làm biểu tượng thường là kẻ sống sót sau cùng. Đó không phải là chiến thắng của đạo đức, cũng không phải chiến thắng của gian trá, mà là chiến thắng của sự hòa tan vào thời thế. Một chiến thắng lạnh, nhưng rất thật, đúng với bản chất của lịch sử !

Nhưng rốt cuộc thì mọi chuyện vẫn không thể thoát khỏi quy luật vô thường của tạo hóa. Hết triều đại này sẽ đến triều đại khác, hết thời kỳ này đến thời kỳ kia, thịnh suy thời nào cũng có, hết Tào Ngụy rồi đến Tây Tấn cũng bị diệt vong. "Vận nước" của quốc gia nào rồi cũng nổi trôi theo từng giai đoạn, có lúc may mắn, gặp người lãnh đạo đủ tầm, đủ đức, đem lại sự an yên và thịnh vượng lâu dài cho dân tộc. Ngược lại có lúc đất nước gặp những ông vua háo danh, háo sắc, kém tài, để lại sau lưng những di sản và năm tháng đau thương, chia rẽ, đổ nát, mà phải tốn nhiều năm tháng mới khôi phục lại được.

Lịch sử thế giới đã quá dài, quá nhiều thăng trầm, để những bài học căn bản ấy không còn là điều xa lạ với bất kỳ ai muốn nhìn, muốn học. Cho nên, tin tức thời sự thì cứ đọc cho biết, cho “cập nhật” với thiên hạ. Muốn cãi thì cứ cãi, để trau dồi khả năng hùng biện, giảm thiểu các căn bệnh đãng trí mau quên, nhưng cũng mong đừng bám chấp quá sâu vào điều đó. Lại càng không nên trụ vào những ông chú “Vịt teo” hay các thông tấn xã bàn phiếm tự phát. Cực đoan bao giờ cũng không phải là điều tốt đáng theo đuổi. Mọi thứ trong cuộc sống đều vận hành theo quy luật của nó. Bám chấp cưỡng cầu chỉ làm khổ mình, khổ người.

Nhu cầu muốn chứng tỏ và được chứng tỏ của loài người thì lúc nào cũng tồn tại. Khi nào không còn nhu cầu ấy nữa, có lẽ tâm thức đã rẽ sang một lối đi khác. Biết đâu lúc đó lại được ngắm nhìn nhiều hoa thơm cỏ lạ hơn ?

Thôi, phiếm chút cho vui. Chúc tất cả mọi người một cuối tuần bình an, thân tâm an lạc.

PN 



Thursday, November 27, 2025

Lễ Tạ ơn 2025 ...


Hôm nay là ngày Thanksgiving (Lễ Tạ ơn). Như một thông lệ, nhà nào cũng chuẩn bị con gà tây. Nướng, quay, đút lò, xông khói… đủ kiểu sáng tạo, dù ăn uống thật ra chẳng bao nhiêu. Cũng giống như ở VN, cứ chiều cuối năm là đủ loại bánh tét, bánh chưng, nhân chay, nhân mặn, chuối, đậu xanh, nước dừa, gà, heo, thịt mỡ dưa hành…Nói chung là ở xứ nào cũng vậy, điều quan trọng nhất vẫn là cái "hồn" của ngày lễ, nấu nướng rộn rịp là để gia đình, bạn bè có dịp quây quần bên nhau.

Còn nguồn gốc Thanksgiving thì ai cũng biết rồi. Bắt đầu từ bữa tiệc của người hành hương Pilgrims và thổ dân Wampanoag năm 1621, mừng mùa thu hoạch đầu tiên trên vùng đất mới. Dù lịch sử sau này giữa người châu Âu và người bản địa có nhiều xung đột, nhưng tinh thần cốt lõi của ngày lễ vẫn được giữ lại, đó là sự sẻ chia, lòng biết ơn, và sự tử tế giữa con người.

Ngày nay ở Mỹ, Thanksgiving là dịp đoàn tụ lớn nhất trong năm, nhiều gia đình còn coi trọng hơn cả Giáng sinh. Người ta vượt hàng nghìn cây số chỉ để kịp bữa tối truyền thống, gà tây nướng, khoai tây nghiền, gravy làm từ nước thịt gà tây, cranberry sauce (không biết dịch sang tiếng Việt sao), bánh bí ngô .v.v. Mấy đứa nhỏ sinh ra hoặc lớn lên tại đây thì quá quen thuộc mấy món ăn này, còn người Việt ở Mỹ nếu không quen mấy món Tây thì vẫn ăn lễ Tạ ơn, nhưng toàn món độc lạ quê nhà. Nào là tiết canh, cháo lòng, lẩu mắm, tôm hùm, bún bò, bún ốc, ốc vòi voi, thịt luộc chấm mắm nêm .... hay trứng cá caviar, sâm banh ... tùy theo ông nào làm "tổng thống" :-).

Nhưng cuối cùng thì Tây, Ta gì cũng thế, bữa ăn tối thứ Năm, tuần cuối cùng của tháng 11 hàng năm, trở thành biểu tượng của sự đoàn tụ và lòng biết ơn. 

Như thường lệ, năm nay mình cũng được "vinh dự" ngồi canh con gà Tây nướng, giống như hồi nhỏ ở VN đuợc ngồi canh nồi bánh tét bánh chưng. Ngồi canh là lúc nhàn nhã nhất, thả cho đầu óc đi lang thang, mở nhạc, đọc tin tức, nghĩ chuyện Đông Tây, trên trời dưới đất....

Nhưng năm nay cứ mở máy lên, lại thấy tin lũ lụt ở quê nhà, vườn tược tan hoang, người vật nổi trôi. Thực ra thì miền Trung xưa nay năm nào chẳng lũ, không lớn thì nhỏ, nhưng kể từ khi phong trào thủy điện "trăm hoa đua nở", thì lũ càng thêm lũ, hậu quả khó lường !

Nói một cách công bằng thì không phải chỉ có VN mới "trăm hoa đua nở" thuỷ điện, mà Lào và Trung quốc trong những thập niên gần đây, cũng vậy. Điểm chung là đều có tham vọng phát triển kinh tế từ nguồn năng lượng sạch tương đối rẻ. Điểm khác biệt là quy mô, địa hình, mức độ quản lý, và tác động xuyên biên giới. Trong đó VN chủ yếu xây dựng thủy điện trên các lưu vực nhỏ (sông miền Trung, Tây Bắc, Tây Nguyên). Lào thì định hướng trở thành “bình điện của Đông Nam Á”, xây hàng chục đập trên dòng chính và phụ lưu Mekong. Còn TQ thì sở hữu hệ thống thủy điện lớn nhất thế giới, đặc biệt là các siêu đập ở thượng nguồn sông Mekong và sông Dương Tử.

Và cũng chính vì những điểm khác biệt đó mà dẫn đến những hệ quả rủi ro khác nhau. Rủi ro chính thứ nhất của VN là nằm ở hạ du nhiều hệ thống sông ngòi, đặc biệt là Mekong, chịu rủi ro từ hệ quả thuỷ điện của cả Lào và TQ. Rủi ro thứ hai là VN phát triển nhiều công trình thủy điện nhỏ, thường chỉ phục vụ cho một số lợi ích riêng của vùng miền hoặc nhóm đầu tư, không đủ khả năng cắt lũ lớn do mưa bão bất thường. Vì vậy, họ sẽ không ưu tiên vấn đề thiệt hại rủi ro từ các tình huống bất ngờ, mà luôn đặt lợi ích lên trên. Rủi ro thứ ba là do địa hình dốc, hẹp, đặc biệt là miền Trung, lũ lên nhanh, dễ dẫn đến ngập sâu khi xả lũ. Rủi ro kế đến là quản lý vận hành bất cập, nhiều thủy điện nhỏ, phân tán, khó giám sát, hoặc phê duyệt không chặt chẽ, không chi tiết mọi tình huống. Rừng đầu nguồn bị tàn phá khi xây dựng hàng trăm hồ chứa nhỏ.

Những rủi ro đó thì người dân VN đã chứng kiến lặp đi lặp lại hàng năm, nhất là những lúc mưa bão bất thường. Lũ quét, sạt lở, ngập sâu, cả nhân tai lẫn thiên tai hòa vào nhau. Dù năm nào cũng có tranh luận, kiến nghị, phê phán sau mỗi trận lũ, nhưng giải pháp cụ thể dường như vẫn còn xa. Còn ở đồng bằng sông Cửu Long thì lại có những khó khăn khác như mất phù sa do đập thượng nguồn (Lào & TQ) giữ lại. Khó điều tiết nước mùa khô, dễ ngập mặn, tôm cá tài nguyên sông nước cạn kiệt dần, và quan trọng hơn nữa là vựa lúa Nam bộ ngày càng thu hẹp. Nhìn chung, thì VN chịu tác động rủi ro lớn nhất, ngoài những rủi ro nội địa như lũ lụt miền Trung, còn có cả những rủi ro xuyên biên giới từ các nước láng giềng. Ví dụ như nếu Lào quản lý yếu và chất lượng công trình sai phạm, sẽ gây rủi ro lớn cho VN. Còn đối với công trình thuỷ điện TQ, thì có thể gây ra rủi ro lớn cho toàn lưu vực, đặc biệt đối với VN, thông qua việc kiểm soát thượng nguồn Mekong và các lưu vực ở đồng bằng Bắc Bộ. Bởi vậy, thủy điện không chỉ là vấn đề nội bộ của từng nước mà còn là bài toán an ninh nguồn nước và hợp tác khu vực. Hy vọng chính phủ VN sớm có những phương án thích hợp và kịp thời để chống chọi những rủi lo to lớn này .

Thực ra, nếu nhìn từ góc cạnh khác, thì ngoài yếu tố thiên nhiên, phần lớn các rủi ro đó đều xuất phát từ một nguyên nhân. Đó là con người "ở trên" quên rằng phía hạ du còn có người "kẻ dưới" khác đang sống !

Có những dòng sông chảy suốt nghìn năm mà chưa từng làm hại ai, cho đến ngày con người dựng lên những bức tường khổng lồ chắn ngang nó. Đập nước không có tội, tội chỉ xuất hiện khi bàn tay con người vận hành nó không còn nhớ rằng phía hạ du còn có những mái nhà, những kiếp người, và những giấc ngủ của trẻ thơ.

Xả lũ, nếu làm đúng, là sự hòa điệu giữa thiên nhiên và con người. Nhưng khi nó trở thành quyết định vội vã, thiếu cảnh báo, hay bị chi phối bởi lợi ích riêng, thì dòng nước ấy không còn là sự điều tiết nữa, mà nó biến thành một minh chứng tàn nhẫn rằng lòng tham có thể mạnh không kém gì lũ dữ.

Thực ra, trong mọi lĩnh vực của đời sống, "xả lũ" không chỉ là chuyện của thủy điện. Đó là khi một cá nhân vì lợi nhuận của mình mà đẩy rủi ro về phía người khác. Đó là khi một nhóm lợi ích để lợi nhuận che khuất đôi mắt, rồi biện minh rằng “mọi thứ đều theo quy trình,” dù họ biết quy trình ấy có thể nhấn chìm cả một vùng quê trong một đêm.

Cái bi kịch lớn nhất của xã hội không phải là thiên tai, mà là nhân tai, từ chiến tranh cho đến các vấn đề xã hội, nhất là khi người ta quên rằng mọi quyết định của mình đều có liên quan đến người khác. Một cú bấm nút có thể mở cửa xả lũ, nhưng cũng có thể mở cửa đau thương mà hàng trăm gia đình không bao giờ quên được. Con người chỉ thực sự trưởng thành khi biết nhìn xuống "hạ du" của lòng mình, nơi có những con người đang trông vào sự tử tế của họ để được an toàn. Không ai có thể sống một mình như một con đập giữa núi rừng, mà tất cả chúng ta đều liên kết trong dòng chảy chung của đời sống. Một quyết định ích kỷ có thể biến ta trở thành thượng nguồn của tai họa. Và đôi khi, chỉ cần một phút tỉnh thức, một chút lương tri, là đủ để tính toán thiệt hơn, đủ giữ nước lại, đủ để cứu lấy những sinh mạng mong manh. 

Tất nhiên là khi con người biết nghĩ cho nhau, nhớ rằng phía hạ du còn có sự sống, thì mọi dòng chảy, dù là dòng chảy của nước lũ, của quyền lực, hay của lợi ích .... cũng sẽ trở nên hiền hòa hơn !


