Friday, January 16, 2026

Bước chân bình an ....



Không nhớ rõ là đã bao nhiêu năm rồi, cứ đến tháng Chạp là mình về quê ăn Tết với Ba Má. Từ ngày Ba mất, mình lại về thường xuyên hơn. Và mỗi lần về quê là mỗi lần học được vài câu chuyện mới hoặc những kinh nghiệm đáng nhớ.

Mới năm ngoái, cũng tầm giờ này, về quê đi đến đâu cũng nghe người ta nói về chuyện “ông sư đi bộ”. Có lẽ đa số những người quen mình ít nhiều có quan tâm đến Phật giáo. Nhiều người hỏi mình cảm nghĩ như thế nào về chuyện “ông sư đi bộ”. Một số người còn cho rằng đó là một vị “Phật sống” thời nay. Thực ra thì mình cũng không biết trả lời sao, nên thường im lặng.

Thật là trùng hợp, năm nay cũng vào tháng này, lại có những nhà sư Phật giáo đi bộ vì hòa bình, “Walk for Peace”, ở Mỹ. Họ đi từ tiểu bang Texas, gồm 19 người cùng với chú chó Aloka, và dự định sẽ đến thủ đô Washington, D.C. Hôm kia, cô em họ của mình ở Cali đã nhanh chóng nhắn tin báo rằng hành trình của các nhà sư đã đi đến tiểu bang mình đang ở. Hành trình của họ ngày càng thu hút được nhiều sự chú ý của người dân Mỹ, đa số không phải là người theo đạo Phật. Trong năm qua, nước Mỹ có quá nhiều những biến động và sự kiện ồn ào xảy ra, phần lớn không đem lại sự bình an, thanh thản trong cộng đồng và xã hội. Điều đó càng làm cho nhu cầu tìm kiếm sự an lạc trong tâm hồn của con người tăng cao. Âu đó cũng là chuyện tất nhiên theo thuyết duyên khởi của nhà Phật - có cái này thì ắt có cái kia.

Tuy nhiên, rõ ràng có một sự khác biệt giữa hai sự kiện “nhà sư đi bộ” bên VN và bên Mỹ. Sự kiện đi bộ ở Mỹ chỉ mang ý nghĩa lan tỏa năng lượng tích cực, truyền tải thông điệp hoà bình, sống tử tế, tôn trọng nhau, bình đẳng sống trong xã hội. Và đơn giản chỉ có vậy.

Về mặt truyền thông xã hội, sự kiện "Walk for Peace" (đi bộ vì hoà bình) lần này không có (hoặc chưa có) các YouTuber giật gân, giật tít, phóng đại để câu view. Về mặt tâm linh, tới thời điểm này cũng chưa có cảnh người lạy lục, sờ chân, sờ áo, tranh nhau cúng dường, chụp hình chụp bóng, để mong được phước báu như ở VN. Và cũng có lẽ nhờ vậy mà việc đi lại của tăng đoàn đơn giản hơn, không ảnh hưởng nhiều đến chính quyền sở tại và các cơ quan truyền thông chính thống lẫn không chính thống :-).  

Nhân tiện, mình cũng mạn phép chia sẻ một vài ý kiến về vấn đề này mà trước đây chưa có dịp nói. Hơi dông dài một chút, nhưng phải quay lại một mẫu chuyện ngày xưa.

Gần 40 năm trước, một lần đọc cuốn sách của Thầy Abhinyana, thấy có câu trích dẫn: “When the iron bird flies and horses run on wheels, the dharma will come to the land of the red faces.” (Tạm dịch: Khi con chim sắt biết bay và những con ngựa chạy trên bánh xe, thì đạo pháp sẽ truyền đến đất nước của những người mặt đỏ). Mình hỏi Thầy câu đó có ý nghĩa là gì.


Khi ấy, Thầy không giải thích gì nhiều, chỉ nói rằng câu nói này có từ thế kỷ thứ 7 và được truyền thừa trong PG Tây Tạng. Sau này, khi đi qua nhiều nước, gặp được nhiều người, đọc và nghe nhiều hơn, mình dần dần hiểu ra phần nào ý nghĩa của câu nói này. Tất nhiên, cũng như bao câu nói hoặc kinh điển truyền thừa khác, mỗi người sẽ hiểu nó theo cách khác nhau và diễn giải khác nhau.

Trong Phật giáo, “pháp” không phải là thứ lý thuyết có thể thấu hiểu chỉ bằng ngôn từ, hoặc chỉ cần tin là đủ, mà là thứ để con người sống chung với nó và tự mình thực chứng. Tất nhiên trong cuộc sống đời thường, ngôn ngữ luôn cần thiết cho viêc giao tiếp truyền thông, nhưng trong đạo pháp nó lại gặp phải nhiều giới hạn khi diễn đạt những thứ sâu sắc hơn, hoặc những điều mà con người chỉ có thể nhận biết được bằng con đường tự thực hành và trải nghiệm. Đây cũng là một trong những điểm khác biệt căn bản và mấu chốt của PG so với nhiều tôn giáo khác, nhưng có lẽ cũng là một sự thật khó chấp nhận đối với một số người hiểu đạo Phật theo cách mê tín truyền thống thường thấy ở các nước Á châu. 

Ngày nay, Phật giáo xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Các nước như Mỹ, Anh, Đức, Úc… đều có nhiều người thực hành “Buddhism” (đạo Phật). Có nhiều chùa, thiền viện, trung tâm thực hành thiền định… được mọc lên. Sách vở, kinh điển PG cũng được dịch ra nhiều ngôn ngữ và được nghiên cứu sâu rộng, kể cả ở các trường đại học danh tiếng. Mấy tháng trước, mình cũng có dịp đọc qua một số tài liệu nói về việc khá nhiều người Do Thái thực hành đạo Phật, hình thành một “tông phái” mới gọi là “JewBu” (hoặc “Jubu”), kết hợp giữa hai chữ Jewish (Do Thái) và Buddhism (đạo Phật). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cái gọi là “đạo Phật” ở phương Tây chưa chắc hoàn toàn giống với “đạo Phật” ở Việt Nam, dù có cùng tên gọi là (Buddhism/Buddhist).

Nhiều học giả và nhà nghiên cứu tôn giáo không xem PG là một “tôn giáo” theo định nghĩa truyền thống, tức là phải có một Đấng giáo chủ, một Thượng đế tối cao, hoặc một hệ thống đức tin tuyệt đối để nương tựa. Ngay cả kinh sách PG ngày nay cũng là do các đệ tử của Đức Phật và các bậc Tổ đời sau truyền lại. Dù có nhiều cách diễn giải và phương pháp thực hành khác nhau, nhưng phần lớn đều cùng hướng đến một mục đích chung là dẫn dắt con người trên con đường giác ngộ, vượt qua vô minh, giải thoát khỏi khổ đau.

Dưới góc nhìn của nhiều người thực hành PG hoặc Phật tử phương Tây, PG mang tính thực nghiệm và khoa học, không nặng màu sắc thần linh mê tín, không dính mắc vào những khái niệm ban bố, thưởng phạt, mà là những phương pháp thực hành sống tử tế, tỉnh thức, từ bi và trí tuệ. Chính vì cách hiểu này mà PG ngày càng lan rộng ở phương Tây theo hướng diễn giải ấy.

Đức Phật ngày xưa cũng chưa bao giờ cho rằng mình là một Đấng Cứu Thế siêu nhiên, cũng không hề hứa hẹn sẽ cứu rỗi bất kỳ ai. Người ta tôn kính gọi Ngài là Buddha (Bụt), nghĩa là một đấng Giác Ngộ, một Người đã “thấy, biết” con đường diệt khổ, và chỉ dạy lại cho chúng sinh. Đơn giản là vậy !

Ngài cũng chưa từng yêu cầu người khác hay các đệ tử phải tin mình một cách tuyệt đối (tin mà không hiểu, hoặc tin mù quáng mà không thực chứng). Ngay cả trước lúc nhập diệt, Ngài còn nhắc nhở: “Vạn vật đều vô thường, mỗi người hãy tự thực chứng con đường giải thoát của mình, đừng dựa dẫm vào ai.” (Xin lưu ý rằng có nhiều bản dịch khác nhau về lời dạy cuối cùng này, nhưng nôm na ý chính là như vậy.)