Nhớ hồi còn nhỏ, sống với Ngoại dưới quê, cứ đến tháng Chín, tháng Mười là y như rằng lại có lụt. Câu ca dao “Bao giờ cho đến tháng Mười ? Lúa chín rụng xuống, nước trôi đầy đồng” dường như theo chân người xưa, để rồi trở thành nỗi ám ảnh rất thật của người nông dân quê mình. Những ngày nước “trôi đầy đồng”, Ngoại thường nói: “Hà bá lên lấy gỗ.” Nghe vậy, lũ nhỏ tụi mình lại háo hức đợi "Hà bá lấy gỗ" xong, để còn lội nước, coi vớt củi lụt, cất rớ, thả lờ, bắt dế… Trẻ thơ thì vui, chứ nào hay gì đến nỗi lo của người lớn. Mà ngày đó, dù lụt về hàng năm, mình cũng chưa bao giờ nghe chuyện người chết hàng trăm như bây giờ.

Những hình ảnh tang thương nhất đối với mình khi ấy chỉ bước ra từ văn chương, như từ "Anh phải sống" của Khái Hưng, hoặc từ "Đôi mắt người Sơn Tây" của Quang Dũng:

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em bé nhỏ
Bao năm rồi xác trẻ trôi sông…

Hoặc là từ nỗi niềm lãng đãng của Nguyễn Bính:

Nước lớn thuyền lên, con nước nổi,
Đời em trôi dạt tới bao giờ ?

Ngày còn nhỏ, mình chỉ cảm thấy những câu thơ ấy như một nỗi buồn. Không ngờ giờ đây, khi thiên tai nhân tai trở nên tàn nhẫn hơn, những câu thơ cũ lại hóa thành những bi kịch rất thật.

Thế nhưng giữa những nỗi đau “màn trời chiếu đất” của đồng bào VN, vẫn có một điều khiến ta ấm lòng, đó là tình người. Là những tấm lòng vàng từ khắp nơi, gom góp từng bao gạo, từng chiếc áo, từng đồng bạc lẻ để gửi về miền lũ. Chính những nghĩa cử ấy là niềm an ủi lớn nhất cho những người đang oằn mình trong thiên tai.

Hôm nay, ngày Thanksgiving, lại thấy mình có thêm lý do để biết ơn. Biết ơn vì những may mắn cuộc sống dành cho bản thân và gia đình. Biết ơn vì trong hoạn nạn, con người vẫn còn tìm đến nhau bằng tình thương. Biết ơn vì giữa biến động, lòng nhân ái vẫn là ngọn đèn không tắt.

Xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến các nạn nhân vùng lũ. Xin trân trọng cúi đầu trước những tấm lòng đã sẻ chia lúc gian nan. Chúc tất cả một ngày lễ Tạ ơn an lành và một mùa lễ hội tràn đầy may mắn.

PN


Saturday, November 22, 2025

Tản mạn: Nỗi lo mùa lễ hội ....

 


Hằng năm, khi tháng 11 khép lại, những con đường trên khắp nước Mỹ lại khoác lên mình ánh đèn ấm áp. Hàng xóm bắt đầu trang hoàng sân vườn rực rỡ để chuẩn bị cho mùa lễ hội. Lễ Tạ Ơn, rồi Giáng Sinh đến như một lời nhắc nhở dịu dàng rằng sau một năm dài nhiều biến động, con người vẫn có thể ngồi lại bên nhau, ăn chung một bữa “gà tây”, chia sẻ nhau những vui buồn và lòng biết ơn cùng sự tha thứ.

Trong nhiều nền văn hoá, Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh tượng trưng cho khoan dung và đoàn tụ. Thế nhưng, trong không ít năm gần đây, những ngày lẽ ra phải thanh bình ấy lại thường bị phủ bóng bởi nỗi lo âu. Tin tức chiến tranh, bạo lực, khủng bố, hay những vụ tấn công vô nghĩa vào dịp lễ đông người… tất cả như những vệt mực vô tình rơi xuống trang giấy vốn được viết bằng hy vọng. Người ta sợ nơi đông người, sợ bước ra đường, sợ rằng ngay cả ngày thiêng liêng nhất cũng không tránh khỏi sự tàn nhẫn của con người.

Ở Mỹ năm nay, từ nhiều tháng trước, các cuộc truy bắt người di dân bất hợp pháp diễn ra khắp nơi. Như bất kỳ hoạt động quy mô lớn nào, không tránh khỏi có những sai sót, bắt lầm người, hoặc hành vi bạo lực. Điều ấy làm dấy lên tâm lý bất ổn và hoang mang, không chỉ trong cộng đồng di dân bất hợp pháp, mà cả những người có tư cách pháp lý đầy đủ. Nhiều đứa trẻ thuộc các gia đình gốc Nam Mỹ đi học với ánh mắt lo âu đáng thương. Ở tiểu bang nơi mình đang sống, các thành phố lớn, mấy hôm nay nhiều người nhập cư hợp pháp thế hệ đầu tiên cũng ngại đi làm, ngại đưa con đến trường. Sự bất an vốn thường trực trong đời sống nay lại bị khuếch đại vào đúng thời điểm lẽ ra là mùa bình yên. Những hiện tượng này thật sự hiếm hoi, xưa nay chưa từng thấy ở nước Mỹ.

Câu hỏi đặt ra là liệu những hành động như vậy có tạo ra giá trị thật sự hay không, khi được triển khai đúng vào mùa lễ, thời điểm con người cần sự yên ổn, đoàn viên, cõi lòng rộng mở?

Mục đích lớn nhất của một quốc gia là gì? Tạo dựng môi trường an bình để người dân yên tâm làm ăn, dân giàu nước mạnh? Hay tạo ra nỗi bất an tập thể?

Dĩ nhiên, bàn đến những vấn đề này sẽ khó tránh tranh cãi, đụng chạm quan điểm, đảng phái. Nhưng mình thì không có hứng thú phân định thắng thua, chỉ muốn chiêm nghiệm một vài điều nho nhỏ trong đời sống hiện tại, cũng như từ lịch sử loài người.

Xưa nay, bạo lực, khủng bố hay những hành vi phi nhân đạo trong dịp lễ hội đều có chung một gốc rễ, đó là những trái tim bị che khuất bởi giận dữ và thành kiến. Chúng không thể bị đánh bại bằng sự căm ghét, mà chỉ bằng một sức mạnh bền bỉ hơn, là khả năng tha thứ và nhìn thấy nhau như những đồng loại cùng mong cầu hạnh phúc, những con người cùng khát vọng tự do.

Khi một con người biết tha thứ, họ không làm nhỏ đi nỗi đau của mình, mà họ mở lòng để hiểu nỗi đau của người khác. Khi một cộng đồng còn giữ được lòng trắc ẩn, chiến tranh và sợ hãi trở nên lạc lõng. Và khi nhân loại vẫn có thể ngồi lại bên bàn ăn, chia nhau một miếng bánh mì hay một lời chúc bình an, thì dù ngoài kia thế giới rung chuyển đến đâu, ý nghĩa thật sự của mùa lễ vẫn không mất đi.

Trong tư tưởng Kitô giáo, tha thứ mang tính cứu rỗi, con người có lỗi lầm nhưng có thể tái sinh qua tình thương. Trong PG Đại thừa, tha thứ là hệ quả của trí tuệ thấy rằng mọi hành vi đều bị điều kiện hoá bởi vô minh và nghiệp lực. Do vậy, bản chất của oán hận thực ra không có một nền tảng bền vững.

Bởi thế, khi bạo lực xảy ra đúng vào dịp lễ, thời khắc được mặc định cho bình an, thì đó là dấu hiệu của sự đứt gãy trong năng lực tha thứ của xã hội. Bạo lực trong ngày lễ không chỉ là biến cố chính trị, mà còn là dấu hiệu cho thấy xã hội đang đánh mất khả năng “sản sinh tình người”. Ngược lại, tha thứ là một phương cách chữa lành cộng đồng. Nếu bạo lực phá vỡ trật tự, thì tha thứ chính là hành vi tái lập trật tự một cách có ý thức. Trong bối cảnh các ngày lễ, điều này lại càng đúng. Sự tha thứ làm hồi sinh ý nghĩa nhân bản của mùa đoàn tụ, khẳng định rằng người với người vẫn là nơi trú ẩn cuối cùng.

Có một nghịch lý thật trớ trêu, là nước Mỹ được dựng nên bởi những thế hệ di dân nối tiếp nhau, vậy mà trong thực tế, không ít người “đến trước” lại phân biệt những người “đến sau”. Khi đã hội nhập, đã đứng vững trong đời sống mới, nhiều người dường như quên mất cha ông mình cũng từng bước xuống tàu, đi qua đại dương với cùng một nỗi sợ hãi, mong cầu và bất định như những người di dân hôm nay.

Trong những giờ phút đối diện với sống chết, bất kỳ chiếc phao nào cũng trở nên quý giá. Khi cuộc sống lênh đênh, điều duy nhất mà con người mong mỏi là một nơi trú ẩn an toàn, một vùng đất có thể mở ra cơ hội mới. Lúc ấy, không ai phân biệt người cứu mình, hay ông tổng thống nhận mình là thuộc đảng nào, tin vào điều gì, hay đến từ đâu. Nhưng khi đã đứng được trên mảnh đất an toàn ấy, khi đời sống bớt chòng chành, người ta lại dễ dàng chia rẽ nhau theo nhãn mác, người này "thuộc DC”, người kia “thân CH”..v.v.. như thể sự an toàn tự thân cho phép họ quay lưng với những ai đang sống lại chính câu chuyện của cha ông họ ngày xưa, hoặc thậm chí là những trải nghiệm của chính bản thân họ.

Tâm trạng của nhiều di dân hôm nay, sự lo lắng, bất trắc, nỗi sợ bị xua đuổi, thực chất cũng là tâm trạng từng in hằn trên khuôn mặt của bao thế hệ công dân đang chỉ trích họ. Những cảm xúc ấy không phải mới, chúng chỉ là vòng tròn lẩn quẩn của lịch sử con người.

Triết gia Levinas nói rằng “Thông cảm là nhìn thấy ở người kia khuôn mặt của con người”. Tức là nhận ra nhân vị phía sau những khái niệm, định kiến, hay ranh giới do lịch sử tạo ra. Nhưng thực tế lại phức tạp hơn nhiều. Con người có xu hướng quên rất nhanh, quên mình đã từng yếu đuối, từng mong cầu, từng được cứu, từng là “kẻ mới đến”.

Và vì thế, lịch sử sẽ cứ tiếp tục là chuỗi những câu chuyện… về sự "hay quên". Không phải quên thành tựu, mà là quên chính nguồn cội của lòng nhân ái, của tình người, điều duy nhất có thể nối kết những thế hệ di dân trong hành trình không ngừng tìm kiếm một nơi để được sống như con người.

Không phải ngẫu nhiên mà tinh thần Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh luôn gắn liền với hình ảnh tha thứ. Đó là thời điểm con người dễ nhận thức về sự mong manh của kiếp sống, là khoảnh khắc họ tạm dừng cuộc đua thường ngày, để nhìn lại chính mình. Giữa ánh đèn và những bữa ăn ấm cúng, tha thứ trở thành một hiện diện cần thiết, không phải chỉ là bỏ qua lỗi lầm, mà là chọn lựa đứng về phía ánh sáng trong một thế giới vô cảm, đầy bất trắc.

Do đó, những hành động truy đuổi, săn bắt khiến cộng đồng bất an trong mùa lễ lộc, dù có lý lẽ riêng, nhưng vẫn khó tránh cảm giác rằng đó là điều không nên làm, bởi chúng gây xáo trộn, gieo rắc nỗi sợ hãi, mà không mang lại sự chuyển hoá bền vững.

Giữa tiếng chuông lễ hội, tha thứ nhắc chúng ta rằng con người không bị quyết định bởi bản năng gây hấn cho người khác, mà bởi khả năng chọn con đường đúng đắn cho bản thân, dù con đường ấy đòi hỏi phải có dũng khí hơn, hoặc gian nan hơn. Một xã hội biết tha thứ không phải là xã hội quên đi tội ác, mà là xã hội không để tội ác quyết định tương lai của mình. (Viết tới đây, mới nhớ đến mấy ngày nay đọc tin tức xả lũ kinh hoàng ở VN. Nhưng có lẽ đợi dịp khác viết về vấn đề này !)

Trên thực tế trong mọi cuộc xung đột, bạo lực luôn xuất hiện trước tiên với âm thanh ầm ỹ, và vẻ mạnh mẽ đầy hăm doạ. Nó khiến người ta tưởng rằng quyền lực nằm ở nòng súng và sự khuất phục của kẻ khác. Nhưng khi tiếng ồn tan đi, khi khói bụi lắng xuống, thứ còn lại không bao giờ là sự thống trị, mà chỉ là những vết thương. Bạo lực chỉ tạo ra im lặng tức thời và sự chịu đựng, nhưng không thể tạo ra tương lai.

Ngược lại, tình người, tưởng như yếu mềm, lại bền bỉ hơn mọi thứ vũ khí. Một cử chỉ bao dung, một lời tha thứ, hay một bàn tay chìa ra giữa đổ nát có thể vực dậy cả một cộng đồng, hàn gắn những gì đạn bom không thể chạm tới. Lịch sử thuộc về những ai giữ được lòng nhân khi nhiều người khác đánh mất nó. Và chiến thắng cuối cùng, khi mọi tranh giành đã phai mờ, luôn thuộc về những ai dám yêu thương trong thời điểm dễ căm ghét nhất.

Nhớ đến thời vua Quang Trung, mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789), sau trận Ngọc Hồi – Đống Đa, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Trong lịch sử, đây thường là lúc đạo quân chiến thắng dễ rơi vào nạn kiêu binh, trả thù, hoặc cướp bóc. Nhưng vua Quang Trung đã ra lệnh không được cướp bóc của dân, không được trả thù phe Trịnh Lê, không được đụng đến phụ nữ và trẻ em, và tuyên bố nghiêm trị bất cứ ai vi phạm. Bên cạnh đó, mới lên ngôi, lẽ ra có thể thanh trừng, nhưng ông lại mời các sĩ phu Bắc Hà ra hợp tác, như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực. Hành động này mang tính hoà giải dân tộc hiếm thấy, đối xử nhân đạo cả với dân của “bên thua cuộc”. Vua Trần Nhân tông cũng vậy, khoan dung độ lượng, tha cho tướng giặc Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp. Khi quân Nguyên bị đánh bại, nhiều đại tướng bị bắt sống. Thay vì giết để trả thù tàn khốc (vì quân Nguyên từng nhiều lần tàn sát dân Việt), vua Trần Nhân Tông đã xử lý theo hướng nhân đạo - không tra tấn, không giết hại gia đình họ, đối xử đúng lễ nghi với tù binh. Ông Ngô Thì Sĩ (cha ông Ngô Thời Nhiệm) sau này gọi đó là "đại lượng của bậc thánh quân", thắng bằng võ lực nhưng kết thúc bằng đức độ.

Còn chuyện bên Tây thì cũng không hiếm, như Alexander Đại đế sau khi đánh bại vua Ba Tư Darius III, bắt được mẹ, vợ và con của kẻ thù. Thay vì bắt làm nô lệ hoặc hành hạ (tập quán phổ biến thời đó), ông bảo vệ danh dự và an toàn cho họ, đối đãi như người hoàng tộc, và không chiếm đoạt bất cứ phụ nữ nào. Mẫu hậu của vua Darius đã khóc và quỳ lạy Alexander, gọi ông là “vị vua thật sự của nhân loại”. Đây là câu chuyện thường được trích dẫn trong các tác phẩm chính trị quân sự phương Tây như một ví dụ về “tinh thần hiệp sĩ cổ đại”. 

  


Gần đây hơn, thì nước Mỹ có tổng thống  Abraham Lincoln và tinh thần “malice toward none, charity for all” (tạm dịch: Hận thù chẳng dành cho ai, lòng nhân ái dành cho tất cả). Thời nội chiến Nam Bắc Hoa Kỳ, ngay trước khi chiến tranh kết thúc, Lincoln tuyên bố: “Hận thù chẳng dành cho ai, lòng nhân ái dành cho tất cả".Ông chủ trương: Không trả thù miền Nam, mà tái thiết đất nước bằng khoan dung. Không xử tử hàng loạt tướng lãnh miền Nam, không tịch thu đất đai, và không truy quét tận diệt các gia đình miền Nam. Cho nên dù ông bị ám sát, chính sách của ông trở thành biểu tượng của hòa giải lịch sử. Và ông được đánh giá là vị tổng thống xuất sắc nhất của nước Mỹ. Lịch sử cả Đông lẫn Tây đều chứng minh rằng đức độ làm nên hoà bình bền vững hơn bất kỳ cuộc chinh phục nào.

Dĩ nhiên, ở đâu có ánh sáng, ở đó cũng có bóng tối. Lịch sử cũng ghi lại không ít những cuộc tấn công vào dịp lễ, từ Pearl Harbor ngay sau tuần Lễ Tạ Ơn (1941), đến trận Ardennes cuối năm 1944, khi quân Đức hy vọng xoay chuyển cục diện trước Giáng Sinh. Thậm chí câu trả lời “NUTS!” của tướng McAuliffe ở Bastogne còn trở thành giai thoại quân sự thú vị. Thế giới luôn là sự đan xen giữa thiện và ác, lòng nhân và bạo lực.

Thôi xin tạm dừng tại đây, chỉ mạn phép lan man đôi điều về tâm trạng bất ổn của cộng đồng di trú, những người phải rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của họ vì những lý do khác nhau. Cầu mong mọi điều tốt đẹp nhất đến với mọi người. Hy vọng rằng dù thời cuộc ra sao, tình người vẫn còn chỗ để nương náu !

Thân chúc mọi người một tuần Lễ Tạ Ơn an lành. 

PN
(11/2025)



Tuesday, November 11, 2025

Tản mạn - Ngày cựu chiến binh (Veterans Day)

 


Hôm nay là ngày lễ Cựu Chiến binh ở Mỹ. Trường học và nhiều cơ quan chính phủ, ngân hàng... đóng cửa. Mấy hãng tư nhân thì tuỳ, có chỗ nghỉ chỗ không, không bắt buộc. Lúc trước trong công ty, cùng dept, có mấy ông đồng nghiệp là cựu chiến binh, đến mấy ngày này mình nói mấy ông cứ ở nhà dẫn vợ dẫn con đi chơi :-). 

Tối qua, tiểu bang mình đang ở và nhiều nơi trên nước Mỹ, nhiệt độ rớt xuống bất ngờ. Sáng nay ngoài trời còn lạnh lẽo, con cái được nghỉ lễ ở nhà. Ngồi nhâm nhi cafe, tự nhiên mình suy nghĩ lan man về những người lính, những anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ vô danh, những người cựu chiến binh, thương binh, đã thiệt thòi rất nhiều vì bảo vệ quê hương đất nước.

Nói đến cựu chiến binh là nói đến môt đề tài rất rộng, liên quan đến nhiều lãnh vực khác nhau, nhiều quan niệm khác nhau. Từ người sống đến người chết, từ người thương binh đến người cựu binh, từ những anh hùng liệt sĩ bên này cho đến những tử sĩ vị quốc vong thân bên kia. Từ bên "thắng cuộc" cho đến bên "thua cuộc", từ những chiến tuyến khác nhau đối đầu không chọn lựa, cho đến những hoà giải vị tha, hoặc hận thù gieo rắc, sau khi cuộc chiến kết thúc. Xưa nay trên thế giới, đã có biết bao nhiêu tác phẩm văn học nghệ thuật nói về những đề tài này, từ những danh tác trong văn học nghệ thuật chính thống, cho đến những câu chuyện biến tướng, hư cấu, thiêu dệt, tuyên truyền... Không ai đếm hết được !

Người Mỹ thì định nghĩa cựu chiến binh đơn giản, là những người từng ở trong quân ngũ và giải ngũ trong danh dự (discharged under honorable conditions - nôm na là không phải thành phần "bị khai trừ" hoặc "đào ngũ"), chứ họ không phân biệt là binh sĩ bên chiến tuyến nào, mặc dù họ cũng từng có một cuộc chiến tranh Nam Bắc, huynh đệ tương tàn. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng quan niệm rằng, cựu chiến binh nào chiến đấu vì quốc gia dân tộc, đều xứng đáng được tri ân. 

Nhìn lại, lịch sử nhân loại chưa bao giờ bước đi trên một con đường phẳng lặng. Trong những trang sử đầy biến động ấy, dấu chân của người lính luôn in đậm nơi tuyến đầu, nơi quyết định sự tồn vong của một dân tộc. Nhưng khi chiến tranh khép lại, điều còn lại không chỉ là thắng thua, mà là những mất mát chung, những thân phận con người bị cuốn vào thời cuộc, và những trái tim tuổi trẻ đã không thể sống trọn cuộc đời bình thường.

Vì vậy, tri ân người cựu chiến binh không nên bắt đầu từ câu hỏi họ đứng ở chiến tuyến nào, mà phải bắt đầu từ sự thật lớn hơn, đó là họ đã đứng lên trong chiến tranh vì đất nước và dân tộc mình, chấp nhận hy sinh tuổi trẻ, máu xương, và cả tương lai. Người lính là biểu tượng của nghĩa vụ, không phải sản phẩm của hận thù.

Người lính ra trận phần lớn không phải bằng lựa chọn cá nhân, mà bằng trách nhiệm của thế hệ họ đối với đất nước. Có người chiến đấu vì lý tưởng, có người vì lời kêu gọi của quốc gia, có người vì muốn bảo vệ gia đình, đất nước khỏi cơn hỗn loạn. Nhưng không ai ra trận để yêu chiến tranh. Khi lịch sử buộc một dân tộc phải chia đôi chiến tuyến, thì bi kịch nằm ở chỗ dù ai thắng, đều có mẹ mất con, vợ mất chồng, và đất nước đổ máu tang thương.

Bởi vậy, khi ngày hòa bình đến, điều cần nhất không phải là tiếp tục phân định ranh giới cũ, mà là trả lại cho người lính vị trí đúng đắn của họ, những con người đã trả giá bằng đời mình cho một thời đại lịch sử mà họ không thể tự chọn.

Yêu nước có nhiều hình thức, nhưng lòng dũng cảm chỉ có một. Một dân tộc trưởng thành không tri ân người lính chỉ qua màu lá cờ họ từng cầm, mà qua lòng can đảm khi họ đối diện cái chết trong thời loạn lạc. Khi bom rơi đạn nổ, ranh giới hệ tư tưởng không nằm trên chiến hào, mà nó nằm ở phía sau. Trên tiền tuyến chỉ có những trái tim đập trong nỗi sợ, những bàn tay níu đồng đội kéo ra khỏi hiểm nguy, những lá thư viết vội gửi về nhà trước một trận đánh, và những ước mơ bình thường không kịp thành hình... Đó là ngôn ngữ chung của người lính, vượt lên trên mọi phe phái chính trị.

Tri ân người lính là chữa lành ký ức chung của một dân tôc. Một đất nước muốn tiến về phía trước không thể bước đi với một nửa trái tim. Nếu lịch sử là bài học, thì hòa giải mới là con đường. Theo mình, tri ân tất cả cựu chiến binh không phải là phủ nhận sự khác biệt, mà là sự xác lập một nền tảng. Hay nói chính xác hơn là định hình một bước đầu cần thiết để hồi sinh một dân tộc cho dù bất kỳ chọn lựa thể chế chính trị nào !

Không có người lính nào bước ra khỏi chiến tranh mà không mang thương tích, dù trên thân thể hay trong tâm hồn. Trao cho họ lòng biết ơn là trả lại phẩm giá cho những con người đã bị chiến tranh cướp mất tuổi xuân. Một ngày lễ, một đài tưởng niệm, một huy chương, một lời cảm ơn ... những điều ấy không xóa được đau thương, nhưng chúng khẳng định rằng: "Dân tộc ghi nhớ họ, không phải vì họ thắng hay thua, mà vì họ đã sống và chiến đấu như những người con của đất nước".

Thiết nghĩ, tri ân những người cựu chiến binh, anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ trận vong, không phải chỉ là tôn trọng quá khứ, mà còn là thước đo cho sự văn minh của hiện tại. Một dân tộc biết cuối đầu trước những hy sinh từ cả hai phía là một dân tộc đủ trưởng thành để bước qua hận thù và đủ mạnh mẽ để viết tiếp tương lai.

Hòa bình không đến từ việc luôn đúng, mà đến từ khả năng trân trọng những con người đã ngã xuống vì quê hương, bất kể họ từng đứng nơi đâu trong bão lửa. Bởi điều lớn nhất mà tất cả họ từng chiến đấu để bảo vệ, xét đến cùng, không phải là một phe phái hay thể chế, mà là, đất mẹ, gia đình, và quyền được sống yên bình của các thế hệ mai sau. 

Chinh chiến bao giờ cho hết,
Anh hùng mấy kẻ trở về ?
(Chinh Phụ Ngâm)
...
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỳ nhân hồi.
(Vương Hàn)


Tiện thể xin lạm bàn chút về khái niệm "chiến tuyến". Ví dụ như ở VN, có nhiều gia đình, đặc biệt là các gia đình từ vĩ tuyến 17 trở vô, trong cùng một mái nhà có khi gặp phải bi kịch 2,3 chiến tuyến đối nghịch nhau. Một hoàn cảnh xã hội nghiệt ngã mà không thể chối từ. Bên nội "quốc gia", bên ngoại "cọng sản", anh tập kết ra Bắc, em trong Nam đi lính "cọng hoà"... Nhiều trường hợp cha mẹ, vợ chồng, anh em, bạn bè, bà con giòng họ, lại là hai chiến tuyến khác nhau. Vì vậy hơn ai hết, người VN hiểu rõ cái bi kịch của sự chia rẽ hận thù, và giá trị của sự hoà giải từ chính kinh nghiệm bản thân và gia đình của họ. 

Tuy nhiên vì đặc tính dân tộc, cũng như hoàn cảnh sống và tầm nhìn của các quốc gia trên thế giới có phần khác biệt, dẫn đến những lối đi riêng và cách hành xử khác nhau. Nhớ có năm nào, cách đây không lâu lắm, mình theo mấy ông anh đồng hương về quê, họp trường cũ. Sáng uống cafe, được nghe anh hiệu trưởng ngồi kể lại câu chuyện thực của chính cuộc đời anh. Anh từng là lính "giải phóng" bị thương sắp chết ở chiến trường miền Nam, được một người lính "cọng hoà" cứu sống. Sau năm 1975, anh kể hành trình gian nan đi tìm kẻ bên kia chiến tuyến, đã từng cứu sống anh để nói lời tri ân. Một người lính bên "thắng cuộc" quyết tìm cho ra người ân nhân bên "thua cuộc", không phải chỉ để cảm ơn, mà còn để thoả mãn những giá trị tối thiểu trong tận cùng lương tri của một con người. Câu chuyện rất cảm động, và hình như cũng có tờ báo nào đó đã đăng lại câu chuyện này. Thực ra những câu chuyện nhân văn như thế không phải là quá hiếm hoi trên thế giới, nhưng vào thời điểm đó quả là ít khi nghe được tại VN. 

Nói đến những câu chuyện có thực trong thời hậu chiến thì rất nhiều. Như cuộc chiến tranh Nam Bắc (Civil War) của Mỹ, lúc đánh nhau thì cũng khốc liệt. Nhưng khi cuộc chiến kết thúc, họ lại hoà giải trong hoà bình, êm thắm. Không trả thù, không phân biệt đối xử, ai cũng được an yên về với gia đình, chung tay xây dựng đất nước. Tương tự, trên thế giới có rất nhiều câu chuyện nhân văn rất đáng ngưỡng mộ sau khi chiến tranh kết thúc. Xin nhắc lại một vài mẫu chuyện ngắn mà mình còn nhớ ....

Năm 1944, trong trận Normandy (Pháp), binh sĩ Heinrich Severloh (Đức) đã đứng trên boong-ke bắn ra bờ biển Omaha, nơi quân Mỹ ập vào. Nạn nhân của ông hôm đó là Harold Baumgarten, một lính Mỹ bị thương nhưng sống sót. Hai mươi năm sau, Harold đọc được hồi ký của chính người lính Đức từng bắn về phía mình. Ông không nuôi hận thù, mà viết thư cho Heinrich. Họ gặp nhau ở Đức, không phải để kể về ai đúng ai sai, mà để kể mình đã sợ hãi ra sao trong trận chiến năm đó. Harold nói: "Tôi không bắt tay ông vì những gì ông đã làm, mà vì chúng ta cùng sống sót để trở về làm con người một lần nữa". Rồi hai người trở thành bạn, cùng đi diễn thuyết về hòa bình cho tới cuối đời.

Một câu chuyện khác, cũng trong thế chiến II, ông Takashi Nagase, sĩ quan phiên dịch trong quân đội Nhật, từng chứng kiến cảnh tù binh Anh bị đối xử tàn khốc khi xây đường sắt Miến Điện. Sau chiến tranh, ông day dứt suốt đời và quyết định trở lại Singapore để xin lỗi trực tiếp những cựu binh Anh còn sống. Ông quỳ gối xuống trước những người từng là kẻ thù và nói:

- Tôi không xin tha thứ cho quá khứ của nước Nhật, tôi chỉ xin tha thứ cho phần người trong tôi từng im lặng trước nỗi đau của các ông.

Cựu binh Anh Eric Lomax, từng bị tra tấn trong trại tù, đã lặng người, rồi nắm tay ông:

- Không ai được chữa lành đưọc vết thương khi ta chỉ nhớ đến vết thương mà quên con người.

Câu chuyện của họ sau này được dựng thành phim The Railway Man.

Còn thời chiến tranh VN, thì chắc cũng có nhiều câu chuyện tương tự như câu chuyện của anh hiệu trưởng TQT, chỉ là mình chưa được biết thôi. Nhớ có lần đọc về cựu chiến binh Mỹ Larry Berman, ông kể lại trong một trận hành quân ở Lào, đơn vị ông chạm trán một người lính cọng sản Bắc Việt bị lạc. Cả hai đều kiệt sức, đều run vì đói, nhưng không ai bóp cò. Thay vì nổ súng, người lính Bắc Việt ấy lấy bi đông cuối cùng ra đưa một nửa. Larry do dự rồi cũng chia nửa phần lương khô cuối cùng của mình. Không nói chung ngôn ngữ, họ chỉ gật đầu, rồi ai đi đường nấy.

Năm 1996, Larry quay lại Việt Nam làm công tác hòa giải và tìm đồng đội của cả hai phía. Ông đã nói trong một hội thảo:

- Không phải hòa bình khiến chúng tôi xem nhau là người, mà chính khoảnh khắc xem nhau là người đã giúp chiến tranh dừng lại trong lòng chúng tôi !

Một câu nói rất tuyệt và đúng sự thật. Cũng có lần một người bạn Mỹ của mình giúp một đạo diễn VN dịch một phim ngắn bối cảnh ở Mỹ Lai, nơi từng xảy ra vụ thảm sát Mỹ Lai. Một tác phẩm rất nhân văn, rất tình người. Ông bạn hỏi mình đã từng đến nơi đó chưa ? Tất nhiên, mình đã từng đi qua nơi đó hàng chục lần, từng viếng nhà chứng tích Mỹ Lai khi mới khánh thành. Nhưng để có được một tâm trạng như tâm trạng sau khi coi đoạn phim hôm ấy, thì quả thật là lần đầu ! 

Nói đến quê mình, thì có rất nhiều bà mẹ đã từng thắp nhang cho lính hai phía. Trong nhà, trên bàn thờ, đặt hai bát nhang, hai tấm ảnh, nhưng chỉ một mâm cơm. Bởi họ không thờ chiến tuyến, mà thờ những đứa con không bao giờ về nữa ! 

Tương tự, trong những ngày lễ "Chiến sĩ trận vong", người đặt vòng hoa trên mộ của các chiến sĩ vô danh, thường ghi lại: "To all soldiers who never made it home from both sides. (Tạm dịch: Gửi mọi người lính không bao giờ trở về nhà, từ hai chiến tuyến.) 

Một thông điệp rất nhân văn, đầy lòng vị tha, và thể hiện tâm hồn cao thượng của người lính thực thụ. Quả đúng là không có lòng dũng cảm nào đáng bị lãng quên, không có vết thương nào được chữa lành bằng hận thù. Hoà giải không có nghĩa là xoá đi ký ức, mà xoa dịu cho ký ức bớt đau. Nhiều người cho rằng "Tri ân một người lính, không phải là chọn bên, mà là chọn con người". Mình đồng ý với quan điểm đó. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia từng chia cắt và hận thù, để có một cái nhìn nhân bản sâu sắc, chắc chắc không phải là điều dễ dàng, mặc dù họ hiểu rất rõ là chỉ có sự hoà giải đúng nghĩa, mới thực sự đem lại sự phồn thịnh lâu dài cho đất nước & dân tộc của họ !



Thôi xin tạm dừng nơi đây. Chúc tất cả một ngày an vui.

Happy Veterans Day!

PN


Saturday, October 18, 2025

Tản mạn ngày 17/10 ...



Hôm qua là ngày thế giới dành cho người nghèo. Ngày 17/10 hằng năm được chọn là "International Day for the Eradication of Poverty" (tạm dịch: Ngày Quốc tế xoá nghèo). Không phải để kể lể về nỗi khổ, cũng không phải để làm giàu thêm lòng thương hại nhất thời, mà để nhắc nhở nhân loại rằng không ai thật sự đứng một mình trên thế gian này.

Ngày nay, những hiện tượng phân hoá xã hội và phân biệt kỳ thị đẳng cấp giàu nghèo, không còn lạ lẫm gì với thế giới nữa. Thế nhưng những câu chuyện về lòng trắc ẩn, thương cảm trước những hiện tượng xã hội đó lại là một vấn đề khác. Kết quả của những nổ lực hổ trợ nhân đạo, xoá đói giảm nghèo toàn cầu hoàn toàn tuỳ thuộc vào tư duy nhận thức của con người, văn hoá vùng miền từng địa phương, và sự trợ giúp từ chính phủ, chính quyền sở tại, cũng như nhiều nguồn hổ trợ khác nhau trên thế giới. Ngay cả ở VN hôm nay, bước ra đường cũng thấy rõ hai thế giới song song. Một bên là những tòa nhà hoành tráng, tiệc tùng, xe sang, hàng hiệu... Một bên là những em nhỏ bán vé số, những bà cụ nhặt ve chai, những người lao động tối mặt mà vẫn không đủ ăn... Điều đáng trân quý là những năm gần đây, VN có nhiều tổ chức dân sự và đoàn thể đã tham gia một cách hiệu quả các công việc từ thiện địa phương, hổ trợ xoá đói giảm nghèo, giúp đỡ nhiều học sinh và gia đình hoàn cảnh khó khăn mà không cần đến những tung hô mang hình thức phô diễn. 

Và mặc dù là thiểu số, nhưng điều đau xót hơn, là không ít sự giàu sang trong xã hội đã được tạo dựng trên bất công, phi pháp, còn cái nghèo thì lại rơi xuống đúng những người lương thiện. Vì vậy, nói đến người nghèo không chỉ là nói về “số phận”, mà còn nói về công bằng, đạo đức, và lương tâm xã hội. Khoảng cách giàu nghèo không chỉ là chuyện tiền bạc, mà còn là khoảng cách của lòng chia sẻ và trách nhiệm với đồng loại.



Trong đạo Phật, Đức Phật dạy từ bi đơn giản rằng "Have compassion for all beings, rich and poor alike; each has their suffering. Some suffer too much, others too little". (Tạm dịch Hãy khởi lòng từ với tất cả chúng sinh, giàu hay nghèo cũng vậy; ai cũng có nỗi khổ của riêng mình. Có người chịu khổ quá nhiều, có người chịu khổ quá ít.). 

Bởi vậy từ bi không hỏi “anh là ai”, mà hỏi “anh đang khổ ở chỗ nào”. Từ bi không đứng ngoài quan sát, mà bước tới và san sẻ trong khả năng có thể. Thực ra, ai cũng có thể trở thành người nghèo ở một giai đoạn nào đó của đời mình, nghèo tiền bạc, nghèo sức khỏe, nghèo tình thương, nghèo hy vọng... Cho nên nhiều người quan niệm rằng - Giúp người không phải là một lòng tốt tùy hứng, cũng không phải mong được phước báu hay công đức gì, mà là một nghĩa vụ nhân tính căn bản. Một ổ bánh chia đôi không làm ai chết đói, nhưng có thể cứu được chỗ lương thiện cuối cùng trong một con người. Một bàn tay đưa ra đúng lúc có khi quan trọng hơn cả vạn lời thuyết giảng. Tất nhiên, thế giới này không nghèo đi vì chia sẻ, mà chỉ nghèo đi vì thờ ơ. Ngày nay có rất nhiều tổ chức thiện nguyện phi chính phủ, tập thể, cá nhân, đã không quản ngại khó khăn, hy sinh đi khắp nơi trên thế giới, vùng sâu vùng xa của nhiều châu lục, để tham gia hổ trợ các chương trình xoá đói giảm nghèo và xoa dịu những nỗi khổ của đồng loại. Thật đáng kính trọng ! 

Gần đây, chính quyền Mỹ đã yêu cầu Quốc hội giữ lại nhiều tỷ USD ngân sách viện trợ nước ngoài và huỷ bỏ hoặc đóng băng nhiều khoản đã duyệt trước. Có báo cáo rằng khoảng 83% các chương trình của USAID (khoảng 5.200/6.200 dự án) đã bị hủy sau một đợt “thanh lọc” trong 6 tuần đầu năm 2025. Các nghiên cứu cho rằng nếu tình trạng cắt giảm tiếp diễn, có thể dẫn tới hơn 14 triệu ca tử vong thêm trên toàn cầu đến năm 2030, trong đó hơn 4,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Các quỹ cứu trợ y tế, về dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh đã bị cắt rất mạnh. Ví dụ chương trình chống lao bị cắt 56%, chương trình nước và vệ sinh bị cắt tới 86% trong một số phân tích. Ngoài ra còn nhiều ảnh hưởng khác đến các quỹ nhân đạo & phát triển xoá đói giảm nghèo khác.

Hệ thống y tế HIV/AIDS ở các nước như Lesotho bị bứt gãy, hơn 8,000 nhân viên y tế mất việc, nhiều phòng khám đóng cửa sau các khoản viện trợ bị rút. Các chương trình cứu trợ thực phẩm khẩn cấp qua tổ chức như World Food Programme (WFP) báo cáo tình trạng khẩn cấp do thiếu quỹ, có thể ảnh hưởng tới 14 triệu người ở nhiều quốc gia vì cắt viện trợ từ các nước, trong đó Mỹ là một đóng góp lớn. Các chương trình phát triển nông nghiệp, chống biến đổi khí hậu và hỗ trợ người dân nghèo giáp ranh có nguy cơ bị thu hẹp mạnh. Câu hỏi là - USAID bắt đầu từ năm 1961, gần 70 năm qua, vì sao hôm nay có chuyện này ?

Ngắn gọn là do chính sách “America First” (nước Mỹ trước) dẫn tới yêu cầu tái xem xét viện trợ nước ngoài, cho rằng một số chương trình không còn phù hợp với lợi ích quốc gia Mỹ hoặc bị lãng phí. Có sự chuyển giao quyền điều hành viện trợ sang bộ phận khác hoặc sát nhập cơ quan. Có tin cho rằng USAID sẽ bị sáp nhập hoặc chức năng chủ yếu được chuyển cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Ngân sách bị căng thẳng, phải cắt giảm trong bối cảnh thâm hụt lớn, lạm phát và chính sách tài khóa. Mặt khác, khi tranh luận về hiệu quả của viện trợ nước ngoài, một số nhà cố vấn phê bình cho rằng quá nhiều chương trình không đạt hiệu quả, quản lý kém... 

Hoặc có thể có vài lý do chủ quan khác nữa, nhưng cho dù là lý do gì, với sự cắt giảm đó của chính phủ Mỹ, sẽ có nhiều tác động đáng lo, có thể làm thụt lùi nhiều thành quả phát triển, đặc biệt ở các nước nghèo như dịch bệnh tái phát, dinh dưỡng trẻ em đi xuống, nghèo đói tăng...v.v. Hệ thống cứu trợ khẩn cấp bị suy yếu, khi thiên tai, xung đột xảy ra, khả năng phản ứng bị hạn chế hơn. Ảnh hưởng không chỉ tới các nước nhận viện trợ, mà dài hạn tới cả an ninh toàn cầu: vấn đề dịch bệnh, biến đổi khí hậu, di cư, xung đột, đều liên quan. 

Riêng đối với VN, nếu các chương trình quốc tế bị thu hẹp, thì sự hỗ trợ từ bên ngoài, vốn vẫn đóng vai trò bổ sung trong một số lĩnh vực sẽ khó khăn hơn. Mặc dù Việt Nam trong những năm gần đây đã có tốc độ phát triển nhanh và lộ trình giảm phụ thuộc viện trợ nước ngoài, nhưng vẫn có những phân khúc như vùng sâu vùng xa, điều kiện y tế, hỗ trợ nghề cho người nghèo, nơi viện trợ quốc tế đóng vai trò hổ trợ. Việc cắt giảm viện trợ toàn cầu có thể dẫn đến những hạn chế trong việc lựa chọn nguồn hỗ trợ bên ngoài cho các chương trình nhân đạo, phát triển nhỏ. Do đó, trong bối cảnh ấy, việc tăng cường nguồn lực nội địa, hợp tác giữa các tổ chức công & tư, các đoàn thể, để phát huy nội lực địa phương càng trở nên quan trọng. Thực tế các chương trình xoá đói giảm nghèo không phải chỉ dừng lại ở mức độ từng bữa ăn mà là một kế hoạch lâu dài, trồng cây gì nuôi con gì, giáo dục đào tạo, y tế cộng đồng ...v.v. Cho nên bên cạnh yếu tố con người và các chương trình trợ giúp, thì vai trò của chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng.

Và cũng chính vì những thay đổi đột ngột như thế nên gần đây có nhiều người than vãn, trách móc, cho rằng tại sao thế giới lại có nhiều biến động như vậy. Và liệu những đổi thay đó có làm đời sống người dân nước Mỹ nói riêng, và thế giới nói chung, tốt đẹp và hạnh phúc hơn chăng? Cái này thì tuỳ vào khả năng nhận thức và phân tích của mỗi cá nhân dựa vào thực tế đang xảy ra. Bởi rất khó để có thể thuyết phục con người thay đổi tư duy thiên kiến lệch lạc của họ, hoặc buông bỏ những thứ mà họ tin tưởng hoặc tôn thờ !

Còn nói đến sự đổi thay. Đó là chuyện tất nhiên, xưa nay vạn vật luôn thay đổi. Quy luật vô thường của vũ trụ là vậy. Sự tiến bộ của khoa học ngày nay cũng đã chứng minh điều đó. Tuy nhiên, có sự thay đổi làm cho tốt hơn, thì cũng có sự thay đối làm cho tồi tệ hơn. Mở ngoặc chút, đạo Phật có nói đến 3 đặc điểm căn bản nhất (The three marks of existence) trong thế giới chúng ta, đó là: Vô Thường (tiếng Phạn là Anicca hay Anitya, tiếng Anh là Impermanence), Vô Ngã (tiếng Phạn là Anatta hay Anatman; tiếng Anh là Non-self), và Khổ (tiếng Phạn là Dukkha hay Duhkha; tiếng Anh là Suffering/Unsatisfactoriness). Cho nên nếu có ông nào giảng giải tràng giang đại hải hoặc lý thuyết cao siêu về đạo Phật, mà không đề cập hoặc tán đồng với 3 đặc điểm cơ bản đó thì coi chừng họ đang nói về đạo khác ? Và tất nhiên, những vị đã "chứng ngộ" được chân lý vô thường, vô ngã, thì họ không còn Khổ (Dukkha) nữa. Còn phe ta, những kẻ phàm phu đầy lý thuyết, đầy lý luận, đầy chức danh, đầy kinh điển, thích chứng tỏ, thích cãi nhau, thích hơn thua, thích tiếng tăm, thích xưng tụng..v.v.. thì cứ mãi còn đeo lon thượng sĩ 3 gạch... Còn khổ dài dài :-) !


Nhân đây mình cũng muốn nhắc lại một câu chuyện, mà chắc chắc có nhiều anh chị em đã từng đọc qua. Đó là một trong những giai thoại nổi tiếng xoay quanh danh họa Leonardo da Vinci và kiệt tác “The Last Supper”. Tuy nhiên, cần nhắc lại là câu chuyện Leonardo tìm gương mặt để vẽ Chúa Jesus (Giêsu) và Judas (Giuđa) chỉ là một huyền thoại dân gian, không có chứng cứ lịch sử xác thực, nhưng mang giá trị biểu tượng và triết lý rất sâu sắc về bản chất thiện ác trong con người.

Theo truyền thuyết, khi danh hoạ Leonardo da Vinci được giao vẽ bức “The Last Supper” (1495–1498) cho tu viện Santa Maria delle Grazie ở Milan, ông đã quyết định tìm người thật để làm mẫu cho các gương mặt của Chúa Giêsu và 12 tông đồ. Ông muốn mỗi khuôn mặt phải thể hiện một trạng thái tâm hồn đặc trưng, đặc biệt là Chúa Jesus (biểu tượng của tình thương và tha thứ) và Judas Iscariot (biểu tượng của phản bội và tham lam).

Leonardo mất nhiều tháng trời để tìm được người có gương mặt thể hiện sự thanh khiết, nhân từ của Chúa Giêsu, và ông đã chọn một ca sĩ trong dàn hợp xướng nhà thờ có khuôn mặt sáng, đôi mắt hiền, gợi vẻ thánh thiện. Còn tìm hình mẫu của nhân vật Judas thì khó khăn hơn nhiều. Ba năm sau khi bức họa gần hoàn thành, Leonardo đi khắp hang cùng ngõ hẽm vẫn chưa tìm ra người phù hợp để vẽ Judas. Ông cần một gương mặt phản ánh sự sa ngã, tội lỗi, và dằn vặt của linh hồn. Sau nhiều ngày tìm kiếm, ông gặp một người tù bị kết án tử hình ở Rome, gương mặt đầy u tối, ánh mắt cay độc và tuyệt vọng. Leonardo xin phép cho người này làm mẫu để hoàn thiện gương mặt Judas trong bức tranh.

Sau khi bức họa hoàn tất, Leonardo nói lời cảm ơn người tù. Khi đó, người tù bật khóc và nói: “Ngài không nhận ra con sao? Con chính là người đã từng làm mẫu cho ngài vẽ Chúa Jesus ba năm trước đây.”

Leonardo lặng người. Câu chuyện khép lại trong im lặng, như một ẩn dụ về hai mặt của con người. Thiện và ác, ánh sáng và bóng tối, có thể tồn tại trong cùng một linh hồn. Dù không có bằng chứng lịch sử xác nhận, nhưng câu chuyện này được xem là một ẩn dụ tuyệt vời về con đường tâm linh và đạo đức của con người. Con người không sinh ra là Judas hay Jesus, mà chính sự lựa chọn và những trải nghiệm trong cuộc đời khiến họ trở thành ai.

Thiện và ác không ở ngoài, mà cùng tồn tại trong mỗi người, giống như ánh sáng và bóng tối trong cùng một bức tranh. Leonardo, dù là họa sĩ, đã trở thành triết nhân qua chính cách ông khiến người ta suy ngẫm: “Trong cùng một con người có thể ẩn chứa cả thánh thiện và tội lỗi. Điều khác biệt nằm ở ánh sáng mà họ hướng về”. Thật là trùng hợp, đây cũng chính là điều mà đạo Phật nói đến, thiện ác do tâm tạo ra !

Tuy nhiên sau này, các nhà nghiên cứu nghệ thuật (như Giorgio Vasari, Kenneth Clark, hay các tài liệu của Bảo tàng Leonardo da Vinci) cho rằng Leonardo không hề dùng tù nhân hay người thật làm mẫu cho riêng Judas, mà ông thường quan sát, phác họa nhiều gương mặt ngoài đời rồi tổng hợp thành những biểu cảm tượng trưng. Câu chuyện trên xuất hiện từ thế kỷ XIX trong các tuyển tập giai thoại đạo đức Kitô giáo, chứ không có trong các ghi chép gốc về Leonardo. Tuy vậy, người ta vẫn thích kể lại câu chuyện ấy như một “ngụ ngôn về con người”, sâu sắc và cảm động, vượt xa giá trị nghệ thuật. Đó là, thiện ác, sáng tối, đều khởi đầu từ trong chính trái tim con người.

Hy vọng sau khi nước Mỹ hạn chế các chương trình viện trợ nhân đạo xoá đói giảm nghèo đối với những đất nước nghèo khó trên thế giới, thì sẽ có những cá nhân, tố chức, hoặc quốc gia khác đứng lên điền vào chỗ trống. Suy cho cùng, hơn thua không đến từ vị kỷ, và giá trị không đến từ hư danh. Mọi chuyện đều sẽ đổi thay, kể cả sự hoang tưởng!

Thân chúc tất cả một cuối tuần an vui.

PN

Saturday, October 04, 2025

Tản mạn: Tìm gì, ở đâu ?

 


Mới đó đã mùa Thu. Ngoài đường đã bày bán bí đỏ bí ngô, hoa cúc, đủ loại, đủ màu đủ sắc. Tuần rồi, có vợ chồng đứa em quen ở VN qua FL, ghé thăm. Thấy mấy chậu cúc "mâm xôi" ở nhà mình, hỏi thăm chưa tới Tết sao cúc đã trổ hết rồi ? Bên này cúc nở vào mùa Thu, chứ không phải mùa Xuân như ở VN. Mỗi nơi xuân về sẽ có những loài hoa trái khác nhau. Cho nên nếu hồi đó 3 ông Trịnh, Lâm, Ngân, mà ở Tây ở Mỹ thì bây giờ không có câu ca bất hủ " Mẹ ơi, hoa cúc hoa mai nở rồi". Tuỳ duyên là vậy :-).

Tán gẫu chuyện thời sự bên Mỹ cũng vậy, ông tổng thống hiện tại lên ngôi cũng được chục tháng rồi, chưa kể là trước đây ông cũng từng làm qua 4 năm tt nữa. Nên ít nhiều thì người ta cũng được nhìn thấy người thật việc thật, cảm nhận, hiểu biết thêm về tài năng lãnh đạo, và đạo đức tư cách của con người ông. Mình không muốn bàn đến chuyện tốt xấu, đúng sai ở đây, bởi mỗi người đều có tư duy, hiểu biết, và cái nhìn riêng biệt để suy luận. Ai cũng có quyền diễn đạt tư tưởng cá nhân, ai cũng có quyền chọn lựa đức tin cho riêng mình, và ai cũng cần có trách nhiệm với bản thân về sự chọn lựa của họ. Có điều mình tưởng rằng trong cuộc sống hàng ngày, một khi thiên hạ thấy biết một điều gì đó rõ ràng hơn, thì họ sẽ ít tranh cãi hơn. Giống như đã được thấy con voi rồi, thì không cần tranh cãi với nhau bộ phận nào to nhất nữa. Thế nhưng thực tế không phải vậy, nhìn lại cuộc sống chung quanh, những cuộc tranh cãi vẫn còn cứ tiếp diễn, sôi nổi và nóng bỏng. Tin thật tin giả, chính thống, nổi trôi, nửa gà nửa vịt, vẫn cứ đầy rẫy khắp nơi, trên mạng, quán cafe, quán nhậu, vũ trường, và ... quốc hội :-) .

Đôi khi mình cũng thắc mắc, cuối cùng thì con người thực sự tìm kiếm điều gì, và tìm ở đâu ? 

Có một nghịch lý tồn tại trong đời sống nhận thức của con người, đó là ai cũng nói rằng mình yêu chân lý, nhưng khi sự thật hiện ra, không phải ai cũng đủ can đảm để đối diện với nó. Bởi lẽ, con người thường không tìm kiếm sự thật, mà chỉ tìm kiếm điều gì khiến họ cảm thấy dễ chịu, an toàn, hoặc phù hợp với niềm tin sẵn có của mình.


Trong sâu thẳm tâm lý, mỗi người đều có một “bản đồ” về thế giới, một hệ thống niềm tin, định kiến, và kinh nghiệm được tích lũy qua thời gian. Khi đứng trước một thông tin hay hiện tượng mới, người ta thường vô thức so sánh nó với "bản đồ" ấy. Nếu nó khớp, ta dễ dàng chấp nhận; nếu nó trái ngược, ta lập tức phản bác, thậm chí né tránh. Chính điều đó tạo nên hiện tượng mà các nhà tâm lý học gọi là “thiên kiến xác nhận”. Con người có xu hướng chỉ tin những gì củng cố cho quan điểm của mình, thay vì thử thách nó bằng sự thật.

Nhìn quanh đời sống xã hội, ta thấy điều này diễn ra ở khắp nơi. Trong các cuộc tranh luận, người ta không lắng nghe để hiểu, mà lắng nghe để phản biện. Trong việc học hỏi, nhiều người chỉ chọn đọc những gì mình đã tin, và gạt bỏ những gì khiến mình phải suy nghĩ lại. Thậm chí trong tôn giáo, khoa học hay chính trị, sự thật đôi khi không phải là điều được tôn vinh cao nhất, mà là một "phiên bản của sự thật" phù hợp với số đông, với quyền lực, với "dao to búa lớn", hoặc với cảm xúc của con người.

Thế nhưng, sự thật thì không cần ai tin để trở thành sự thật. Nó tồn tại độc lập với niềm tin của chúng ta. Sự trưởng thành trong nhận thức bắt đầu khi con người dám đặt câu hỏi cho chính mình như : Điều ta đang tin có thật là đúng không ? hay ta chỉ tin vì nó khiến ta thấy dễ chịu? hay ta tin vì bạn bè ta tin như vậy ? hay ta tin vì ông giáo sư tiến sĩ kia nói vậy ? hay ta tin vì ông sếp ta cũng tin như vậy? hay ta tin chỉ vì quyền lợi? hay ta tin chỉ vì muốn chứng tỏ ..v.v..và ..v.v.

Thông thường người trí tuệ không tìm sự dễ chịu, mà tìm sự thật, dù đôi khi nó cay đắng, cô độc, hoặc khiến họ phải từ bỏ những điều đã từng nâng đỡ hoặc đem lại quyền lợi cho họ trước đây. Đức Phật cũng từng dạy rằng: “Đừng tin vì nghe truyền lại, vì thấy hợp lý, hay vì người đáng kính nói ra. Hãy tự mình quán chiếu để thấy đó là sự thật.” Câu nói ấy không chỉ là lời khuyên cho người tu hành, mà cho mọi ai muốn sống thật với chính mình. Bởi chỉ khi ta dám nhìn thẳng, vượt qua cái tôi và định kiến, ta mới có thể chạm đến điều chân thật trong thế giới, và trong chính lòng mình.

Carl Jung, một nhà tâm lý học nổi tiếng của thế giới, cho rằng sự thật không nằm ở một hệ thống tri thức tuyệt đối bên ngoài, mà ở sự đối diện trung thực với chính vô thức của con người. Ông nói con người không thật sự “tìm kiếm sự thật”, mà chỉ đi tìm những hình ảnh giúp họ duy trì cảm giác an toàn trong tâm hồn. Phần lớn chúng ta sống trong thế giới của ảo tưởng bản ngã (ego), tự cho rằng mình hiểu biết, trong khi những động lực sâu xa của hành vi lại nằm trong vô thức tập thể (collective unconscious), nơi chứa các biểu tượng, nguyên mẫu và bản năng nguyên thủy.

Với Jung, “sự thật” không chỉ là điều được lý trí công nhận, mà là sự hòa hợp giữa ý thức và vô thức, giữa cái mà ta tin và cái mà ta sợ. Con người chỉ thực sự chạm đến chân lý khi dám đối diện với “bóng tối” của mình, tức phần tâm lý bị che giấu, bị chối bỏ,  và dung hòa nó vào cái toàn thể. Ông từng nói: “Con người không được soi sáng bằng cách tưởng tượng ra ánh sáng, mà bằng cách làm cho bóng tối trở nên có ý thức.” Vì thế, với Jung, sự thật không phải là điều ta tìm thấy bằng tri thức, mà là điều ta trở thành khi dám nhìn sâu vào chính mình.


Từ xa xưa đến nay, trong cuộc sống hàng ngày luôn có những dị biệt, từ chuyện to đến chuyện nhỏ, từ thế giới quan cho đến nguyên tắc sống. Nguyên nhân không phải chỉ dừng lại ở sự khác biệt về trình độ, kiến thức, tôn giáo, hoàn cảnh ..... Mà thực chất là ở cái nhìn phiếm diện và cách hiểu chủ quan của từng người. Ví dụ như những năm gần đây, quan sát hiện tượng phân hoá và xung đột mâu thuẩn chính trị ở những nước dân chủ văn minh như Mỹ khiến người ta ngao ngán và thất vọng. Có lúc băn khoăn không biết ai nói đúng ai nói sai, hay là cả các bên đều nói dối, hay mạnh ai nấy hiểu, hiểu sai sự thật từ một vấn đề chung. Rồi dẫn đến bên nói gà, bên nói vịt, ai cũng cho mình tài, mình đúng :-) ? Thực ra cái căn bệnh "ta luôn đúng" này, thì vô cùng khó trị. Đó là căn bịnh ung thư đã di căn của nhân loại, không chừa một ai !

Theo thiển ý của mình, sự thật không bao giờ thuộc về kẻ cố bảo vệ quan điểm, mà thuộc về người đủ khiêm nhường để lắng nghe, đủ can đảm để thay đổi. Cho nên một số người thực hành sống tỉnh thức (mindfulness) thường cho rằng - chân lý không nằm trong sự khẳng định, mà nằm trong sự thức tỉnh ! 

Viết tới đây, bỗng nhớ đến một người, đó là Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ (xin lưu ý, cái danh Thượng Sĩ này hình như là do vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi Ngài, chứ không phải giống danh xưng "vô thượng sư" nghen :-). Nôm na, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ (TTTS) là anh ruột của Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn.  Ngài cũng vừa là bác họ, vừa là cậu, vừa là Thầy của Phật hoàng Trần Nhân Tông (người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm của VN sau này).  


Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ tại gia, từng là một danh tướng, không xuống tóc quy y, không sống theo thân phận hoàng tộc, mà chọn con đường hòa mình vào đời sống bình dị, gần gũi với dân gian, nhất là với những người dân chài ven biển. Ở giữa đời thường, Ngài vẫn sống một cách tự tại, thong dong, dùng trí tuệ và tâm từ để chỉ dạy cho người đời. Chính vì vậy, nhiều người xem Ngài là một bậc giác ngộ giữa cõi nhân gian, người đã chứng đạo mà vẫn không rời thế tục.

Vua Trần Thánh Tông, vốn am hiểu sâu sắc giáo lý Phật giáo và hết sức cẩn trọng trong việc giáo dục con cái, rất kính trọng Tuệ Trung Thượng Sĩ. Chính nhà vua đã giao phó việc chỉ dạy thái tử Trần Nhân Tông cho Ngài, vị thầy vừa là người thân trong hoàng tộc, vừa là bậc đắc đạo giác ngộ, không màng danh lợi. Nhờ được dẫn dắt từ thuở nhỏ trong tinh thần ấy, sau này Trần Nhân Tông mới có thể vừa là một minh quân, vừa là một thiền sư khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo và đời.

Đến ngày nay, nhiều bậc thiền sư hiện đại như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ... vẫn thường trích giảng các bài pháp kệ trong “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục”, xem đó là những viên ngọc quý trong kho tàng tư tưởng Thiền học Việt Nam. Không chỉ là những lời dạy về đạo, mà trong đó còn phản chiếu tinh thần nhân văn, trí tuệ và lòng từ bi của người Việt thời Trần, thời đại mà Phật pháp, văn hóa, và lòng yêu nước hòa quyện làm một.

Thời kỳ ấy không chỉ có những pháp thoại và thiền kệ sâu xa, mà còn đầy ắp những câu chuyện về lòng dũng cảm, sự hy sinh, tình yêu, và khí phách ngút trời của một dân tộc nhỏ bé ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, đế quốc hùng mạnh từng chinh phục cả Á – Âu.

Điều đáng tiếc là cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một tác phẩm văn chương hay điện ảnh thật xứng tầm để tái hiện trọn vẹn vẻ đẹp tinh thần của thời đại huy hoàng ấy, thời của Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Hưng Đạo, và Trần Nhân Tông... Trong khi đó, trên các kênh truyền hình đại chúng, phim dã sử và anh hùng giả tưởng của Trung Quốc, Hàn Quốc lại tràn ngập, khiến khán thính giả VN càng thêm khát khao được nhìn thấy hào khí Đông A của chính dân tộc mình được sống dậy trên màn ảnh.

Trở lại chuyện hành trình đi tìm "sự thật", Tuệ Trung Thượng Sĩ từng dạy:

“Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.”

(Tạm dịch: Hãy soi lại chính mình, đó là việc lớn lao nhất đời người, đừng mong ai khác chỉ cho mình thấy sự thật.)

Sự thật vốn không xa. Nó nằm ngay trong từng hơi thở, từng ý nghĩ, từng hành động. Nhưng bởi con người ưa tìm kiếm ở ngoài, nên càng tìm càng xa. Ta đọc sách, nghe giảng, chất chứa tri thức… mà ít khi dừng lại để lắng nghe sự thật trong chính tâm mình. Cái "biết" càng nhiều, thì cái "thấy" lại càng bị che lấp. Càng cố chứng minh rằng mình đúng, ta càng đánh mất khả năng nhìn thấy điều đang là !

Có nhiều người cho rằng những bậc trí tuệ không sợ sự thật, vì họ hiểu rằng sự thật không đến để làm tổn thương, mà để giải thoát. Còn những kẻ chấp ngã thì sợ, vì sợ mất đi cái khung hiểu biết quen thuộc, sợ rằng nếu một ngày nhận ra mình sai, thì mình là ai? Nhưng chính khoảnh khắc ta chịu buông cái sai ấy, cũng là lúc chân tâm bừng sáng, như mây tan để mặt trời hiển lộ. Ngài TTTS cũng từng dạy cho vua Trần Nhân Tông “Phật là tâm ông, ngoài tâm không có Phật. Tìm sự thật cũng vậy, ngoài tâm không có sự thật. Nếu tâm ta bị khuấy động bởi ưa ghét, thương giận, thì sự thật liền bị nhuộm màu theo cảm xúc ấy. Khi tâm lặng, sự thật tự hiển. Không cần tìm, cũng chẳng cần hiểu, chỉ cần thấy."

Nhớ ngày xưa, mình đã từng đọc những phần này. Đọc tới đọc lui, rồi nghi ngờ tự hỏi: Chân lý cao siêu lại có thể đơn giản đến thế sao?

Giờ thì đã lang bạt tha phương mấy chục năm, lăn lộn với cơm áo gạo tiền, tiêu nhiều hơn muối (mà cũng có lúc muối nhiều hơn tiêu 😊). Quay trở lại, cũng đọc những chuyện ngày xưa ấy, lại thấy… không còn gì để nghi ngờ nữa. 

Thế nhưng, lâu lâu mở YouTube, xem TV, nghe tin vịt, thấy người ta cãi lộn lung tung, vu khống, chụp mũ bên nọ bên kia trên mạng … thì tâm vẫn chưa thể "lặng" được. Rồi tự nhủ - Có lẽ con người thường đi tìm điều mình muốn nghe, chứ không tìm điều mình cần thấy. Mà chân lý sự thật thì vốn không sinh ra để làm vừa ý ai. Nó chỉ chờ một tâm hồn đủ tĩnh lặng để lắng nghe, đủ can đảm để buông bỏ cái biết cũ, và đủ khiêm nhường để nói là ... tôi chưa biết :-).

Thực tế thì đến một lúc nào đó, trí óc ai cũng trở nên già nua. Quy luật sinh, lão, bệnh, tử của vạn vật, chẳng ai tránh khỏi. Mình cũng vậy, có những lúc nhớ được một điều gì đó rất hay, nhưng lại không nhớ là đã từng đọc ở đâu, hay nghe ai giảng dạy. Ráng lục lọi ký ức mãi, không hình dung được, rồi lại bật cười: “Nhớ chi cho mệt. Ai nói thì cũng vậy thôi. Ông Phật, ông Chúa, ông xe ôm, ông vô gia cư, ông sư thầy, bà tiến sĩ giáo sư, hay một kẻ nghèo hèn khốn khổ nói, thì có gì khác nhau đâu ? Thực tế thì ai cũng có thể dạy mình !"

Quả nhiên là vậy, bằng cấp, vật chất, hay địa vị xã hội không bảo đảm được một trí tuệ (wisdom) thực sự, nhất là trong hành trình kiếm tìm sự thật của bản thân. Nhớ mang máng có ai đó đã từng dạy rằng: “Tìm kiếm sự thật không phải là gom nhặt thêm hiểu biết, mà là gột bỏ những lớp hiểu biết sai. Tu không phải là chạy ra ngoài tìm Phật, mà là trở về soi sáng tự tâm. Tu cũng không phải để trở thành, mà là để trở về. Một người có thể học cả ngàn kinh điển, mà vẫn chưa bước được một bước trên đường giác ngộ. Nhưng khi tâm đã an nhiên, lời và ý đều rơi rụng, thấy vạn vật như nó đang là, thì chỉ còn lại sự sáng biết (tánh biết) lặng lẽ. Lúc ấy, sự thật không còn là điều phải tìm, mà chính là ta đang sống trong nó, như con cá bơi trong nước, đâu cần hỏi nước ở đâu.”

Và mỗi lúc nhớ đến những lời dạy đó, mình thường nghĩ rằng - Đấy, chuyện chỉ đơn giản như vậy thôi, mà cả mấy ngàn năm qua, bao nhiêu kinh sách, bao nhiêu tông phái, bao nhiêu ông này bà nọ ...vẫn loay hoay đi tìm sự thật chưa ra, huống chi là kẻ phàm phu tục tử như mình :-). Mà quả nhiên là sự thật chưa từng ở đâu xa, chỉ vì ta không chịu nhìn vào chính mình, mà chỉ mải mê tìm kiếm hoặc chờ đợi từ nơi khác !

Và cũng biết đâu, trong câu chuyện Nỏ Thần của An Dương Vương – Triệu Đà ngày xưa, khi cụ Rùa Vàng (Thần Kim Quy) nói “Kẻ thù đang ở ngay sau lưng nhà ngươi", đó không chỉ là lời cảnh báo cho một vị vua, mà còn là thông điệp gửi lại cho hậu thế.

Bởi kẻ thù thật sự của con người không phải lúc nào cũng mang gươm giáo hay mưu mô, mà chính là những ảo giác, vọng tưởng và chấp niệm ta mang theo trong chiếc ba lô của hành trình cuộc đời mình. Chứ cũng chẳng phải lúc nào cũng có Trọng Thủy hay Mỵ Châu nào đó đâu. Chỉ có ta, với chính những bóng hình trong tâm tưởng mình. Tự biên tự diễn, vừa là người lữ hành, vừa là kẻ tự giăng bẫy rãi đinh trên đường đi 😊.

Thôi, lan man chút cho vui. Giờ đến lúc dọn vườn quét lá rồi. Chúc quý bằng hữu một cuối tuần an vui, hạnh phúc và tĩnh tại . 

PN
10/2025

Sunday, September 14, 2025

Tản mạn - Sân ga và những đoàn tàu ....

 


Hôm rồi ngồi kiếm vé xe lửa đi miền Trung chiều cuối năm. Thằng bạn thắc mắc hỏi: "thời buổi này người ta đi máy bay, xe hơi, chứ mấy ai còn đi tàu lửa ?" Thực ra cũng không nhớ là bắt đầu từ bao giờ, mình rất thích đi xe lửa và luôn có ấn tượng sâu sắc về sân ga & đoàn tàu. Có thể là lần đầu một mình rời làng quê cũng trên chuyến tàu lửa chăng ? Hay là thời còn đi học, những ngày bao cấp đói nghèo, những chuyến "phượt" ngang dọc trên những đoàn tàu chen chúc, cũ kỹ? Đến khi ra nước ngoài đi học đi làm, mình cũng khoái đi xe lửa. Nhớ hồi còn làm việc bên London, cuối tuần thường xuyên bắt xe lửa từ Wimbledon hoặc St Pancras chạy qua Gare du Nord bên Tây, ghé quận 13 ăn món VN, la cà cafe sửa đá, nghe nhạc Cung Tiến, Ngô Thuỵ Miên, TCS, Phạm Duy ...Ở châu Âu, đi EuroStar vừa tiện ích ngắm cảnh trời mây non nước, mà hút thuốc cũng dễ dàng :-). Sau này về VN làm việc, thì không cần phải đi đâu xa để nghe nhạc và ăn bún, ăn phở nữa. Nhạc thì karaoke của hàng xóm, kẹo kéo của đường phố đủ để đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết. Thức ăn ở VN thì thôi khỏi bàn, chỗ nào cũng có đặc sản, con nào nhúc nhích được là "tươi sống". Thế nhưng, mình lại càng thích đi tàu lửa, đi để yên tĩnh, đi để đọc một cuốn sách, hay đi để suy tư một điều gì đó, hoặc có lúc chỉ đơn giản là đi để mà đi, chứ không phải đi để mà đến. Tối lên ga Hoà Hưng, làm vài lon bia hay chai rượu, con mực khô, dĩa lòng cánh gì đó, nghe nhạc, suy nghĩ mông lung, chợp mắt chút đã đến nơi rồi. Về quê cũ, gia đình không còn ai ở đó. Mượn chiếc xe máy của bạn bè chạy lòng vòng, lên núi xuống biển, thắp cây hương, ăn tô bún, làm vài chén bánh bèo gì đó. Tối về thị xã, rủ vài đứa bạn ra bờ sông ngồi vỉa hè, lai rai ngắm trời ngắm mây ... rồi đi. Vậy mà thấy vui !

Nôm na là những hình ảnh cũ của sân ga và đoàn tàu vẫn còn lưu luyến và dính mắc. Sân ga buổi sáng mờ sương, những dãy ghế dài còn vương hơi lạnh đêm qua. Người chờ tàu cầm trong tay tấm vé nhỏ, ánh mắt luôn hướng về đường ray như mong một tín hiệu báo tin quen thuộc. Từ xa, tiếng còi tàu ngân dài, âm thanh vừa dứt khoát vừa nôn nao, như nhắc nhở ai đó sắp bắt đầu một hành trình mới. Mỗi toa tàu như một ngôi nhà nhỏ, chở theo bao nhiêu mảnh đời, người đi xa học hành, lam lũ mưu sinh, người về quê thăm mẹ, người lặng lẽ ra đi mang theo những ngậm ngùi. Lên tàu, khung cảnh trôi qua không ngừng, đồng lúa bát ngát, sông núi mênh mang, làng quê nép mình dưới mái khói lam chiều... Sân ga cũng là nơi chứng kiến biết bao cuộc tiễn đưa, đoàn tụ. Những nụ cười xen lẫn giọt nước mắt, cái nắm tay níu lại phút cuối, hay cái ôm vội vã trước khi bước lên tàu. Mỗi lần tàu lăn bánh, khoảng trống ở sân ga lại rộng ra, để lại dư âm xao xuyến trong lòng người ở lại. Đôi lúc có cảm giác như nó đang nhắc nhở ta về hành trình đời mình, luôn gắn liền với những khởi đầu và sự trở về.

Có một nhà thơ miền Trung mà mỗi lúc nhắc tới sân ga là nhớ tới ổng. Đó là Vũ Hữu Định, tác giả của bài thơ "Còn chút gì để nhớ" mà nhạc sĩ PD phổ nhạc. Nhà ông ở gần ga nên có duyên nợ với những hành trình lang bạt. Ngày xưa mình rất thích bài thơ "Kẻ ở lại" của ông, cũng nói về ga & tàu, nhưng nghe rất "thiền". Và cũng chính sân ga & đoàn tàu đó, sau năm 75 lại trở thành một nỗi khát vọng của ông (Đêm nghe còi tàu). Thơ ông có nhiều uẩn khúc, rất đời thường, còn chuyện hay dở, thưởng thức được là tuỳ vào tâm trạng và hoàn cảnh của riêng mỗi người. 

Thời còn đi học, mình thường đi lang thang đây đó. Có lần đi "phượt bụi" với một ông bạn hiền ở SG. Ra tới Nha Trang là đã hết tiền, chỉ còn đủ mua vài trái xoài và vài xị rượu đế, uống để say rồi ngủ, chờ đến ga nào đó xuống. Đến ga gà, hai đứa leo xuống, vì nhảy tàu nên không có vé ra cửa. Tường rào sân ga có một cái lỗ "nhân tạo" để mấy người buôn lậu chui ra vào. Mình kêu anh ra bằng ngõ đó. Ông bạn mình thuộc loại gốc "tư sản mại bản" chính hiệu, nhất định không chịu hạ mình như thế. Mình nói - vậy anh ở lại, tui đi trước nghen. Cuối cùng anh cũng ấm ức chui ra theo :-).

Rồi thời thế mấy chục năm không gặp. Khi mình trở lại VN, anh đã trở thành một đại gia tên tuổi. Lần đầu tiên gặp lại, anh kêu lính lác bạn bè đông đủ đế giới thiệu mình với họ. Câu đầu tiên anh giới thiệu với thiên hạ là: "Đây là người đầu tiên dẫn tui chui lỗ chó, và đó cũng là lần duy nhất". Mình cười hì hì - " Biết đâu nhờ lần chui "lỗ chó" đó mà ngày nay anh mới trở thành đại gia ?". Âu đó cũng là duyên, thoáng chốc đã qua mấy chục năm rồi, nhanh thật.

Mà chắc là mình cũng có duyên nợ gì đó với ga tàu, cứ lâu lâu lại có chuyện liên quan đến nó. Mình vốn quen một anh bạn VK, rất am tường về PG, đặc biệt là tình hình PG ở quê nhà. Anh từng đi nhiều chùa từ Nam ra Bắc, từ Á sang Âu, quen biết nhiều sư thầy nổi tiếng; chùa to chùa lớn, anh đều biết tất. Đôi lúc nói chuyện, anh chê trách mình không cập nhật tin tức, không chịu theo dõi ông sư này ông thầy kia giảng thuyết trên mạng. Quả nhiên đúng vậy, bởi mình rất ít quan tâm đến những chuyện "giảng thuyết" của các vị, lại càng lạc hậu về những tin tức thời sự và kiến thức tôn giáo như anh. Có lần anh hỏi mình "Hiểu sao về luân hồi ?". Câu hỏi hóc búa quá, mình trả lời - "Thì chắc cũng như đi xe lửa thôi. Muốn đi đâu đó thì mới mua vé đi, hết ham muốn thì không mua vé nữa. Vậy thôi!". Lần nữa, anh lại hỏi " Hiểu sao về thiền ?". Mình lại trả lời - "Thì chắc cũng như ra sân ga ngồi thôi. Nhìn những đoàn tàu đến, rồi đi. Tiếng còi tàu, tiếng tà vẹt, tiếng rao hàng, tiếng chửi lộn ...vang lên rồi tắt. Không chạy theo, không vẫy gọi, không chờ đợi, không mơ ước, không nhớ nhung, mà cũng chẳng coi ai là "ga nhỏ dọc đường"... Nhà ga thì vẫn ở đó, sân ga thì vẫn ở đó. Vậy thôi !". 

Thế là lâu nay, anh không thèm hỏi chuyện "đạo" với mình nữa :-)

Lần này hết chuyện đạo, sang đến chuyện đời. Cớ là mấy ngày qua nước Mỹ có một sự kiện thu hút nhiều sự chú ý của truyền thông và xã hội. Đó là một vụ ám sát kinh hoàng. Tất nhiên hành động ám sát dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều là bạo lực chính trị, cần được lên án mạnh mẽ. Nạn nhân là một thanh niên trẻ tuổi, quen thân với tổng thống Mỹ và các quan chức chính quyền đương nhiệm. Anh ấy thường có những cuộc diễn thuyết về quan điểm sống & xã hội của bản thân với giới trẻ HK. Sự ra đi của anh là một mất mát lớn cho gia đình và những người theo dõi ủng hộ anh ấy. Ông bạn VK của mình cũng gọi điện và tiếc thương cho một nguời trẻ tuổi có tài. Nói thêm chút, xưa nay việc bất đồng quan điểm là chuyện rất bình thường trong cuộc sống. Nước Mỹ tôn trọng quyền tự do ngôn luận, đưa lên hàng đầu. Con người sống trong xã hội văn minh cần tôn trọng sự khác biệt của người khác. Nếu không thích có thể tranh luận ôn hoà với nhau để tìm ra giải pháp chung. Ai cũng có quyền tự do diễn đạt ý kiến của mình. Không thể nào vì quan điểm khác biệt mà đe doạ, thậm chí giết chóc nhau, hoặc dùng bạo lực để cưỡng bức bịt miệng người khác. Bên cạnh đó, bất kỳ quốc gia nào cũng có những kẻ cực đoan cuồng tín, nên xã hội và con người cần phải tỉnh táo để không bị lôi cuốn vào vòng xoáy hận thù của thiểu số cực đoan đó. Thực ra thì trước đây mình cũng chưa từng được nghe một bài nói chuyện hoặc diễn thuyết nào của nạn nhân, nên cũng không có ý kiến gì, mà chỉ ngồi nghe ông bạn của mình nói là chính. Sau đó, mình có vào mạng để tìm hiểu, mới biết ra nạn nhân là một người trẻ cũng có tài tranh luận và có sức ảnh hưởng lớn với những người ủng hộ anh ta, đặc biệt là với vị tổng thống đương nhiệm và nội các đương thời. Ngoài ra, qua mạng mình cũng khá ấn tượng là có nhiều người Mỷ gốc Việt quan tâm đến chính trị phe phái đến vậy, hơn hẳn các gốc dân châu Á khác !

Nói đúng ra, thì cũng có rất nhiều người Mỹ chưa hề biết đến tên anh này, cho đến khi vụ ám sát xảy ra. Quả nhiên là vậy, vì không phải ai ở xứ này cũng quan tâm đến đảng phái chính trị, phe nọ phe kia, hoặc ông này bà nọ. Đại đa số dân Mỹ luôn tôn trọng pháp luật, tuân thủ nghĩa vụ đối với xã hội và quốc gia, quan tâm đến công việc làm ăn. Họ coi trọng cuộc sống vui vẻ cùng gia đình, theo đuổi những thú vui sở thich cá nhân, tham gia những sinh hoạt cùng bạn bè, và cộng đồng thân quen của họ. Ngoài ra, nhiều người có những lý tưởng sống cao cả, thiện nguyện, hy sinh cống hiến cho thế giới hoà bình, cho người khác, cho xã hội, cho cộng đồng, cho tín ngưỡng, cho môi trường, hoặc cho những giá trị cuộc sống khác nhau, chứ họ không nhất thiết phải để tâm đến chuyện đảng phái chính trị, tả hữu xanh đỏ. Đến ngày bầu cử, họ làm tròn nghĩa vụ công dân, đi bầu rồi xong, vui vẻ chấp nhận kết quả, chứ cũng không dành nhiều thời gian để cãi vả tranh chấp như những người mù sờ voi, làm cho gia đình, con cái, bạn bè, xáo trộn cả lên. Những lần bầu cử ở Mỹ, bạn bè gọi điện thoại hỏi thăm mình về ông này bà kia, làm mình kinh ngạc vô cùng. Ngay cả dân Mỹ chính hiệu cũng không phải ai cũng đi bầu cử, càng không phải ai cũng tham gia đảng phái, sinh hoạt chính trị họp hành. Xưa nay vị tổng thống Mỹ nào mà đắc cử được số phiếu tầm hơn 1/5 dân số (70 triệu), hoặc là trên 60% dân số thuộc diện đi bầu, là cao ngất ngưỡng rồi. 

Tuy nhiên mình ngạc nhiên là có nhiều VK, thậm chí cả những người ở VN lại biết "rành rẽ" về nạn nhân bị ám sát, về chính trường của Mỷ, còn hơn cả những bạn bè bản xứ của mình. Đáng phục hơn nữa là có một số đồng hương VK sống tại Mỹ, mặc dù tiếng Anh tiếng u chưa rành lắm, nhưng đã phân tích tình hình chính trị đảng phái, cánh tả cánh hữu, lập ra nhiều kênh Youtube truyền thông, hoặc đọc báo mạng rồi phát tán mạnh mẽ cho đồng bào trong và ngoài nước. Sự nhiệt tình và thông thạo của họ còn hơn hẳn những nhà phân tích chuyên nghiệp. Ngẫm lại, dân VN ta nhiều người có năng khiếu đặc biệt về chính trị. Dường như ai cũng có ước mơ được công nhận và những nhu cầu đóng góp thầm kín !

Trở lại câu chuyện chính, anh bạn VK hỏi mình suy nghĩ thế nào về chuyện phân hoá chia rẽ cánh nọ cánh kia như tình hình hiện nay ở Mỹ. Mình nói - Anh hỏi nhầm người rồi, nhưng chắc là cũng giống chuyện xe lửa ở bên nhà :-). Anh hoảng hồn - Lại là chuyện xe lửa nữa hả ?

Thực ra thì hình tượng sân ga và đoàn tàu gần gũi với mình, nên dễ liên tưởng hơn. Còn chuyện chính trị chính em, cánh nọ cánh kia, thì xa vời với mình quá. Nhớ lại lúc còn ở VN, có một thời, hình ảnh quen thuộc của đất nước là những đoàn tàu chậm rãi nối liền hai miền Nam Bắc. Mỗi chuyến tàu không chỉ chuyên chở con người và hàng hóa, mà còn chở cả những câu chuyện thầm lặng, một người con xa xứ trở về quê hương, một đôi vợ chồng trẻ vào Nam lập nghiệp, những đứa học trò nhà quê đi thi, hay cụ già tóc bạc lần đầu ra Bắc thăm lại cố hương... Những gương mặt trên tàu, dẫu xa lạ, vẫn mang chung một nhịp thở của hành trình xuyên Việt, nơi ký ức và hiện tại hòa quyện vào nhau. Đoàn tàu đi qua những miền đất quen thuộc, ruộng đồng mênh mông, eo biển rì rào, núi đồi xanh thẫm, rồi lại lướt qua những đô thị rực sáng đèn điện, hay những xóm nghèo chen chúc. Ngồi trên toa tàu, người ta thấy đất nước mình trải dài, vừa gần gũi vừa rộng lớn. Có lúc, chỉ cần nhìn qua ô cửa kính, ta đã thấy như đi qua cả một đời người, từ tuổi thơ hồn nhiên ở miền quê, đến những chặng đường đời gấp gáp của đô thị, và những giây phút lặng im trước biển khơi dạt dào sóng gió.

Những đoàn tàu ấy, khởi đầu và kết thúc, cũng chỉ là những đoàn tàu, mục đích duy nhất là để chuyên chở con người và hàng hoá từ nơi nọ đến nơi kia. Nhưng rồi để có sự nhận biết, người ta bắt đầu đặt tên cho nó, tàu Thống nhất, tàu SE1, SE2, SE3, tàu nhanh, tàu suốt, tàu chợ, tàu ra Bắc, tàu vào Nam. Lần hồi, bắt đầu có sự phân biệt. Ví dụ như - lợi nhuận buôn bán khác biệt giữa tàu này với tàu kia, khách tàu Bắc-Nam khác với khách tàu Nam-Bắc, khách tàu chợ khác với khách tàu suốt .v.v... Sự phân biệt cứ thế hình thành và phát triển ra nhiều hướng khác nhau. Dạo ấy, những đoàn tàu tiện nghi còn chưa được như bây giờ. Nghe nói đến một cung đường nhất định nào đó, mọi đoàn tàu đều phải dừng lại để xả phân thải từ các bồn cầu xuống đường ray, rồi đi tiếp. (Chuyện này không biết bây giờ còn không, mình không kiểm chứng được). Có lần, bị dịch bệnh gì đó, nhiều người bắt đầu bức xúc, phân biệt kỳ thị, phản đối, cho rằng mỗi ngày có hàng ngàn tấn phân từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc. Phân của đoàn tàu này này nguy hiểm hơn phân của đoàn tàu kia, phân này xấu hơn, phân kia lây bệnh, phân nọ thối hơn ....v.v...và v.v ... 



Tất nhiên con người thì cứ phân biệt và bôi xấu lẫn nhau như một đặc tính cố hữu, nhưng đoàn tàu thì vẫn lặng lẽ làm nhiệm vụ của mình. Mỗi người bước lên tàu đều mang theo một điểm xuất phát, một hoàn cảnh riêng, không ai giống ai. Có người từng trải, có kẻ non nớt; có người đi để đoàn tụ, có kẻ đi vì mưu sinh... Sự khác biệt ấy là tự nhiên, và đa số biết chọn cách dung hòa, thích ứng. Bởi lẽ, không ai có thể vì những dị biệt ấy mà chém giết nhau, hay mãi mạt sát nhau. Nhưng cuộc sống vốn chẳng lý tưởng vậy. Luôn có những người không chịu được sự khác biệt. Họ thổi phồng nó lên, khai thác sự non nớt, sự ngây thơ, để lừa lọc, để mưu lợi cho bản thân hay cho một phe nhóm nào đó. Ngay cả khi đang ngồi chung trên một chuyến tàu, họ vẫn không ngừng so đo, rỉ rả chê trách: rằng chuyến tàu vào Nam tốt hơn chuyến tàu ra Bắc, SE1 tốt hơn SE2, toa này sạch hơn toa kia… Người chửi cứ chửi, kẻ lợi dụng cứ lợi dụng, người ngây thơ cứ tiếp tục bị gạt gẫm. Và đoàn tàu, vẫn mặc nhiên lăn bánh, không phân biệt đúng sai, không phán xét ai cả.

Mình nói với anh bạn VK của mình: “Đó, những chuyến tàu ngày xưa khiến tôi liên tưởng đến đảng phái, đến lề trái lề phải hiện nay tại Mỹ. Sự liên tưởng đó không nhất thiết là phân biệt hay chỉ dừng lại ở một quốc gia nào. Bởi mỗi dân tộc đều có những giai đoạn thăng trầm, những lần vấp ngã, những bài học xương máu để trưởng thành. Lịch sử xưa nay chứng minh rằng sự đồng thuận nhất thời của đám đông chưa hẳn là đại diện cho trí tuệ, thậm chí còn có thể gây ra hiệu ứng ngược, và hệ quả của những chọn lựa sai lầm đó hình thành những vết thương âm ỉ trong chính nội bộ đất nước họ. Câu hỏi đặt ra là - những người trong cuộc có nhận ra sự nguy hiểm tiềm tàng của các vấn đề phân hoá chia rẽ dân tộc đó hay không? Tôi tin là có. Nhưng liệu họ có vượt qua và thắng được chính tham vọng cá nhân, để đặt lợi ích chung lên trên không? Đó mới là câu chuyện lớn, và cũng là thách thức khó khăn nhất của bất kỳ quốc gia nào. Và cuối cùng phần quan trọng nhất, là ở những lúc đất nước bị chia rẽ hận thù như thế, người lãnh đạo có đủ tầm nhìn và khả năng lèo lái để hàn gắn sự rạn nứt, hay ngược lại càng khoét sâu vào những vết cắt của dân tộc?"

Anh nghe xong im lặng. Còn mình, bỗng nhiên nghĩ đến những câu thơ của Vũ Hữu Định ngày xưa ....

ngồi đường xe lửa chạy
gõ sắt buồn mênh mông
trước mặt ta biển lặng
sau lưng ta là rừng

mỗi ngày như chứng bệnh
ra ngồi nhìn đường tàu
hai con đường mút mắt
xuôi ngược buồn như nhau

ở đây không ai đi
ở đây không ai về
chỉ còn ta ở lại
lang thang ôm hồn quê

ở đây không còn nhà
chỉ còn ta với cỏ
còn những người dưới mộ
với lũ chim giang hồ

những ngày giặc không qua
ta đi tìm năm cũ
ngồi trên nền trường xưa
gỡ những màn rêu phủ

những ngày giặc không về
ta ra ngồi đường tàu
gõ sắt và đếm nhịp
so nhịp tim ta đau

những đêm vắng thật vắng
ta đi trong làng quê
tìm một con đom đóm
đốt sáng tình ủ ê ....
(VHD)

Thân chúc anh và bạn bè thân hữu một cuối tuần an vui .

PN