Tuy nhiên, chính vì quan niệm và sự hiểu biết về PG khác nhau, nên cách thực hành và niềm tin của mỗi người cũng khác nhau. Vì vậy, thiết nghĩ không nên phân định ai đúng ai sai, mà mỗi người (nếu quan tâm) nên tự chiêm nghiệm lời chỉ dạy của Ngài bằng những trải nghiệm đời sống của chính bản thân. Chỉ mong được thế !

Sở dĩ mình dài dòng như vậy là vì tuy cùng thực hành “đạo Phật”, nhưng nếu không thấu đáo, e rằng khi nhìn sự việc dưới cái “biết” của người này, lại thấy người kia sai trái, khác thường. Còn nếu đã nói là “theo” đạo Phật mà cứ mãi lý luận, tranh cãi, giảng thuyết, hay tranh chấp phê phán lẫn nhau, tông này phái nọ, giới này hạnh kia, thì chẳng khác nào chúng ta đang mải mê bàn luận về những ngón tay chỉ trăng mà chưa hề nhìn thấy trăng. Mà mặt trăng thì vốn chỉ có một, còn ngón tay chỉ trăng thì vô vàn !

Đạo Phật không nằm ở việc rành rẽ kinh điển hay thuộc lòng lý thuyết, cũng không nằm ở việc chạy theo tông phái pháp môn nào, mà nằm ở sự tỉnh thức, thực hành, và trải nghiệm tự thân của mỗi người. Đạo Phật cũng không dựa vào hình tướng, chức sắc, bằng cấp, hay tri thức có được, mà dựa vào khả năng buông bỏ được những thứ đó.

Cũng không ai bám chấp vào một “giới” hay một “hạnh” nào đó, rồi mong mình trở thành Phật. Bởi “giới”, "hạnh" cũng chỉ là phương tiện, là những tấm khiên để ngăn bớt "trouble", ham muốn, nhiễu loạn... trên con đường tu tập, giống như trong toán học đó là điều kiện cần, chứ không phải là điều kiện đủ. Ngày xưa, trước khi giác ngộ, Đức Phật cũng đã thử qua nhiều phương pháp, trong đó có cả lối tu ép xác, giữ giới nghiêm mật đến kiệt sức, suýt chết, trước khi Ngài thấy ra con đường Trung Đạo.

Một người đi tu để mong đắc được quả này quả nọ, đạt “chánh đẳng, chánh giác”, hay thậm chí để “thành Phật”, thì đôi khi lại càng khó khăn hơn, vì thật ra chẳng có ai để mà “đắc”, cũng chẳng có gì để mà “trở thành”. Nhiều vị thiền sư, chân tu, đắc đạo ngày xưa đi tu không phải để “trở thành” ai đó, mà là để “trở về” với cái chân như, cái "tánh biết" vốn sẵn có trong chính họ. Giữa cuộc sống đời thường, người giác ngộ thấy rõ chân tướng của sự vật, bản chất vô thường vô ngã của cuộc sống, thấy rõ đâu là mục đích, đâu là phương tiện; đâu là chân đế, đâu là tục đế, nên họ hòa mình vào đời sống mà không bị cuốn theo mớ bòng bong đó. Lịch sử VN cũng không hiếm những con người như vậy, như Sư Vạn Hạnh, Sư Tiêu Dao, Tuệ Trung Thượng sĩ, Phật hoàng Trần Nhân Tông… Và có lẽ còn rất nhiều bậc giác ngộ khác đã từng sống rất bình thường mà không cần ai phải biết đến. 

Còn chuyện "nhà sư đi bộ" thì đã có từ hàng ngàn năm trước, không phải là điều mới lạ. Ngày xưa có nhiều nhà sư PG đi bộ từ TQ sang Ấn độ và ngược lại, trước cả thời của Ngài Huyền Trang. Trước đó nữa, cũng có nhiều hành giả đi từ Ấn độ sang các nước Tích Lan, Miến Điện... truyền pháp. Và nhiều người trong số họ, đã hy sinh nằm xuống vô danh trên hành trình khổ hạnh. Ngay cả ở VN cũng có nhiều nhà sư PG đi bộ, đi ghe, từ TQ sang, và sáng lập ra những tổ đình ngày xưa. Ngày nay cũng vậy, ở những đất nước có sự hiện diện của PG, hình ảnh các nhà sư phát tâm đi bộ cũng không phải là chuyện hiếm hoi lắm. Tuy nhiên, ai cũng hiểu rằng những hành trình tu tập gian nan đó không hề hứa hẹn hoặc cam kết họ sẽ "đắc đạo", hoặc họ sẽ tự động trở thành một vị "Phật sống", hoặc sẽ thoát khỏi vô minh, đoạn diệt luân hồi, chấm dứt khổ đau.... Bởi đó cũng chỉ là những phương tiện bên ngoài, những hạnh nguyện hoặc giới luật mà họ chọn lựa để giúp họ trên con đường thực hành tu tập, còn sự giác ngộ thực sự (cái "thấy", cái "biết") vốn đến từ "trí tuệ" bên trong của mỗi người !

Và bên cạnh đó thì cũng không hiếm những người tưởng mình đã "đắc đạo" hay "giác ngộ”, rồi vô tình gây ra nhiều hệ lụy cho chính bản thân, và cho những ai dễ dàng tin theo hoặc sùng bái họ. Vì vậy, một trong những câu nói cuối cùng của Đức Phật là “Work out your salvation with care.” (tạm dịch: Hãy lo liệu việc giải thoát của chính mình với sự cẩn trọng). Câu này vốn được dịch ra từ tiếng Phạn, và có một số trung tâm nghiên cứu PG trên thế giới đã luận giải rất hay về ý nghĩa của chữ “care” (sự cẩn trọng) trong câu nói này.

Thôi, quay lại chuyện mấy nhà sư đi bộ một chút. Mình thì thích nhất là chú chó Aloka đi theo đoàn. Từng là một chú chó hoang, chân cẳng yếu, từng bị thương, nhưng vẫn kiên cường trên mọi nẻo đường vì hoà bình :-). Trước đó, chú cũng đã từng đi ở Ấn Độ sau khi có “duyên” hội ngộ với các nhà sư. Trộm nghĩ, nếu chuyện này xảy ra ở Việt Nam, thì chắc ít nhất cũng đã có vài câu chuyện tâm linh kiểu “oan gia trái chủ”, hay "thần thánh đầu thai" hộ pháp gì đó... xoay quanh chú chó Aloka này rồi :-) .

Suy cho cùng, năng lượng tích cực vốn là nguồn vô biên, không dành riêng cho ai, mà cũng không giới hạn cho bất kỳ loài sinh vật nào. Thực tế thì con người cũng chưa chắc luôn mang lại năng lượng tích cực cho nhau, mà lắm khi còn ngược lại. Nhắc đến chuyện này, mới nhớ rằng ngay tại Mỹ trong thời gian gần đây, có những nhóm người đi đến đâu mang theo năng lượng tiêu cực phủ khắp mọi nơi, tạo nên không khí bất ổn và bạo lực, gieo rắc nỗi sợ hãi. Có lẽ vì vậy mà hành trình của chú chó Aloka và các nhà sư càng trở nên nổi bật và cần thiết hơn. Trên mạng hiện nay cũng có nhiều bài hát về chú chó Aloka do AI sáng tác, nghe rất hay.


Vài ngày nữa, tăng đoàn sẽ đi ngang qua đây. Chắc mình cũng ra chào đón các nhà sư và chú chó Aloka. Mấy hôm nay và tuần tới nhiệt độ xuống rất thấp. Lạnh lẽo quá, cầu mong mọi điều tốt lành đến với họ.

Cũng thân chúc các bạn và anh chị em một cuối tuần an vui.

PN

No comments:

Post a Comment

Comments: