Thursday, June 17, 2021

Tản mạn về "Từ thiện" ...

 


Gần đây trên mạng xã hội VN rầm rộ những câu chuyện đấu tố "từ thiện". Xấu có tốt có, đem ra khai tội lẫn nhau dưới nhiều hình thức trần trụi. Đó là thói quen thường gặp. Tất nhiên đại đa số những người tham gia trên mạng cũng chỉ là nghe đi nói lại, chẳng ai là quan toà có đầy đủ chứng cớ, nên chỉ biết được một phần của vấn đề. Và cũng chẳng ai có quyền bào chữa hoặc khả năng lý luận trước một đám đông hùng hậu đến thế. Chợt nhớ đến câu chuyện người đàn bà bị ném đá trong kinh Thánh. Cuối cùng thì đúng sai không rõ, nhưng chắc chắn sẽ làm cho nhiều người ngán ngẩm sự tình và ít nhiều có những ảnh hưởng đến các hoạt động "từ thiện" về sau, đặc biệt là trong giới văn nghệ sĩ. Mình thì nghĩ rằng người hiểu biết đúng đắn về đạo lý của "từ thiện" chắc chắn sẽ không có những ứng xử như vậy !

Nhân đây mình cũng muốn chia xẻ một vài ý nghĩ cá nhân về việc "làm thiện". Tất nhiên chỉ là những suy nghĩ tản mạn, đúng sai tuỳ người cảm nhận. Đọc cho vui thôi :-)

Lâu nay có một số người cho rằng nguồn gốc của các hoạt động từ thiện xuất phát từ tôn giáo, và những quan niệm nhân quả báo ứng hoặc phúc đức công đức .v.v.. Điều này thì mình không rõ lắm, nhưng có một điểm chắc chắn là tôn giáo nào cũng dạy tín đồ của họ sống tử tế, làm thiện làm lành. Và cũng chính vì quy luật nhân quả, nên bao giờ những người sống thiện lành cũng chính là người đầu tiên được hưởng những kết quả tốt đẹp từ công việc làm của họ. Còn quy luật nhân quả là của vũ trụ, không phải do ai tạo ra mà cũng không thuộc sỡ hữu của bất kỳ một tôn giáo nào.

Tuy nhiên, không phải ai cũng quan niệm vấn đề như vậy và có tư duy hiểu biết giống nhau, nên mới xảy ra nhiều thứ ngộ nhận trong cuộc sống và các mâu thuẩn từ đó hình thành. Đại đa số những cá nhân và tổ chức từ thiện đều hoạt động rất tốt, và ngày càng có nhiều ảnh hưởng tich cực đối với đời sống xã hội. Nhưng bên cạnh đó cũng có một số vấn đề làm ảnh hưởng đến tình trạng chung. Có một số người quan niệm làm thiện như một sự ban phát, khai ân, nên chờ đợi những quyền lực, đặc ân hoặc sự tôn vinh kính trọng, thậm chí sự tôn sùng từ những người nhận hoặc xã hội chung quanh. Khi không được như ý, sinh ra bức xúc, bất mãn, thậm chí còn cắt đứt dây chuông, hoặc chửi bới doạ nạt đòi lại… Một số người khác có quan niệm giá trị của việc từ thiện là được quy ra "thóc", nên tính toán hơn thua, so đo những giá trị đóng góp làm tổn thương người khác. Thậm chí có một số ít chờ đợi thiên hạ (hoặc Phật, Chúa, Trời, Diêm vương ...) ghi nhận công đức của họ theo cách nghĩ như thế. Không được như ý, thì cũng sinh ra lắm phiền toái cho bản thân họ và cho người khác. Trong khi đó thì những người chung quanh không phải ai cũng có đủ dũng khí và khả năng để nói lên những sự thật hoặc lời góp ý chân thành về những ứng xử lệch lạc của họ. Bên cạnh đó thì cũng có những hiện tượng xưng tụng thái quá, hoặc một số vấn đề tiêu cực dẫn đến việc con sâu làm rầu nồi canh….v.v..Và cứ thế lần hồi những công việc từ thiện cao cả lại trở nên phức tạp hơn vì sự lẫn lộn giữa những chờ đợi và ứng xử khác nhau của nhiều cá nhân hoặc tổ chức. Điều đó đôi lúc làm khó khăn hơn cho những người có lòng làm thiện chân chính. Mặt khác, do những yếu tố văn hoá đặc thù của từng địa phương mà người dân mỗi nơi có những quan niệm khác nhau về hoạt động từ thiện và giá trị cống hiến của nó đối với con người và xã hội. Nên không phải chỗ nào cũng có ứng xử như nhau.

Nói đến việc làm thiện làm lành, trong PG có một khái niệm rất quan trọng, đặc biệt là đối với những người nghiên cứu đi sâu vào con đường thực hành đạo pháp. Tiếng Anh gọi đó là "Six Paramitas", hoặc "Transcendent perfections", tiếng Việt dịch ra là Lục Ba la mật (có một số sách dịch là Lục độ Ba la mật). Chữ mật ở đây không liên quan gì đến bí mật hoặc phù phép pháp thuật nào cả. Có thể chỉ là cách phiên âm từ tiếng Phạn ra TQ, rồi TQ sang VN từ thời xa xưa. Dĩ nhiên ở các nước Á đông, vốn có truyền thống PG lâu đời, nên được thuyết giảng về nhiều phương tiện tu tập khác nhau. Ngôn từ cũng đa dạng phong phú, và khó hiểu hơn, vì được diễn giải theo nhiều cách riêng khác nhau. Còn bên Tây phương, thì kinh sách viết theo tiếng Anh (English) nên chữ nghĩa trực tiếp hơn, đơn giản hơn, phù hợp với những người có ít vốn liếng kiến thức PG như mình. Tóm lại, Lục Ba la Mật (Six paramitas) là 6 tiêu chí tu tập cần thiết nhất cho một người muốn tìm đến sự giác ngộ của bản thân. Bên PG Nam truyền (Theravada) quan niệm là có 10 paramitas, thay vì là 6. Thực ra thì cuối ngày cũng là những phương pháp thực hành giống nhau. Đây là những lý thuyết căn bản của PG, mặc dù đơn giản nhưng là mấu chốt trọng tâm nhất của việc tu tập. Bạn nào muốn đọc thêm, thì có rất nhiều tài liệu trên mạng. Các trường đại học lớn trên thế giới đều có nhiều tài liệu về lý thuyết PG này. Ví dụ như đại học lâu đời nhất của Anh, Oxford, trong thư khố Oxford Bibliographies, luôn có những tài liệu hoặc bài viết về "Six Paramitas". 

Trong phạm vi bài viết này, mình chỉ muốn nói đến cái ba-la-mật đầu tiên (1st paramita), đó là nói về Bố thí ba-la-mật-đa (tiếng Sankrit là danaparamita; tiếng Anh tạm dịch là perfection of giving, hoặc là generosity). 

Nôm na thì bố thí được định nghĩa là khả năng mở lòng để cho đi hoặc thiện chí để dâng hiến, mà không chờ đợi sự hồi báo. Bố thí được chia ra thành 3 loại:

1. Tài thí: là cho đi bằng tiền của, hiện vật, công sức... (như đại đa số các vị làm từ thiện ngày nay)

2. Pháp thí: là đem sở học sở đắc của mình mà hướng dẩn, giáo dục, thuyết pháp, truyền giáo, giảng giải đạo pháp, đạo làm người…cho kẻ khác.

3. Vô uý thí: là che chở hoặc bảo vệ trực tiếp hoặc gián tiếp các sinh linh yếu đuối, khờ khạo, ngây ngô, bất lực ... trước những bạo lực, cường quyền, sự sợ hãi và những chết chóc tai ương. Hy sinh và sẵn sàng cam chịu thiệt thòi bản thân để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa, giúp sinh linh thoát cảnh sợ hải, lo âu ...

Một số kinh sách cho rằng đó là 3 cấp bậc bố thí từ thấp đến cao. Mình thì không nghĩ là vậy. Có thể không có sự đo lường về mức độ công đức cao thấp, nhưng có nói về mức độ khó dễ trong thực hành. Nhiều người thường giảng giải Bố thí Ba-la-mật-đa vừa làm lợi ích cho người, vừa làm lợi ích cho mình. Theo mình thì việc “lợi ích" cho người, cho xã hội, cho nhân loại ... thì dĩ nhiên ai cũng nhìn thấy được. Nhưng khái niệm “lợi ích" cho chính bản thân thì khó nhận ra hơn, mặc dù đây mới là điều mà những người tu học muốn hướng tới. Bởi vì chính sự bố thí đúng nghĩa mới là liều thuốc hoá giải mọi sự chiếm hữu và tham lam, bủn xỉn và bần tiện, kiêu ngạo và ích kỷ ...Đưa họ từng bước tiến đến gần hơn với sự giác ngộ và tỉnh thức !

Tuy nhiên là trong mọi vấn đề, mọi lý thuyết đều có tính hai mặt của nó. Tỉnh hay mê, thiện hay ác, nặng hay nhẹ, có khi cũng chỉ là những đường ranh rất mỏng. Vượt quá giới hạn đó lại trở thành một ý nghĩa khác. Mình không phải là những nhà tu hành, càng không phải là các nhà nghiên cứu đạo pháp, hoặc các bậc cao nhân tri thức ... nên một lần nữa, đây chỉ là những hiểu biết trong giới hạn hiểu biết nhỏ bé của mình.

Thứ nhất nói về "Tài thí", quả nhiên là đơn giản nhất. Có công, có của, có lòng ... cho đi. Làm từ thiện, đi cứu trợ, quỹ tình thương, quỹ hổ trợ, quỹ học bổng, làm nhà tình thương, làm cầu, làm trường, bữa cơm có thịt, cái mền, cái áo, xây chùa, xây miểu ...v.v.. Tuy nhiên, đối với hạnh bố thí, thì sự "giàu có" không chỉ là dựa trên phương diện vật chất và tiền bạc, mà còn dựa trên khía cạnh tinh thần, thiện chí, sự khiêm cung, và quan trọng nhất là lòng yêu thương. Vì thế, mỗi người chúng ta đều có những thứ để cho, để hiến dâng cho kẻ khác. Bố thí Ba-la-mật không tùy thuộc vào giá trị vật chất quy ra "thóc”, mà chính là khả năng mở lòng cho đi, sự thấu hiểu và đồng cảm, lòng thương yêu chia xẻ với những kẻ khốn cùng hoặc nỗi đau lâm nạn. Vài chục tỉ của một đại gia (làm giàu chính đáng hoặc không chính đáng) so với vài ổ bánh mì của người nghèo hoặc bữa ăn cuối cùng của người ăn xin, chưa biết giá trị nào thực sự lớn hơn. Mà chắc cũng chẳng có Phật Chúa nào đo lường chuyện đó, chỉ có bản thân họ cảm thấy an lạc và hạnh phúc như thế nào mới là quan trọng. Đó là giá trị lớn nhất và cũng là những hạt giống karma seeds quý báu mà họ vừa gieo trồng trong mảnh vườn A-lại-da-thức của họ. Còn dẫu có lên đài, lên TV, lên youtube khoe khoang, thì chắc cũng không đem lại cho họ lợi ích gì, ngoài những phiền toái thị phi, hoặc những xưng tụng có tính chất tạm thời, phe phái. Có những người rất nghèo khó, buôn gánh bán bưng, chạy xe ôm, khuân vác hàng ngày, không có vốn liếng, không học thức, nhưng họ có thể bật khóc thông cảm trước cảnh khổ đau và cơ hàn của kẻ khác. Ngoài tình thương ra, họ chỉ có gói mì, ly nước, hoặc thậm chí không có tài vật gì để hiến dâng, nhưng chính lòng yêu thương đó cũng là sự bố thí đáng kính vậy.

Tuy nhiên, thực tế cuộc sống thì bố thí không phải chỉ đơn giản cho đi là xong việc. Nhiều người phát tâm " tài thí" đôi khi còn phải chịu đựng những thị phi, đố kị, ganh ghét, của thiên hạ chung quanh. Cũng là lẽ thường, thậm chí có lúc còn phải bị mang họa vào thân, hoặc nhận lãnh cả sự thù hận, mới hoàn thành được ý nguyện thiện lành của họ. Chưa hết, nhiều người làm từ thiện mà phải dấu diếm vì sợ người đời đánh đồng cá mè một lứa, nghi kị hiểu lầm động cơ từ thiện của họ. Bởi vậy cũng không hiếm những trường hợp có người chịu đựng không nổi những áp lực nghịch lý, hoặc không vượt qua được ải "thị phi" của thiên hạ chung quanh, đành ngậm ngùi gác kiếm không làm từ thiện nữa. Tức là chính họ đã thua cuộc trước cái mục đích hạnh trì cao cả của họ. Rớt từ vòng gởi xe :-). Bên cạnh đó, cũng có một số người động cơ chính của việc làm từ thiện là mong được hồi báo phúc đức, cho con cho cháu, kiếp này hoặc kiếp sau. Vô tình họ lại làm giảm thiểu đi cái ý nghĩa thực sự của việc "cho đi", mong cầu một gắn bó mới (attachment) sẽ đến. Nói tới đây mới nhớ tới thời mình về VN đi làm, gặp những ông anh cùng quê, rất nặng lòng với quê hương. Bao nhiêu năm qua, không hề mệt mỏi, bền bĩ, thầm lặng giúp đỡ quê nhà, chẳng mong gì sự hồi báo. Cho gạo, cho tiền, lập quỹ hổ trợ, xây trạm xá, xây trường học, giúp đỡ đồng bào, ngư dân. Chắc hẳn cũng có những lúc họ phải trãi qua nhiều thị phi, khó nhọc, nhưng chưa hề dừng bước. Rất khâm phục tấm lòng của các anh ấy.

Ở một số quốc gia đang phát triển, có nhiều nhà tỉ phú nổi lên nhanh chóng do các khe hở của luật phát và chính sách. Bên cạnh sự giàu có của họ, luôn tồn tại những thiệt hại và khổ đau của nhiều người dân lương thiện khác. Một số người khôn khéo trích khoản phần nhỏ ra để làm “từ thiện” xoa dịu lương tâm cho bản thân, bù đắp hoặc trấn an cho thiên hạ, hoặc đánh bóng tên tuổi. Đó không phải là ý nghĩa của bố thí trong paramitas. Ngoài ra cũng có nhiều sự bố thí khác cao cả hơn, như hiến dâng một phần thân thể, hay cả mạng sống của họ vì sự an vui và sinh tồn của kẻ khác gọi là Đại Bố thí. Trong lịch sử nhân loại, không hiếm những cá nhân, các chư vị tăng ni tu sĩ, hoặc các vị thánh tử đạo của Thiên chúa giáo ... đã từng hy sinh tự thiêu để đánh thức lương tâm của kẻ khác trước những ý đồ vô minh đen tối. Nhưng bên cạnh đó, thì cũng có những con người do xuất phát từ lòng hận thù, cuồng tín, vô minh, hoặc vì những mục đích chính trị khác, tự hy sinh hoặc xúi giục người khác hy sinh gây ra những hành vi bạo động làm thiệt hại sinh mạng kẻ vô tội khác, làm rối loạn xã hội, vụ lợi cho cá nhân hoặc cho tổ chức. Đó càng không phải là hạnh bố thí. Cho nên có nhiều hành vi hoặc hành động hoàn toàn giống nhau nhưng xuất phát từ những động lực khác nhau, thì lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó cũng là những khả năng thông hiểu của trí huệ con người được nói đến ở những phương pháp “ba-la-mật" (paramitas) kế tiếp.

Thứ hai, nói về Pháp thí. Nghĩa là nói đến sự cống hiến, tri thức cho đi của các bậc truyền giáo, thuyết pháp, giáo dục, khai ngộ cho kẻ khác. Đây là một việc làm khó khăn, đa dạng và phức tạp hơn nhiều. Đồng nghĩa với khái niệm nước có thể nâng thuyền thì cũng có thể đắm thuyền. Truyền bá đạo pháp, không đúng có thể huỷ diệt đạo pháp, đưa xã hội vào thời kỳ mạt pháp. Cho nên nói về Pháp thí là nói về những mục đích và phương tiện khác nhau. Thuyết giảng và truyền bá đạo pháp hoàn toàn lệ thuộc vào trí tuệ, khả năng, và duyên nghiệp của người giảng và người nghe. Chữ "duyên nghiệp" ở đây nói cho đơn giản một chút là sự kết hợp của những điều kiện "cần và đủ" như trong toán học, bao gồm cả cái Ngã, cái vô minh của đôi bên. Mình không dám nói nhiều về phạm vi này, vì đây là một vấn đề tế nhị, khó diễn đạt. Nếu nói không đủ ý, nhất là trong phạm vi của một vài phiếm luận ngắn, dễ gây ra sự hiểu lầm và trịch thượng. Và đó cũng chính là một thứ duyên nghiệp của mình vậy :-) . 

Đại khái, nhiều người đến với tôn giáo, đặt hết niềm tin của họ vào đó. Nhưng đôi khi có sự nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích, nên bị lôi cuốn vào những giá trị ảo của hình thức nghi lễ bên ngoài mà lại ít chú trọng vào bản chất nội dung bên trong, dẫn đến những ngộ nhận đáng tiếc. Bên cạnh đó cũng có nhiều trường hợp hiểu lầm về đạo pháp gây ra do sự giảng giải và hướng dẫn lệch lạc của một số chư vị tu tập nhưng hiểu biết không thấu đáo dưới màu áo tu sĩ. Có thể là do khả năng hoặc kiến thức, do ngã chấp nặng nề, hoặc vô tình, hoặc cố ý vì những mục đích riêng tư khác nhau, nên dẫn dắt đức tin của người khác đi vào chỗ mê tín dị đoan, bùa phép ma thuật, oan gia trái chủ v.v. Và cũng vì ngộ nhận chánh pháp nên mưu cầu và hứa hẹn những điều không có thực. Thậm chí còn quay cuồng trong những chuyện hơn thua tên tuổi, vọng tưởng công đức, so đo công trạng .v.v..Vô tình ngày càng đưa mình đưa người vào những ngõ rẽ vọng tưởng, xa rời chánh pháp và sự giác ngộ. Tất nhiên trong cuộc sống này thì vẫn luôn có nhiều chư vị tăng ni, những bậc tri thức, cư sĩ, thiện nam tín nữ đầy đủ phẩm chất, trí huệ sáng ngời, đạo đức khiêm cung, kiến thức rộng lớn, sẵn sàng dạy dỗ và hướng dẫn kẻ khác đi theo con đường phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của mỗi người. Tuy nhiên, ai cũng vậy, thường sẽ không biết cái mà mình không biết. Ai cũng có những bộ lọc riêng cho mình, nên thường có xu hướng tìm nghe những gì mình thích nghe, tìm thấy những gì mình thích thấy. Không ai ngoại lệ cả, trừ khi sự hiểu biết và tu tập của họ đã thực chứng trải nghiệm và vượt qua những nấc thang trở ngại này rồi. Âu đó cũng là những câu chuyện dài trong cuộc sống!

Thứ ba, nói về "Vô úy thí" (abhayadana). Nghĩa là nói đến sự che chở và bảo vệ trực tiếp hoặc gián tiếp những sinh linh (người & vật) yếu đuối, khờ khạo, ngây ngô, không phương tiện tự vệ trước những bạo lực, lo âu, sợ hãi và chết chóc. Nhiều người dùng trí tuệ, tài lực, và ngôn ngữ của họ khuyên bảo an ủi động viên kẻ khác vượt qua những thời khắc khổ đau nhất hoặc khó khăn nhất. Đại khái là như thế, nhưng theo thiển ý của mình, đây là cấp bậc bố thí cao hơn và là sự kết hợp của hai dạng bố thí trước. Nhiều chùa chiền Bắc truyền ở VN đều thờ cúng Bồ Tát Quan Âm "cứu khổ cứu nạn". Có lẽ là biểu tượng của hình thức bố thí "vô úy thí" này. Để che chở hoặc bảo vệ cho sinh linh thoát khỏi cảnh khổ đau và sợ hãi cùng cực, có lẽ không còn ranh giới giữa "tài thí" hoặc "pháp thí" nữa, mà cần có một hành vi hoặc trạng thái tự nhiên hơn. Có thể phải đòi hỏi một khả năng kết hợp nhiều yếu tố khác nhau để thực hiện công việc hiệu quả. Mặt khác cho dù nhiều người rất có thiện tâm, nhưng “vô úy thí” đôi khi không phải là những việc làm dễ dàng như cho đi một món đồ. Thậm chí có thể phải hy sinh cả cuộc đời hoặc bị ảnh hưởng lâu dài đến nhiều thế hệ. Như trong đời sống hàng ngày, có lúc chúng ta nhìn thấy những nghịch lý gây ra biết bao nhiêu hệ lụy khổ đau phiền muộn cho người khác, nhưng không phải ai cũng có đủ dũng khí, bản lĩnh, và khả năng để thay đổi được những nghịch lý đó. Hoặc có lúc chỉ vì một ít quyền lợi riêng tư, hoặc sự yên ổn của bản thân và gia đình, mà nhiều người đành phải chọn lựa giải pháp quay lưng với một số sai phạm, mà đúng ra họ phải đấu tranh để bảo vệ cho kẻ yếu .v.v... Bản thân chữ Abhayadana có nhiều ý nghĩa sâu sắc trong các ngôn ngữ cổ xưa như Jainism, Prakrit, Hinduism, Sanskrit, Marathi. Bạn nào muốn tìm hiểu nên đọc thêm nghen. Thực ra, ngày càng già đi, mình mới hiểu ra rằng có nhiều thứ càng nói càng thiếu (hoặc càng sai). Chỉ có sự im lặng, suy gẫm, và tự nhiên cái hiểu sẽ đến !

Cũng không biết có phải vì lý do đó, mà nhiều vị thiền sư PG ngày xưa không chọn con đường thuyết giảng để truyền thừa đạo pháp cho các thế hệ sau. Nhiều vị còn chọn phương cách “vô ngôn”. Nhìn lại lịch sử PG VN hôm nay, rất nhiều tổ đình tên tuổi như Từ Hiếu, Từ Đàm, Thiên Ấn ..và các vị cao tăng thiền sư tên tuổi như Tịnh Khiết, Huyền Quang, Nhất Hạnh ... đều xuất phát từ tông Lâm Tế. Mà ngài tổ sư của tông Lâm Tế là Lâm tế Nghĩa Huyền có một câu nói rất nổi tiếng..."Đừng có bị lôi cuốn vì những cái áo. Có cái áo thanh tịnh, có cái áo vô sanh, áo bồ đề, áo niết bàn, áo Tổ, áo Phật. Các ông có biết cái người mặc áo không? ”. Tất nhiên ai cũng hiểu điều mà Ngài muốn nói đến là - Chúng ta thường chỉ nhìn thấy những cái áo mà không biết “người” mặc cái áo đó ra sao. Thấy được "người" mặc những cái áo đó mới chính là điều mà Ngài muốn chỉ cho chúng ta biết. Thế nhưng thời nay biết bao nhiêu người làm được chuyện đó. Và "từ thiện" lúc nào cũng là một chiếc áo đẹp !

Dông dài thêm một chút, VN mình lâu nay luôn cảm thấy may mắn và tự hào về tông thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thiền Trúc Lâm Yên tử đã trở thành một biểu tượng tôn giáo và văn hoá hàng đầu của PG VN. Còn Tết nhất lễ hội, cúng mâm cúng quả, cầu phúc cầu tài thì khỏi nói rồi. Cả nước hiện nay có biết bao nhiêu chùa chiền thuộc nhánh Trúc Lâm, và có rất nhiều chư vị tăng ni, thiền sư khả kính, trí tuệ uyên bác. Và khi nói đến dòng thiền Trúc Lâm, ai ai cũng nói đến công lao của vị vua khả kính Trần Nhân Tông sáng lập ra. Tuy nhiên ít người nhắc đến Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, anh cả của Đức Thánh Trần Trần Hưng Đạo, và là người đã dẫn dắt, dạy dỗ vua Trần Nhân tông vào con đường tu học đạo pháp. Ông có viết quyển "Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục", do chính vua Trần Nhân Tông đích thân ghi lại. Rất hay, nhưng sau này cũng ít khi nghe người ta nhắc đến !

Ngài Tuệ Trung Thượng sĩ là học trò của nhà sư Tiêu Dao. Trong cuốn "Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục", ông có kể lại rằng khi ngài Tiêu Dao (thầy của ông) đến nước ta để truyền giảng đạo pháp, Ngài ở trần không mặc áo, tay cầm cần câu không lưỡi, ngang nhiên đi vào kinh thành nhà vua. Hồi trước đọc tới đó, mình nghĩ cũng may mắn cho VN ta là Ngài Tiêu Dao sinh vào thời đó. Chứ nếu Ngài xuất hiện ở thời này mà không mặc áo, đi chân đất, lại không có chức danh, không trụ trì chùa nào, làm sao có cửa vào phủ chủ tịch ?

Biết ơn duyên lành !

PN

Friday, June 04, 2021

Giàn thiên lý đã xa .....


Mấy hôm nay nghe anh D kể lại thời thơ ấu, tự nhiên mình cũng đâm ra nhớ nhà. Hai thế hệ cách nhau khá xa, thời ảnh đi du học bên Tây thì mình mới vô mẫu giáo. Vậy mà vẫn còn đó
như in những địa danh, những con đường, và ngày tháng của một thời đã xa ...

Nào là Ngã Tư chính, nhà máy nước, phòng đọc sách, trường Mai Xưa, Tạ Từ đường, chợ Trời, cây xăng trong, cây xăng ngoài, tiệm giặt ủi, tiệm bán vé máy bay bà K, trường Chấn Hưng, Bồ đề, TQT .....cho đến những trò chơi xập xám, các-tê, bài cào ăn bao thuốc lá. Đúng là trí nhớ của anh giỏi thiệt. Chứng tỏ mấy cô gái châu Âu tóc vàng mắt xanh và "...chốn thành đô nhà cao cửa rộng" không đủ khả năng làm cho anh quên được hủ mắm cái quê nhà :-). Khâm phục !

Nhìn lại, quả nhiên thời gian qua nhanh thậtNhững câu chuyện anh kể nghe mới như hôm qua mà nay đã hơn nửa thế kỷ. Cũng nhân nhắc đến chuyện xa nhà nhớ quê, nhớ làng, nhớ bạn bè, nhớ người "em gái hậu phương", mình nhớ tới bài hát "Giàn thiên lý đã xa". 

Thời còn đi học, ở ký túc xá. Tối tối nhớ nhà, vài ba đứa rủ nhau ôm đàn ra ngoài hiên hoặc leo lên sân thượng, chuyền tay nhau từng điếu thuốc củi, ngồi đàn hát vu vơ .... Thời đó nhạc vàng thì phải nghe lén, nhưng nhạc tây 70+ thì vẫn còn thịnh hành. Vẫn còn Eagles, Abba, Bee Gees, Queen, Boney M, Carpenters, Lobo...v.v...Nhưng da diết và "nẫu ruột" nhất vẫn là bài "Giàn thiên lý đã xa" !

Mà nói tới thì phải ngã mũ khâm phục ông nhạc sĩ Phạm Duy. Từ một bài "Scarborough Fair" xa lơ xa lắc như vậy mà làm sao ông có thể đặt ra những lời nhạc "đốn tim" như thế ? Mình đã từng nghe đi nghe lại bao nhiêu lần Simon & Garfunkel hát Scarborough Fair. Hay thì có hay, nhưng đối với mình thì không thể "phê" bằng Thanh Lan hát "Giàn Thiên lý đã xa" được :-)....

Tội nghiệp thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà

Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa 

Đứa bé lỡ yêu, đã lỡ yêu cô em rồi 

Tình đã quên mỗi sớm mai lặng trôi ...

Còn chuyện "nhớ thương mãi quê nhà", thì có khi chưa hẳn là nhớ mẹ nhớ cha, mà chỉ nhớ vu vơ vài em nào đó. Thời đó ai rời trường trường trung học mà lại chẳng từng “yêu” một đôi lần ? Có thể chỉ là thương thầm trộm nhớ ai đó, có "đồ chơi mang đến lại mang về". Hoặc mỗi ngày lớ ngớ thấy nhau chút, đứng bên dãy lớp này mà ngóng dãy bên kia là hạnh phúc rồi. Ngon lành hơn thì rủ nhau hẹn hò đi ăn chè ăn sinh tố coi phin, ghé Thanh Hương ăn chè ỉ, lục tàu xá... :-). Còn ngon hơn nữa thì nắm tay nắm chưng, ôm eo ôm iếc, đèo nhau đi sông Vệ, Mỹ Khê, Phú thọ ... hoặc đâu đó. Còn mấy anh ngoại hạng hơn nữa thì chắc cũng có, nhưng mình không biết hoặc chưa được nghe kể. Nôm na chỉ là thế, nhưng đi xa chút thì ôi thôi ướt át lãng mạn vô cùng. Còn như anh D đi ra nước ngoài, xa hơn nửa vòng trái đất thì còn "tan nát lòng nhau" đến dường nào. Cũng may là hồi đó chưa có phone, facetime, viber, zalo ....như bây giờ :-) .

Nhưng phải cảm ơn âm nhạc, vì chỉ có âm nhạc mới đưa chúng ta trở về chốn cũ một cách nhanh chóng nhất. Không có phi thuyền, tên lửa, máy bay supersonic...nào mà nhanh bằng âm nhạc. Chỉ cần một bài hát cũ cất lên hay một điệu nhạc quen thuộc trỗi dậy, là đủ để kéo theo cả một vùng trời ký ức ! 

Và tất nhiên là trong mỗi chúng ta ai cũng có một ngăn kéo tuổi thơ riêng biệt. Cho dù mỗi người có trãi qua khác nhau những khổ cực nhọc nhằn vật chất hoặc bất công bất hạnh của gia đình & xã hội, thì trong ngăn kéo đó đều có những kỷ niệm ấm áp và trân quý dành riêng cho chính họ. Nhớ có ông nhà văn nào đó nói là "Ký ức tuổi thơ là những giấc mơ còn đọng lại sau khi thức giấc", cho nên mấy anh mơ nhiều thì ký ức tuổi thơ sẽ còn đọng lại nhiều hơn :-).

"It's never too late to have a happy childhood". Thôi chúc mấy anh chị luôn bình an hạnh phúc. Mong mùa dịch chóng qua, lại rủ nhau về quê ôn tập chuyện ngày xửa ngày xưa.

Ôi, giàn thiên lý đã xa, tội nghiệp (những) thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà.... 

PN


Thursday, May 27, 2021

Tâm và công đức ?


Lâu nay mình vẫn nghĩ có lẽ cái khó nhất trong cuộc sống này là làm sao để có được một cái bánh mà cắt ra ai ăn cũng thấy ngon giống nhau. Nhưng nói đùa vậy thôi, chứ chắc chắn là không ai có thể làm được điều đó. Mỗi người mỗi ý, ngộ tánh khác nhau. Chúa Phật cũng phải chào thua, bởi kinh điển hoặc bất kỳ một lý thuyết tôn giáo nào cũng không thể giúp cho thiên hạ có cùng một sự lãnh hội và hiểu biết giống nhau được.

Mấy hôm nay là mùa lễ Phật đản (đản sanh). Nhiều xứ, nhiều nơi tổ chức cúng lễ rầm rộ. Nhiều chùa tổ chức rất quy mô để cầu cho quốc thái dân an, đẩy lùi dịch bệnh. Dĩ nhiên là không phải đất nước PG nào cũng có ngày Phật đản giống nhau, mặc dù đa số đều tổ chức vào tháng 4 Âm lịch. Mình thì thường nói vui với bạn bè là.... "Chọn lựa ngày nào chắc cũng được, vì Phật không sinh ra vào tháng nào cả, mà đó chỉ là ông thái tử Tất đạt Đa ra đời thôi !"  :-) . 

Rằm tháng 4 năm nay, hôm qua, cũng là một ngày rất đặc biệt. Giới khoa học gọi là ngày nguyệt thực "trăng máu" (blood moon). Trái đất nằm ngay chính giữa mặt trời và mặt trăng. Khoa học thì giải thích đơn giản vậy, còn các ngài phi khoa học thì giải thích ác liệt hơn nhiều, điềm báo lung tung .... 

Nhân mùa Đản sanh, xin mạn phép gởi đến quý anh chị và bạn hữu một bài dịch của cố GS Phạm Công Thiện, dịch từ bản gốc tiếng Pháp của Léon Wieger. Léon Wieger là một nhà truyền giáo Thiên chúa giáo người Pháp, một bác sĩ y khoa nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Đông phương, Đạo giáo, Phật giáo ..v.v.. Đây là bài ông viết về buổi thuyết giảng đầu tiên của ngài Bồ Đề Đạt Ma tại TQ, giảng cho vua Lương Võ Đế và triều đình TQ thời bấy giờ. Rất hay, nên đọc !

Cũng xin nhắc lại một điển tích PG rất hay ngày xưa. Vua Lương Vũ Đế là một vị vua khai quốc của triều nhà Lương. Ông là người rất sùng đạo, chuyên xây chùa, luôn làm phước, làm thiện ... và là một trong những vị vua cai trị đất nước TQ thịnh vượng và hùng mạnh nhất. Khi gặp được ngài Đạt Ma, ông hỏi "Ta chuyên làm chuyện tốt nhiều như vậy, có công đức không ?". Ngài Đạt Ma trả lời : Không, không có công đức gì !

Còn thời nay ai mà dám nói "không" nhể ?  Hihihi...:-)

PN

-----------




(BÀI THUYẾT PHÁP CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA CHO VUA LƯƠNG VÕ ĐẾ)

(Bản dịch sang tiếng Việt của gs Phạm công Thiện)

Sau đây là bản dịch Bài Thuyết Pháp của Bồ Đề Đạt Ma trong Histoire des Croyances Religieuses et des Opinions Philosophiques en Chine (Depuis l’origine jusquà nos jusquà nos jours) của Léon Wieger (1922).

Đây là bài thuyết pháp đầu tiên của Bồ Đề Đạt Ma tại Trung Hoa. Ngài thuyết giảng ngay tại triều đình của Lương Võ Đế có sự hiện diện của nhà vua và toàn thể văn võ bá quan là những thành phần trí thức ưu tú trong nước. Lương Võ Đế tuy là một ông vua sùng đạo và các quan văn trong triều tuy là những bậc trí thức trong nước, những cũng không lãnh hội và chấp nhận nổi những ý chính trong bài thuyết pháp, một phần vì nhà vua và các quan còn chấp thủ, một phần vì lời thuyết pháp quá ư mạnh bạo, gần như sổ sàng tuy lý luận rất đanh thép, ngôn từ rỏ ràng và cô đọng. Bài thuyết pháp tuy rất ngắn gọn nhưng thật là đầy đủ ý nghĩa, bao gồm được tất cả tinh hoa của giáo pháp Phật và cốt lõi của thiền. Có thể nói cuốn Đạt Ma Huyết Mạch Luận chỉ triển khai những tư tưởng trong bài thuyết pháp nàỵ. Thất bại trong lần thuyết pháp đầu tiên ở Trung Hoa, Bồ Đề Đạt Ma bỏ ra đi. Ngài không thuyết pháp nữa mà ngồi thiền trước một bức tường (bích quán) trong suốt chín năm trời.

Phần thứ nhất: Bản Chất Của Tâm

Cả thế giới được nghĩ trong tâm. Tất cả chư Phật - quá khứ và vị lai - đã và sẽ được tạo thành trong tâm. Sự hiểu biết được truyền từ tâm sang tâm qua ngôn từ nên tất cả những kinh sách chẳng có ích lợi gì. Tâm của mỗi người đồng điệu và tương ứng với thực tại muôn đời, với thực tại muôn nơi. Tâm là Phật không có Phật ngoài tâm. Coi giác ngộ và niết bàn là những sự vật ở ngoài tâm là một điều sai lầm. Không có giác ngộ ở ngoài tâm linh động. Không có chỗ nào gọi là nơi chốn của những người đến niết bàn. Ngoài thực tại của tâm, tất cả đều là huyễn tượng. Chẳng có nhân, chẳng có duyên. Chẳng có lý do, chẳng có kết quả. Chỉ có một thực tại duy nhất. Đó là: Tư tưởng của tâm và sự an nghỉ của tâm chính là niết bàn. Đi tìm một sự vật ngoài tâm là đi tìm bắt hư không. Tâm là Phật và Phật chính là tâm. Tưởng tượng Phật ở ngoài tâm hay hình dung Phật ở ngoài tâm là mê sảng.

Phần Thứ Hai: Phương thức

Vậy phải nhìn vào trong chứ không nhìn ra ngoài. Phải tự lắng vào chính mình để thấy Phật tánh trong chính mình. Tất cả chúng sanh đều là Phật như mình nên mình chẳng cứu ai cả. Không có vị Phật nào hơn mình nên không phải van xin, cầu nguyện ai cả. Không có Phật nào hiểu mình hơn chính mình nên không phải học hỏi trong những kinh sách của các vị ấy. Không có luật pháp nào kiềm hãm được Phật. Một vị Phật không thể sa ngã nên ta không sợ phạm tội. Không có thiện, không có ác. Chỉ có những động tác của tâm. Mà tâm là Phật nên tự tánh không thể lầm lỗi được. Cúng kiến, hoằng pháp, nhiệt thành giữ giới, bố thí cầu kinh và tất cả những thứ khác đều không có ích lợi gì cả. Chỉ cần một điều duy nhất là nhìn thấy Phật nơi mình. Sự nhìn thấy Phật ở nơi mình đưa đến giải thoát, đến niết bàn.

Phần Thứ Ba: Phật Tánh

Không có bất cứ một cuốn kinh nào, không có bất cứ sự tu khổ hạnh nào có thể đưa ta ra khỏi luân hồi. Học kinh và tu khổ hạnh hoàn toàn vô ích, phù phiếm. Không có quyển sách nào đáng cho ta mở ra đọc. Trong sự an tĩnh, vô vi hoàn toàn hãy kiến tánh ở nơi mình, nơi chính tâm mình. Đó mới đúng là Phật. Chỉ học nhìn thấy Phật tánh thôi vì đó là điều duy nhất đáng học. Tất cả những hình tượng khác đều là sương mù, ảo ảnh. Hãy nhìn Phật nơi mình. Đó mới là cái nhìn trung thực duy nhất. Phật tánh ở trong mỗi người và trong tất cả mọi người, Phật tánh đều giống nhau. Khi quên tất cả mọi sự và chỉ giữ lại thực tại duy nhất đó là thoát khỏi vòng luân hồi và tới niết bàn. Tất cả những kẻ thuyết lý đều là trợ thủ của Mara và đưa con người đến chỗ huyễn tưởng. Mọi hệ thống triết học đều hoàn toàn sai lầm và có tính cách lường gạt. Nói đến sự tẩy uế, thiện nghiệp, chuyên tâm và tiến bộ là phỉnh lừa thiên hạ. Mỗi người là Vị Phật của chính mình và của tất cả. Điều ta phải làm cho tới cùng là nhận thức rằng thực tại và chân lý duy nhất ấy tiềm tàng trong mỗi người chúng ta. Không có tội hay đúng hơn chỉ có một tội duy nhất: Đó là tội vô minh, tội không nhận được ra Phật tánh ở chính nơi mình. Tội này rất nặng vì nó giam ta trong cõi vô thường. Thân xác là phù du. Cuộc đời trôi nhanh như một giấc mộng. Trong thời gian ngắn ngủi của cuộc đời ta phải tự giải thoát bằng cách tự khám phá chính hình bóng của mình. Trong giấc mộng đời, ta có thể thấy được thực chất của mình. Trong giấc mộng đời, chính Pháp thân tự hé mở trong bản thể. Đó là thực thể.

Phần Thứ Tư: Pháp Thân

Pháp thân này vĩnh cửu. Trải qua vòng luân hồi, thăng trầm qua vô lượng kiếp, pháp thân vẫn không sinh, không diệt, không thêm, không bớt, không nhơ nhớp, không bị tẩy sạch, không yêu, không ghét, không đến, không đi, không đàn ông, không đàn bà, không già, không trẻ, không tu, không tục, không có, không không. Pháp thân không một mà cũng không nhiều, không thánh mà cũng không phàm. Pháp thân đi vào tất cả không bị trở ngại và không gì ngăn cản được. Pháp thân ung dung trong những kiếp liên tiếp, trong vòng sinh tử.

Chúng sanh và vận mạng của chúng sanh đều qui về pháp thân. Ta thấy pháp thân này ngay trong ta. Ta phải di động và hành động trong ánh sáng của tâm. Pháp thân bao trùm tất cả chúng sanh như sông Hằng giữ nước của nó hằng hà sa số những phân tử phù sa. Ta không thể diễn tả pháp thân được, mà cũng không thể giải thích pháp thân bằng ngôn từ. Mỗi người hãy tự chiêm ngưỡng, lãnh hội pháp thân cho chính mình. Lãnh hội được pháp thân là giải thoát, là giác ngộ. Lãnh hội được pháp thân là ra khỏi sự giao động của thế lực mà đức Thích Ca Mâu Ni gọi là cuồng loạn vĩ đại. Giác ngộ đưa ta vào trong tỉnh lặng hoàn toàn. Người ta phải khám phá chính bản thân mình, khám phá Phật tánh ở mức độ ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ và tư tưởng. Pháp thân vô hình, bất biến và không thể bị hủy diệt. Chẳng có Phật nào khác ngoài pháp thân vì pháp thân ở trong chư Phật. Pháp thân cũng ở trong tất cả mọi người.

Phần Thứ Năm: Tĩnh Tâm

Xin nhắc lại rằng vì tánh chất của pháp thân, ta chẳng cần kinh kệ, chẳng cần cúng tế, thờ phụng mà cũng chẳng tìm cái gì ở ngoài bởi lẽ trong mình ta có tất cả. Tất cả những sự vật bên ngoài đều là hư ảo giả tạm. Chẳng có gì thật ngoài pháp thân. Nguyện cầu những gì sùng bái chính là mình, sùng bái những gì chính là mình là một việc phi lý và vô ích. Điều cốt yếu là làm sao có yên lặng và tĩnh tâm; vì yên lặng, tĩnh tâm giúp ta thấy pháp thân chính nơi ta tức là thấy Phật. Tất cả những biểu tượng giả tưởng, tất cả những biểu tượng vật chất đều sai lầm. Chính sự sai lầm ấy giữ ta lại hoặc đưa ta vào trong vòng luân hồi tái sinh. Không nên sùng bái những hình tượng thoát thai từ nơi mình bởi vì những hình tượng ấy không thuộc pháp thân. Chỉ nên sùng bái những ý tưởng phát ra từ Phật tánh. Phải bỏ tất cả những giả tưởng về thần thánh linh thiêng vì đó chính là những ảo tưởng phù phiếm. Không nên thờ kính những vật giả tưởng đó mà cũng chẳng phải sợ hãi những thứ đó. Cũng nên quẳng bỏ tất cả những ảo ảnh về chư Phật. Ảo ảnh chỉ là những ảo tưởng phù phiếm.

Phần Thứ Sáu: Thiền Luận

Không có gì quí hơn những ý tưởng vô hình của tâm phát ra từ Phật tánh. Chỉ có một điều ta thấy thật sự là: Pháp thân ở nơi Ta. Phật là một tiếng Ấn Độ, không phải tên người và có nghĩa là giác ngộ, linh giác mà mọi người có thể đạt tới được. Sự giác ngộ này chính là thiền. Những kẻ đối nghịch với chúng ta không thể hiểu được giá trị mà chúng ta đem vào danh từ thiền. Thiền không có nghĩa là tham thiền, suy tưởng. Ta chỉ đạt đến thiền khi ta thấy được Phật tánh ở chính mình. Một người đọc vô số kinh luận mà không kiến tánh thì chỉ là kẻ phàm tục tầm thường. Đạo lý ta khó hiểu đối với mọi người vì ngôn từ không đủ khả năng diễn tả được đạo. Chỉ có kẻ nào đạt được mới hiểu. Ta có thể nói với những môn đồ ta như vầy: Các ngươi phải đạt đến Phật tánh nơi các ngươi tức là pháp thân nơi các ngươi. Làm thế nào diễn tả được... và bởi vì không thể nói ra được nên tất cả những kinh luận đều vô ích. Kinh luận chỉ là những câu chuyện phù phiếm, đi quanh vấn đề. Kiến tánh là một hành động giản dị. Kiến tánh không thể chia ra thành từng phần nên ta không thể tri và hành từng phần một. Kiến tánh cũng giống như nuốt một thứ đồ ăn, cũng giản dị và lập tức như thế. Người ta không bao giờ thuyết lý viễn vông chung quanh sự nuốt đồ ăn. Ta biết nuốt hay không biết nuốt. Chỉ có thế thôi! Kẻ nào tưởng tượng một thực tại ngoài Phật tánh bên trong và tìm cách xác định thực tại ấy, kẻ ấy rơi vào sai lầm nghiêm trọng. Tất cả những ý tưởng ngoài ý tưởng về Phật tánh nội tại chỉ là những bóng ma phù phiếm. Chính những ý tưởng đó sinh ra bóng ma, những sai lầm và giữ con người triền miên trong vòng luân hồi. Con người sẽ được giải thoát khi đã phủ nhận tất cả những bóng ma và những sai lầm ấy, đồng thời gắn liền với Phật tánh ở trong nội tại. Giây phút giác ngộ này, giây phút giải thoát này, mỗi người hãy tự mình đi đến. Giáo lý chỉ có thể giúp người ta chuẩn bị. Giáo lý không thể tạo ra giác ngộ. Mộng không thể học được. Chết không thể học được. Lãnh hội Phật tánh nơi chính mình cũng không thể học được. Pháp thân rất giản dị. Ta không thể tạo ra được mà chỉ lãnh hội được. Kẻ nào đã lãnh hội được pháp thân thì không cần thiên đàng, không còn địa ngục, không còn mình, không còn kẻ khác, không còn gì bên ngoài. Vậy việc lãnh hội pháp thân là việc của đức tin tuyệt đối, không mảy may pha lẫn bóng tối ngờ vực. Khi người ta mộng, người ta không bao giờ nghi ngờ bởi vì người ta thấy thực tánh của mình. Trong khi thức, ta cũng phải tin tưởng vững chắc như vậy dù có bị những ảo tưởng của giác quan và những sai lầm của trí tưởng tượng ràng buộc.

Phần thứ bảy: Vô Minh

Đối với những người đã khám phá được bóng hình của mình và không còn bị bất cứ một hệ lụy nào ràng buộc, thì bất cứ một hành động nào của thể xác vật chất cũng không có thể ảnh hưởng đến pháp thân. Một kẻ phàm tục làm nghề đồ tể cũng có thể là một vị Phật. Kẻ nào đã lãnh hội được Phật tánh thì không tạo nghiệp nữa dù làm bất cứ một hành động nào bởi vì kẻ ấy đã giác ngộ. Nghiệp chỉ đeo đuổi những người chưa giác ngộ vì những người đó còn trong vòng u tối vô minh. Chính sự ngu muội này đã tạo ra vòng đầu thai, luân hồi ở địa ngục, làm thú và làm người. Tất cả nợ tinh thần chấm dứt ngay khi giác ngộ phá hủy vô minh. Bậc giác ngộ không làm nên tội lỗi và cũng không phạm tội nữa.

Phần thứ tám: Giác Ngộ

Ta phải giảm dần những ấn tượng, bớt dần tham vọng, (bớt dần) tập trung và an trí. Đó là chuẩn bị. Kinh kệ, tu khổ hạnh, công trình nghiên cứu học hành đều chẳng có lợi ích gì cả. Kiến tánh không thể học được. Tại sao có những người đã chuẩn bị cẩn thận và có thành tâm đứng đắn mà vẫn không kiến được tánh? Bởi vì nghiệp của họ chống đối lại. Sự hôn mê mù quáng của họ, sự sai lầm chai cứng của họ, sự bất lực của họ là những hình phạt về những tội lỗi của họ trong quá khứ. Họ chưa trả hết nợ. Họ chưa đủ trong sạch để đạt được giác ngộ. Đây là nợ tinh thần và nỗ lực cá nhân chứ không phải do địa vị xã hội.

Phần thứ chín: Phật là gì?

Ta đến Trung Hoa để truyền bá tâm ấn, đạo lý mới lạ ở đây chưa ai biết. Phật ở trong tâm mỗi người. Giữ giới luật, tu khổ hạnh, cầu kinh, nghiên cứu nghĩa lý, tất cả những thứ này chẳng dùng được việc gì cả. Mục đích duy nhất mà mọi người phải đạt được là giác ngộ. Khi nào đạt được giác ngộ là thành Phật, một vị Phật như tất cả chư Phật dù cho kẻ ấy không đọc được một chữ nào cả. Thành Phật nghĩa là thấy Phật tánh nơi mình, nơi tâm mình, nơi tâm của tâm mình. Phật tánh vô hình, không thể rờ mó được, bản thể của nó mong manh như hư không. Tâm ấy mọi người đều mang trong mình.

Tâm hỡi, tâm ơi!

Mi lớn đến nỗi bao trùm cả vũ trụ.

Mi nhỏ đến nỗi mũi kim không thể xuyên qua được.

Hỡi tâm của ta! Mi là Phật.

Chính vì mi mà ta phải qua Trung Hoa để giảng truyền đạo lý.

(Phạm Công Thiện dịch)

Sunday, May 23, 2021

Dân dã quê nhà ....

 


Năm nay dịch bệnh, ở nhà làm vườn trồng rau. Rau sạch hái vô chỉ cần luộc chấm mắm, đơn giản vậy mà ngon tuyệt. Ngồi ăn mà nhớ đến những món đặc sản ở quê nhà năm xưa, viết kể lại vài món cho đỡ ghiền !

Đã nói đến món ăn đặc sản, thì địa phương nào cũng có, ai mà kể hết được ? Thời buổi bây giờ đi đâu cũng thấy quảng bá rầm rộ, báo chí địa phương, mạng du lịch, zu túp zu tiết cũng đăng đầy. Mà khi nói đến ăn uống là nói đến khẩu vị, cho nên ngon với người này chưa chắc đã ngon với người khác, nên khen chê cũng là chuyện bình thường. Còn cách nấu nướng thì cũng vậy, mỗi nơi mỗi vùng có những món ăn khác nhau. Mà dẫu có món giống nhau thì cách nấu và nêm nếm cũng khác nhau. “Mỗi người mỗi kiểu mười phân vẹn mười” :-). Thế nhưng đôi khi cũng không tránh khỏi chuyện ông bún bò Huế ở Cali chê ông Texas, ông Texas chê bà D.C, bà D.C chê quán ở SG, quán SG chê quán HN ....Vả lại, chuyện ăn uống ngoài việc hợp khẩu vị, còn là hợp thời gian, hợp môi trường, hợp người hợp cảnh, ăn với ai, ăn lúc nào ..v.v... Cho nên nhiều lúc đi tới đâu nghe giới thiệu những món đặc sản, mình rất thích thử cho biết, nhưng cũng không chờ đợi gì lắm. Thực ra, trong lòng của mỗi người đều có những món đặc sản của riêng họ, cho dù là dân dã hay cầu kỳ, thì những hương vị đó vẫn là bất tử. Nhớ ngày xưa mỗi lần đọc Nguyễn Tuân, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc ... nghe tả các món ăn là đã thấy đói bụng rồi. Nhưng khi đi đến tận nơi, nhìn thấy tận mắt, thì cũng hên xui, tuỳ cô chủ quán hoặc người đầu bếp thôi :-). 

Nếu như nhiều người lâu nay cho rằng đẹp xấu là tuỳ người đối diện, thì ngon dở cũng là tuỳ người ăn. Mà quan niệm này thì luôn luôn đúng, tây ta gì cũng thế. Ngon với người này chưa hẳn ngon với người khác. Như có lần đi lễ hội Mardi Gras ở New Orleans (bang Louisiana - Mỹ), mấy người bạn chuẩn bị chu đáo, dẫn mình đến một nơi rất nổi tiếng về Crawfish, "chính gốc không đại lý", rồi hỏi ngon không. Mà thực ra là mình chưa bao giờ thấy crawfish ngon mặc dù đã cố thử vài lần, nên đành cáo lỗi, làm mấy người bạn cũng hơi thất vọng. Mùa Oktocberfest bên Đức cũng vậy, thức ăn rất ngon, tửu đồ cả thế giới chạy về đó để thưởng thức bia và những món đặc sản, đặc biệt là xúc xích và đùi heo. Nhưng mình lại không thích những món đó, mà chỉ ghiền Steckerlfisch (cá nướng xiên que). Có lẽ xuất thân là dân nhà quê, gốc rạ, nên chỉ quen thuộc với những món gần gũi như cá lóc nướng trui, cá tràu đắp bùn, cá chạch đốt rơm... :-). Một ví dụ nữa như ngoài QN có món Don "thần thành", nhiều ông có vợ phương xa, dẫn về khoe mẽ đặc sản quê nhà. Dọn lên, bà vợ ngồi đợi hoài, không biết ăn sao, hỏi - "Uả món gì mà chỉ có nước với bánh tráng thôi sao ?". Không sao, bây giờ vẽ ra có thêm cái trứng vịt lộn nữa cho phong phú :-) .

Thực ra thì ở đâu quen đó, ngủ hoài quen hơi, ăn hoài quen miệng thôi. Nên đứa con nào cũng nghĩ rằng mẹ mình, bà mình, nấu ăn là ngon nhất, bởi đơn giản là cách nấu nướng và mùi vị nêm nếm quen thuộc từ nhỏ. Như mình hồi nhỏ ở với bà Ngoại, lớn dọn lên tỉnh bà cũng đi theo. Dù chỉ ở quê nhà chỉ một thời gian rất ngắn ngủi, nhưng những hương vị món ăn ngày xưa của bà nấu vẫn đi theo mình cả đời. Mấy năm sau này lần nào về quê cũng cố tìm lại những món ấy, nhưng chắc chắn là không bao giờ gặp được cái hương vị ngày xưa !

Mà nói đến đặc sản VN trước tiên là phải nói đến mắm. Ngay cả các tiệm thực phẩm châu Á ở nước ngoài bây giờ cũng bày bán đủ các loại mắm, khác với thời mấy chục năm về trước. Mắm cái, mắm nêm, mắm tôm, mắm cá lóc, mắm sặc, mắm chua, mắm thính, mắm dì Cẩn, mắm bà giáo Thảo, bà giáo Khoẻ ..... gì cũng có. Mấy đứa con mình không biết ăn mấy món này, nên lâu lâu có bạn bè bên nhà qua chơi, tặng mấy hủ mắm đặc sản, ăn hoài mấy năm chưa hết. Mới lúc trước dịch đây, có ông anh quen cho mình hủ mắm, đặc sản chính gốc Cửa Lò, Cửa Hội. Mỗi lần mở hủ mắm ra là con mình lẻn đi lên lầu hết. Không biết làm bằng con cá gì, nhưng chấm với ba rọi hoặc rau muống, đọt lang, bông bí là tuyệt cú mèo. Còn ở quê Ngoại mình thì ôi thôi đủ loại mắm, vì gần sông gần biển. Có nhiều loại mắm cũng tương tự và đại trà như các vùng duyên hải khác như mắm cá cơm, cá thu, cá nục. Ở đây mình chỉ nhắc đến vài loại bình dân nhưng rất ngon.

- Mắm Dãnh: làm bằng con cá Dãnh, có màu đùng đục như bạc xỉu. Thường dưới quê mấy người chỉ làm quà biếu nhau vì nguồn cá Dãnh không nhiều lắm. Món này mà ăn với thịt ba rọi, bún tươi, thậm chí chỉ với ớt tỏi, cơm nóng thôi....cũng thuộc loại thần sầu :-).

- Mắm Mày mạy: Món này rất hiếm, mấy chục năm sau này ít khi nghe nhắc đến, nên mình cũng quên mất. Hôm qua viết bài này xong, có ông anh cùng làng nhắc đến món mắm mày mạy, mới nhớ. Mày mạy có hình thù giống như con tôm tít còn bé. Ông anh mình nói loại này chỉ có ở vùng Cổ lũy hạ lưu sông Trà. Muốn bắt chúng phải đặt bẹ chuối trên cát, chúng bò vào rồi không thể bò ra được. Xúc về làm mắm, ngon tuyệt vời. Món này mà ăn với bún tươi thì mắm Dãnh cũng đành phải xếp thứ nhì thôi :-). Mở ngoặc chút, ngoài quê mình có loại ớt sim “chim ỉa”, tức là ớt rừng do chim ăn rồi ị  hột trên núi, mọc hoang. Ớt này được thiên hạ hái về ăn Don hay ăn với mắm cùng với tỏi Lý Sơn. Tuyệt ! Không cần món gì cầu kỳ, chỉ cần một chén mắm ớt tỏi đó ăn với bánh đúc lá vông, bánh tráng ướt, bánh tráng nướng nhúng nước, hoặc tô bún tươi, là đã “độc cô cầu bại” rồi :-).

- Mắm Ngừ, mắm Mực .... làm bằng ruột cá ngừ, mực cơm, thuộc hàng dân dã nhưng rất đậm nét quê hương. Bà Ngoại mình nhiều khi bỏ cả đu đủ xanh, hoặc dưa tây, dưa gang vào, dòn ngon và rất thông dụng vào những ngày mưa lụt.

Ngoài quê sau này còn làm cả mắm Nhum (sea urchin), ngày xưa chỉ có vùng biển Sa Huỳnh mới có món này. Thông thường thì người dân quê chỉ xử dụng những loại cá rẻ tiền, nhiều xương, hoặc ăn không ngon, để làm mắm, làm chả. Ví dụ như chả cá rựa, cá thát lát, cả đỏ... Miền Trung vì ở gần biển nên các loại cá làm mắm thường là cá nước mặn. Còn miền Nam, gần sông nước nên đa dạng hơn các giống cá nước ngọt như cá lóc, cá linh, cá sặc, cá tra, cá chốt, cá suối, cá vụn...v.v. Mỗi vùng miền có cách làm đặc thù và mùi vị khác nhau. Và cũng không phải là ai cũng biết thưởng thức mắm. Mình có ông anh quen là công tử của một vựa mắm lớn ở quê mình nhưng lại không hề biết ăn mắm:-).

Kế đến, là nhắc đến các món đặc sản liên quan đến cá. Ngoài lề chút, phải nói là dân VN thuộc hàng ăn cá nhất nhì thế giới. Đi tới đâu, nhà hàng nào, quán ăn nào cũng thấy cá tôm, đặc sản tươi sống. Tuy nhiên, với sự tàn phá môi trường, tận diệt tôm cá như lâu nay, nếu chính quyền không có một kế hoạch cụ thể và cứng rắn, thì vấn nạn nguồn tôm cá cạn kiệt sớm muộn gì cũng không tránh khỏi. Ở những nước văn minh hơn, người ta kiểm soát rất gắt gao về kích cỡ chủng loại hải sản, thời vụ đánh bắt, và phương tiện đánh bắt. Nhiều nơi nghiên cứu cách nuôi trồng lai tạo để trả lại môi trường tự nhiên các chủng loại tôm cá, thủy hải sản, có khả năng sinh sản cao. Còn phe ta thì ăn từng bầy cá con, cá bé, cá lòng tong, ròng ròng ... Lưới bén, lưới chài, lưới bủa, lưới kéo, cỡ lớn cỡ nhỏ, một phân một ly gì cũng xài tuốt. Ngoài khơi thì qua hết thời đánh thuốc nổ, lại đến thời đánh đèn cao áp, lưới cào lưới giả .... Cá chưa kịp lớn, chưa kịp sinh sản, thì đã vào quá nhậu đặc sản quê hương. Còn tăng gia sản xuất, nuôi bè, nuôi ao, ngày càng nhiều, nhưng việc tuân thủ luật lệ môi trường thì người có người không. Lâu lâu còn bị mấy anh doanh nghiệp tiết kiệm xử lý nước thải, xả hàng, bơm hoá chất ra sông ra biển. Bên cạnh đó, cũng không hiếm nạn khách du lịch hoặc các khu dân cư ven biển, thiếu ý thức bảo vệ môi trường, đùn đẩy nylon, ống hút, đồ nhựa, rác thải công nghiệp ra biển. Con người còn chịu không nỗi huống hồ chi tôm cá. Nhưng mấy hãng to hãng lớn, miệng có gan có thép, dù có làm cho nước ô nhiễm cả vùng, dân bó gối cả năm, thì cũng có ông quan này xuống bơi, ông quan kia xuống ăn cá, quay phim lên báo lên đài, coi cũng vui. Còn dưới sông dưới biển thì cá tôm vẫn phải chịu đòn, mà trên bờ thì ngư dân ngư phủ cũng phải gánh gồng cam chịu, đắng cay âm thầm.

Trở lại mấy món đặc sản cá của quê mình ngày xưa. Các món cá thì nhiều lắm, mình chỉ muốn nhắc đến vài món mà mình còn nhớ:

- Cá kè nướng trui: Cá Kè thuộc loại xấu xí, da gai góc, dày cộm (có lẽ cùng họ với các loại bò hòm, bò gai). Loại này ngày xưa rẻ lắm, mấy người dưới quê đi biển vô bán từng bao cát, nhưng sau này lại trở thành đặc sản quý hiếm. Cá này chẳng làm món gì được, ngoài nướng trui cho cháy da, rồi lột ra chấm muối tiêu ớt. Thịt trắng, ngon vô cùng. Những ai sành ăn hơn, thì ăn kiểu "trảm mã xà", nghĩa là vào mùa ruốc, cá kè ăn ruốc đầy bao tử. Nướng cá Kè xong, lấy ruốc từ bao tử ra, nhậu với tỏi một Lý sơn và rượu đế. Tuyệt !

- Cá dìa nướng than: Ngày xưa con sông dưới quê mình, cá dìa, cá đối, cá cồi nhiều lắm. Sông nước lợ, chảy ra cửa Đại, xuoi về biển, cá tôm đủ loại, giờ thì trở thành hiếm hoi đặc sản. Mấy món này ngày xưa thuộc hàng dân dã, nên thương lái ít khi chở lên tỉnh bán, chỉ bán vòng vòng ở địa phương. Ngoại mình thường mua về kẹp lá chuối nướng than ăn với mắm gừng. Lâu lâu muốn thơm hơn, nhét vài lá bòng, lá bưởi, lá sả, vô ruột trước khi nướng. Chín, mở ra thơm lừng !

- Cá chuồn kho nít non: Món này bình dân, thông dụng nhưng đi xa lại nhớ. Tới mùa cá chuồn thì chuồn cồ, chuồn xanh, chuồn bông, chuồn lộng, chuồn gành, chuồn khơi, chuồn mít ...... đủ loại, rẻ ối . Nên nhiều người phải phơi khô để dành cho ngày mưa gió. Còn nấu thì đủ kiểu, nào là kho, ướp nghệ nướng, nấu canh với cà chua xanh, thơm khóm....v.v... Mình thì khoái nhất là món kho với mít non, nhưng chỉ ăn mít thôi, không ăn cá :-).

- Cháo cá hà nàm: Cá hà nàm là cá nhám còn trong bụng. Nghe thì có vẻ ác độc nhưng thường là người ngư dân đánh lưới, vô tình bắt được cá nhám (thuộc họ cá mập), mổ ra mới biết. Dân biển ít ăn cá mập, chỉ ăn cá nhám. Còn ai muốn học cách phân biệt thì phải biết coi cái mang cá, hoặc du lịch về xứ đó học nghề :-). Món này nấu cháo, nghệ, nén, tỏi, hành ...gia vị, thì thôi rồi, khỏi bàn nữa, đại bổ dưỡng !

- Bún biển: thuộc loại tảo rong, sinh vật biển (nước mặn hoặc nước lợ), có hình thù như cọng bún mì, cước câu loại lớn. Tới mùa, dân ở quê vớt về biếu tặng thôi, ít khi bán buôn vì rất rẻ. Nấu nước lèo trụng ăn như bún nước lèo Nam bộ, hoặc có người làm khô như mì Quảng, bún xào, hoặc làm gỏi với tôm thịt rau thơm. Ngoại mình thường làm bún nước cho dễ ăn. Bà nói món này thuộc loại âm hàn (ăn mát) như hột vịt lộn, nên ngày xưa thường không dám cho con nít ăn nhiều, sợ bị ách bụng. (Hồi đó chưa biết uống rượu, chứ bây giờ làm vài ly bourbon là hết hàn ngay :-) .

- Cá bống/cá thài bai: Mấy món này thì nhiều người ngoài quê biết rồi. Nhưng thực ra thì cách kho không phải ai cũng giống nhau. Dưới quê mình, bà con kho cá bống trong trách đất. Tiêu và nước mắm cũng phải thuộc loại đặc biệt. Kho bếp củi, rồi dụi than cho nước mắm sánh lại dần, khô con cá. Mùi vị không lẫn vào đâu được. Bởi vậy sau này về lại quê cũ, thấy có bày bán nhiều, nhưng cách kho khác quá, nên cũng không còn ghiền ăn nữa. Có năm nào coi cái video quảng bá về du lịch quê nhà, thấy ai chỉ cách kho cá bống, dầu mỡ lai láng. Coi xong hết thèm ăn đặc sản luôn. Còn cá thài bai thì thời nay cũng cạn dần, hiếm hoi. Cá thài bai thì phải bắt đúng lứa mới ngon. Già thì lại cứng, non thì lại bở. Mấy năm gần đây thỉnh thoảng về quê vào dịp gần tết, cũng được bạn bè đãi tặng. Vẫn ngon, nhưng thực sự thì khác xa cái hương vị ngày xưa của mình. Nhiều người cho rằng vì ngày xưa thiếu thốn nên ăn cái gì cũng ngon, giờ đầy đủ quả nên không cảm được. Mình thì không nghĩ vậy, vì thực ra trước năm 1975, người dân quê mình cũng không phải thiếu thốn lắm. (Nhận định một cách công bằng, ở Phú Thọ, Cổ Luỹ, Phổ An, ngày xưa sầm uất hơn, mặc dù đó là thời chiến tranh và dân số ít hơn bây giờ. Mỗi lúc ghe cá vô bờ, các "bạn rỗi” mủng thúng xôn xao, cái cặp nách, cái đội đầu, rôm rả tất bật chạy như bay lên chợ. Xe máy 2 càng, hai giỏ hai bên, lạng lách tranh nhau đua cho kịp những phiên chợ tỉnh, chợ huyện. Ghe bầu, ghe buôn, sắp hàng dài trước bến, ra vô tấp nập. Còn bây giờ thì đi lới đi lui lèo tèo vài quán lấn sông. Ngay cả con cá thòi lòi, "dấu đầu lòi đuôi", ngày xưa chẳng ai thèm ăn, giờ cũng thành đặc sản !)

- Bún cá ngừ: Món này thì bây giờ SG cũng bán khá nhiều, cũng như món cá nục hấp cuốn bánh tráng. Nhưng đúng là mỗi người có cách nấu khác nhau. Bây giờ thì mấy quán miền Trung bên Tây bên Mỹ cũng có bán mấy món này, chỉ là hương vị có phần khác nhau. Nhớ ngày đầu tiên về lại VN đi làm, một ông anh rủ mình vô quán 3 miền của cố nhạc sĩ TCS dưới gần cầu Trương Minh Giảng đãi món này với món gỏi sứa dấm nuốc. Mấy chục năm trở lại, đúng là ăn cả một trời thương nhớ. Nói đến món dấm nuốc, nhớ đến nhà thơ Mường Mán. Không biết quán anh ở SG giờ còn bán món này chăng ?

- Canh chua khế: Món này cũng thuộc loại đặc sản của quê mình. Cá chim, cá liệt, cá ngân ....cá nào nấu cũng ngon. Cực kỳ đơn giản mà kỳ lạ là đi xa bao nhiêu năm vẫn còn nhớ hoài.

- Cá khoai nấu mứt (rong biển): Sau này ở SG cứ chiều chiều ngồi nhậu khô cá khoai, cá đuối, là nhớ đến món này ở quê nhà. Ngày xưa bến sông quê mình có nhiều ghe từ Lý Sơn hoặc từ xứ khác, ra vô buôn bán tấp nập. Ghe nào cũng đẩy ắp hành tỏi, rau câu, chưng vịt (một loại rong biển để nấu chè), mứt (rong biển), ruốc khô. Cá khoai nấu rong biển, mềm mại, chưa kịp nhai đã vô bụng rồi :-). Đơn giản mà ngọt ngào !

Thứ ba, là nói về các món dân dã khác mà người dân quê mình thường nấu:

- Canh khoai với tấm nếp: Món này cũng là một trong những món tuyệt chiêu nhớ đời của mình. Sau này về quê hỏi hoài mà chẳng thấy nhà hàng nào bán. Nhiều anh bạn mình ở thành phố nghi ngờ hỏi lại mình "Mày có nhớ lộn không, làm gì có món này ?". Mình còn nhớ rõ mồn một là Ngoại nấu món này như thế nào. Vào mùa mưa lụt ra vườn nhổ từng bụi khoai (giống như bạc hà nhưng nhỏ hơn). Loại khoai này cũng có thể cắt nhỏ làm dưa, mùa mưa lụt kho cá kho thịt để ăn dài ngày .

- Ruột heo xào nghệ: Món này ở quê mình thường ăn mỗi lúc cảm ho. Xào với bún gạo. Ăn riết hoá ghiền !

- Đọt lang, bông bí: Mỗi lần ăn mấy thứ rau này, là nhớ lại cả một thời thơ ấu. Bông bí ở dưới quê khi muốn ăn là hái nhiều bông, ít đọt. Có cả nhừng bông cái (có trái bí con), vì phải hái bớt cho thưa, để những trái bí khác được lớn hơn. Đọt lang, bông bí là phải có chén mắm cá cơm, mắm cá cơm chua thì còn tuyệt vời hơn nữa ! Ớt, tỏi, chanh, gừng.... toàn cây nhà lá vườn. Làm sao tìm lại được ?

- Bắp chuối hà nàm: là bắp chuối chưa ra nải chuối nào. Bóp gỏi hoặc nấu chay, nấu canh chua ... thì thâu rầu lượm ơi !

- Mít non: Quê ngoại mình, nhà nào cũng trồng mít. Nhỏ thì huê mít chấm mắm ruốc. Lớn hơn chút thì gỏi mít non xúc báng tráng, kho cá, luộc, nấu chay .... nón nào cũng tuyệt cú mèo.

- Gỏi ruốc thanh trà: Món này thì phải có trái thanh trà (cùng họ với bưởi). Nhà Ngoại có cây thanh trà và cây khế trên đầu hè, tuổi thơ của mình gắn liền với nó. Ngoài Huế cũng có cây Thanh Trà, nhưng cách làm gỏi Thanh trà, cũng như gỏi Vả hoặc gỏi mít non thì khác với ở quê mình. 

Mà nói đến trái cây dưới quê thì lại một cuốn phim khác nữa. Hôm nào rãnh rang sẽ ngồi nhớ lại. Từ trái ô ma, mầng quân, vú sữa, xoài, xá lị, dừa, ổi rừng, trái trâm, trái sim, trái ư, chùm chày mủ dẻ ...cho đến bồ lời, long não ... ống thụt. Tuổi thơ của ngày ấy không có iphone, ipad, phim ảnh, game giếc ... gì cả. Nhờ vậy mà giờ lâu lâu còn chuyện để nhớ để nhắc :-)

Chúc mọi người cuối tuần vui vẻ !

PN

Friday, May 21, 2021

Lá cờ son

Mùa Hè năm Bính Tuất (1406)... Sáng nắng gắt, chiều mưa tầm, thời tiết khắc nghiệt hơn mọi năm. Những cơn gió Lào thổi về Chiêm Động hầm hập khô khốc, nhưng vẫn không làm giảm đi cái sĩ khí hừng hực của doanh trại tiền quân nhà Hồ trên đường Nam tiến. Trước sân của An Phủ Sứ lộ Thăng Hoa Nguyễn Cảnh Chân, năm đạo hồng kỳ tung bay phần phật trong gió. Ngoài trướng là soái kỳ của đạo tiên phuông dọc ngang bốn trượng, thiêu chữ Đại Ngu đỏ như màu máu, trên nền trời xanh ngắt. Dưới chân cột cờ, viên đội trưởng quản kỳ đứng nghiêm như bất động. Tuổi chưa quá đôi mươi, nhưng gương mặt rắn rỏi và đôi mắt sáng ngời làm cho người lính trẻ càng dày dạn vẻ phong sương. 

Anh đang nhớ nhà. Nhà anh ở tận làng Bùi Xá thuộc Thừa tuyên Nghệ an. Làng của anh nằm cạnh giòng sông Lam quanh năm uốn lượn, ôm núi Hồng Lĩnh vào lòng, nổi tiếng về nghề nhuộm vải và đan tre. Quê anh nghèo nhưng rất đẹp, êm ả những cánh đồng bát ngát với đàn cò trắng phau phau. Mùa lúa Chiêm chín vàng óng ả, thanh bình, rộn tiếng hát ca. Những miền đất mà anh đã đi qua ở đàng trong, cũng có nơi đẹp như thế. Đó là vùng đất Cổ Lũy động (thuộc Châu Tư và Châu Nghĩa), nơi mà anh và những đồng đội đã từng chiến đấu dài ngày với quân Chiêm thành. Cổ lũy có thành Châu Sa nằm cạnh núi Ấn, quanh năm soi mình xuống giòng sông Trà, lững lờ uốn cong xuôi về Cửa Đại.

Từ ngày quân của vua Chiêm, Ba Đích Lại, thua trận, tướng Bồ Điền xin cống hàng, trong quân ngũ đã đồn rộ lên rằng vua Đại Ngu Hán Thương sẽ cho quân lính cùng gia đình ở đàng ngoài vào lập nghiệp ở Cổ Lũy động. Dân tình của thừa tuyên Diễn Châu và Nghệ An vốn dĩ nghèo lắm, nên ai nghe tin này cũng đều vui mừng. Họ tộc Bùi của anh ở phủ Tân Minh nhiều đời làm ăn siêng năng cần mẫn. Tuy cũng có chút thành đạt, nhưng giá như có cơ hội để xuôi Nam khai hoang lập nghiệp muôn đời, chắc là cha mẹ ông bà anh vui lắm.

Sinh ra từ một gia đình nổi tiếng nghề nhuộm ở làng Bùi Xá, anh được tuyển vào lộ quân với nhiều thanh niên cùng làng, để chăm lo việc quân kỳ. Có những đêm thức trọn để thiêu nhuộm cờ, canh ba nghe tiếng chim tu hú kêu, lòng anh nhớ nhà da diết, muốn về thăm lại quê hương. Nhưng rồi mỗi lúc ngắm nhìn những đạo quân kỳ của Đại Ngu ngạo nghễ trên bầu trời bao la, như mang cả hồn thiêng dân tộc, anh lại quên đi, cảm thấy an ủi và tự hào về quê hương nhỏ bé của mình. Hàng đêm anh vẫn nguyện cầu ngày hòa bình, để trở lại quê hương cấy lúa nhuộm vải, cưới vợ sinh con, nối dõi gia tộc và phụng dưỡng cha mẹ già. Một ước mơ đơn giản !

Thế nhưng, chiến tranh thì bao giờ cũng dai dẳng. Những người yêu nước chân chính thì vẫn hy sinh anh dũng, và đám gian thần thì vẫn thừa cơ hưởng lợi. Sáng nay, trướng quân được lệnh ngày mai lên đường trở về Tây Đô. Các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, sẽ có quan An Phủ Sứ mới Hoàng Hối Khanh về đảm nhiệm. Trong quân truyền tai nhau rằng đám gian thần Trần Thiêm Bình sang lạy lục nhà Minh xin thâu tóm Đại Việt. Nhà Minh sai tướng Trương Phụ, Mộc Thạnh đem đại quân sang xâm chiếm nước ta. Các đạo trung quân khác được điều về Tây Đô để cùng nhau kháng giặc. Anh đâu đã biết rằng đây là những năm cuối cùng của nhà Hồ, trước khi nước Việt rơi vào tay giặc Minh....

** ** ** **

Mùa Thu năm Đinh Mùi (1427).....Cuộc kháng chiến chống giặc Minh của dân ta đã đến hồi quyết liệt. Đêm ấy, Chi Lăng trăng sáng vằn vặt. Đêm đã sang canh, trại lính đã hạ đèn, những toán tuần binh vừa mới sang phiên. Ánh đèn từ trướng nguyên soái vẫn còn thắp sáng. Dường như cả đêm, tướng quân Lê Sát và Đinh Liệt bàn chuyện không ngủ. Quan binh trong doanh trại, ai cũng đoán được, chắc chắn sẽ có một sự kiện trọng đại xảy ra. Trước cửa trướng, một viên tướng tuổi trung niên đứng gát, râu quai nón, tay kiếm sắt tuốt trần, cặp mắt sáng ngời như xuyên suốt màn đêm. Đó là vị đội trưởng quản kỳ họ Bùi năm xưa, nay đã là một viên cận quan của Tiên phuông tướng quân Lê Sát.

Đêm ấy anh không ngủ, bởi vì có thể là đêm cuối cùng anh còn được thức. Mới hôm rằm tháng trước, anh nhận thư của gia đình báo tin đã liên lạc được với bà con ở đàng trong. Gia đình và họ tộc anh muốn xuôi Nam để khai hoang lập nghiệp, phát triển ngành nhuộm vải. Anh vốn biết tính sĩ diện gia tộc giòng dõi của họ hàng mình rất to tác. Nên quyết định rời xa quê hương là một vấn đề trọng đại nhằm hy sinh cho tương lai con cháu sau này.

Anh hiểu và thương yêu cha mẹ mình hơn ai hết. Họ cũng như anh, thiết tha từng ngọn cỏ bờ rau ao cá quê nhà. Lòng chiu chắt những bước chân lùa trâu ra ruộng, những đêm tát nước trăng soi cùng những câu hò chân chất... Cho nên dù rời quê chinh chiến đã lâu, anh vẫn nhớ mồn một từng niềm vui nỗi buồn của ngày tháng cũ, nhớ từng nỗi rạo rực của ngày hội thôn, nhớ cả những năm tháng mất mùa đói rét ở quê nhà.

Quê hương anh nghèo lắm. Đất đai chật hẹp thời tiết khắc nghiệt, nên nguyện vọng chén cơm manh áo vẫn là điều mơ ước. Vì nghèo khó nên người dân quê anh thường tự hào về những điều rất nhỏ. Lắm lúc, người ta hơn thua nhau qua từng lời ăn tiếng nói, so đo từng chút tài sản ruộng vườn nhỏ nhoi, và ngay cả những chuyện sinh con sinh cái nối dõi tông đường. Bởi vậy cũng không hiếm những người đã phải ngậm ngùi bỏ xứ ra đi. Chính anh đã từng nhiều lần mong muốn đưa cha mẹ bà con vào tận vùng phủ Chương Nghĩa để lập nghiệp sinh sống.

Thế rồi anh gia nhập quân binh, đánh Chiêm Thành, đánh giặc Minh bảo vệ quê nhà. Đã gần 30 năm chinh chiến, anh vẫn chưa hoàn thành ước nguyện nối dõi tông đường của mẹ cha. Dẫu biết gia đình buồn lắm, nhưng anh vẫn nghĩ không có nước làm sao có nhà. Chuyện tủn mủn hơn thua ở bạn bè lối xóm làng quê, sao sánh bằng nỗi nhục mất nước lầm than.

Làng quê anh nổi tiếng về nghề nhuộm vải bao đời, nên vốn có nhiều truyền thuyết. Người ta vẫn kháo nhau rằng phải có địa linh mới sinh nhân kiệt. Địa linh thì phải có núi thiêng sông rộng, uốn khúc như rồng chầu nhả ngọc. Tương truyền rằng, ông Tổ ngành nhuộm dạy cho con cháu chỉ được lập nghiệp ở những vùng địa linh nhân kiệt, để nhuộm cờ cho các đấng minh quân. Trong các loại nhuộm thì nhuộm cờ là khó nhất. Muốn nhuộm cờ đúng cách, thì lòng phải không được tà tâm gian trá. Trước khi vào nghề, phải chọn đêm trừ tịch, lên một ngọn núi thiêng hướng về giòng sông, mà thành tâm khấn vái lạy Tổ. Sau đó chích huyết ngón tay xin thề, rồi in dấu tay vào một tấm vải trắng. Dấu máu màu son, thì lòng người trong sáng, sẽ được ông Tổ chấp thuận. Loại người gian trá, tâm địa bất chánh thì vệt máu đen sì, mùi tanh, có hành nghề cũng không thành tựu được.

Ngày trước khi cha anh dẫn anh lên núi cúng Tổ, có nói rằng vết máu của anh là màu son nhất mà ông đã từng được thấy. Cũng có lẽ vì thế, mà bao năm nay, anh vẫn là quan Quản kỳ được tín dụng nhất trong hàng quân ngũ. Lá quân lệnh kỳ của ngài Tuyên phong đại phu Thừa chỉ Hàn Lâm viện Nguyễn Trãi, cũng chính tay anh đích thân kết nhuộm.

Xuất thân từ một người thợ nhuộm nên anh rất nhạy cảm với màu sắc. Anh thiết tha từng màu sắc của quê hương mình. Màu của trời, màu của đất. Anh yêu màu của giòng sông, màu của núi rừng, màu của cánh đồng, màu của luống rau xanh, màu của đôi mắt người thân, và cả màu của tà áo những cô thôn nữ cùng quê.... Nhưng đẹp nhất, với anh vẫn mãi mãi là màu đỏ của quốc kỳ. Đó là màu của hồn dân tộc và màu của trái tim anh. Màu đỏ ấy đã tạo lên từ những hy sinh của bạn bè, của người thân, của những chiến sĩ vô danh, của bao tiền nhân đã ngã xuống cho đất nước này được đứng lên. Từ bao năm qua, chính đôi tay anh đã nhuộm bao lá quốc kỳ cho đất nước. Mỗi lá cờ đều được gởi gắm trọn tấm lòng, lý tưởng, và nhiệt huyết của một người con hướng về quê hương.

Thế nhưng ngày mai đang đến, sẽ là ngày trọng đại nhất của dân tộc và cuộc đời của anh. Anh được tướng quân Lê Sát giao cho nhiệm vụ giữ lá hiệu kỳ trảm tướng Liễu Thăng tại Chi Lăng. Nếu Liễu Thăng chết, đoàn quân tiếp viện của quân Minh sẽ tan rã, công cuộc kháng Minh sẽ thành công, đất nước sẽ thanh bình. Lá hiệu kỳ của anh tuyệt đối phải được giưong cao để các tướng lãnh Trần Lựu, Đinh Liệt, và Lê Sát cùng nhau phối hợp công địch. Có thể ngày mai anh sẽ chết, nhưng lá hiệu kỳ phải sống, quê hương anh phải sống, và đất nước anh phải sạch bóng giặc thù. 

Đêm gần sáng, gà gáy canh năm, tiếng tu hú văng vẳng từ xa. Anh thấy lòng mình thật nhẹ nhàng, không muốn suy nghĩ gì thêm nữa. Những suy nghĩ miên man về nối dõi tông đường, danh lợi phú quý, khai hoang lập nghiệp.... rồi dường như cũng đã dần xa theo bóng đêm tan. Trời đã hừng sáng. Anh đã nhìn thấy màu đỏ rực ở cuối chân trời, và nghe tiếng gió reo ngạo nghễ của những đạo quân kỳ phất phới.

Và cuối cùng giờ phút thiêng liêng đã đến....

Nắng lên cao quá đỉnh ngọn cờ. Quân Minh ào ạt tiến từ Pha Lũy về tới Chi Lăng, hò hét đuổi theo đạo quân của tướng Trần Lựu. Tam quân chờ đợi, ngọn cờ đào của anh phất lên, thế trận biến đổi, tiếng hò la hỗn loạn. Quân binh ba hướng nhập một, giặc Minh kêu thét kinh hoàng, xác chết ngỗn ngang, máu đỏ thấm đất. Cả cánh quân giặc Minh liều mạng xông lên chiếm lấy hiệu kỳ. Một vết chém sau lưng, máu phun thành vòng, anh ngã xuống, lá hiệu kỳ rơi xuống, lấm đất. Anh trườn lên mạnh mẽ như con rồng của giòng sông quê anh. Hai tay nâng lấy hiệu kỳ một cách trân trọng. Máu anh thấm ướt chiến bào, anh lấy tay thấm máu nhuộm vào chỗ lấm. Lá hiệu kỳ càng đỏ thắm hơn xưa. Anh gượng đứng lên, giưong cao ngọn cờ, hét vang... " Thề không mất nước !"....

Tiếng hét anh vang vọng giữa một rừng người hỗn loạn, đám giặc Minh giật mình lùi xuống. Những người nghĩa quân đồng đội của anh đồng hét theo, xông lên dũng mãnh, tả xung hữu đột bảo vệ hiệu kỳ. Máu anh đẫm ướt lồng ngực, anh ngã xuống. Đôi tay đầy máu vẫn ghì chặt lá cờ, đôi mắt mở lớn. Anh nhìn thấy bầu trời xanh, anh nhìn thấy Mẹ với đãy hạt chàm xanh miệng luôn khấn nguyện. Anh nhìn thấy Cha giữa đám nương chàm xanh tốt, vai trần bóng lưỡng, quẹt trán nhìn về phương Nam. Anh nhìn thấy những đứa em bàn tay thoăn thoắt giặt xả từng cuộn vải thô. Anh đã thấy màu xanh của quê hương anh như đám lúa non đầu vụ. Anh thấy màu vàng của đám cúc dại mùa thu và vẳng vẳng câu ca dao trên môi người yêu dạo nọ... Rồi anh bỗng nghe tiếng reo hò vang dội của những người đồng đội hân hoan mừng chiến thắng, mắt anh từ từ khép lại...

Trận đó quân ta đại thắng, chém chết Liễu Thăng và hàng vạn quân Minh. Sau khi nghe tin thất bại, Mộc Thanh tháo chạy. Vương Thông xin rút quân về nước theo cam kết hội thề Đông Quan. Đất nước ta thanh bình và phục hưng trở lại, bắt đầu một kỷ nguyên mới của nhà Hậu Lê. Riêng anh, anh đã nằm xuống vĩnh viễn trong trận chiến đó. Không tìm được xác, nhưng những người đồng đội đã đem về cho gia đình chút hành trang còn lại của anh. Trong đó, người ta chỉ tìm thấy một lá thư báo tin từ họ tộc, và một tấm vải trắng còn in vệt máu đỏ như son.

Bà con gia đình anh cũng không còn ở làng Bùi Xá nữa, nghe đồn rằng đã lập nghiệp ở tận phủ Chương Nghĩa xã Ba La. Khi vào đàng trong, họ có mang theo đãy hạt chàm xanh, tiếp tục cần cù làm ăn, sinh sôi nảy nở con đàn cháu đống. Ngày nay, họ Bùi phát triển thành rất nhiều chi phái ở Quảng Ngãi, Sài gòn, Cần thơ... Hàng năm, vào tiết Thanh minh họ Bùi ở Ba La có hội cúng Xuân với nhiều con cháu các nơi tụ về.

Chắc hẳn trên mảnh đất quê hương này đã có bao nhiêu người nằm xuống như anh. Có thể trong bao nhiêu cuốn gia phả tộc hệ, sẽ không còn nhắc đến tên của những người anh hùng chân chính như thế. Họ sẽ không còn chi phái để truyền tụng đời sau. Đơn giản, họ đã hy sinh cho đất nước này được sống. Hồn thiêng của họ đã, đang, và sẽ ngự trị mãi mãi ở hồn dân tộc. Bởi đó là những đứa con đã dâng hiến tấm lòng son sắt cho quê hương.

Ngày nay, thỉnh thoảng vào mùa tế lễ Thanh minh hay cúng Chạp ở Ba La, người ta vẫn nhìn thấy một bóng người âm thầm thắp những nén nhang trước sân nhà thờ họ Bùi, và trên những ngôi mộ vô danh cạnh ngôi chùa làng. Người thanh niên ấy vẫn thường lặng lẽ đứng nhìn theo những làn khói tan dần theo gió bay xa, rồi cúi đầu bái lạy quay đi.....

PN 

Wednesday, May 12, 2021

Phiếm: Bảnh tỏn !

 


Hôm cuối tuần rồi có ông anh quen gọi, nói chuyện chơi về nạn viết chữ xấu và sai chính tả thời nay. Tính ra thời buổi này cũng ít người viết lách, còn đọc sách thì dường như ngày càng hiếm hơn. Rảnh rang họ coi facebook, coi youtube, hát karaoke, đi nhậu, chém gió .... nhanh gọn hơn nhiều, nên chuyện viết sai chính tả cũng là bình thường thôi. Nhớ hồi nhỏ đi học, nào là chọn lựa mực xanh mực tím, bút tre, bút bầu, nắn nón từng chữ cho đẹp. Giờ thì mình viết chữ như cua bò, viết vài dòng đã mỏi tay, vì lâu quá không viết. Con nít ở Mỹ đại đa số là viết chữ xấu, vì đâu có môn tập viết kẻ ô như bên mình. Vậy mà cũng làm nên ông này bà nọ, lên cung Trăng sao Hoả .... Nhiều ông tổng thống Mỹ viết chữ xấu hoắc, viết kiểu đó mà đi học trường làng VN thế nào cũng bị khẽ tay. Còn nếu kêu mấy ông đó viết chữ thì chắc chắn là sai chính tả hà rầm, vì toàn là có người viết dùm. Vậy mà họ cũng là những nhân vật quyền lực nhất nhì thế giới. Bởi vậy mình nghĩ, thời buổi này cũng nên coi nhẹ chút nạn chữ đẹp chữ xấu, chính tả đúng sai (đừng sai nhiều quá :-)), vì đã có quá nhiều công cụ hổ trợ kiểm tra giúp cho con người. Elon Musk (Mỹ) hiện đang theo đuổi dự án Neuralink, cài chip vào bộ não con người để tương tác với môi trường chung quanh. Nên có khi vài năm nữa, chỉ cần nhìn máy tính hoặc phone và suy nghĩ thôi, là đã có công cụ viết chữ thay mình rồi. Ai biết được ? Chỉ bất tiện là khi đó ai mà "nghĩ một đường làm một nẻo" thì dễ bị tréo cẳng ngỗng thôi :-) .

Trở lại cái chữ "bảnh tỏn" mà anh nhắc đến. Thực ra mình cũng chẳng biết là có nguồn gốc từ đâu, có lẽ bắt nguồn từ tiếng địa phương hoặc từ lóng gì đó, nói riết rồi thông dụng thôi. Còn hỏi ngã gì cũng không biết, chỉ thường thấy thiên hạ viết dấu hỏi cả "bảnh" và "tỏn". Hồi nhỏ thường nghe nói như "sáu Bảnh ", thằng đó "bảnh" ghê, bảnh hả mầy ? ....v.v... nhưng không quan tâm lắm. Mãi cho đến khi đọc "Bố Già" (Godfather) của Mario Puzzo, có một câu nói của Vito Cỏleone được Ngọc Thứ Lang dịch ra tiếng Việt, rất ấn tượng, và đã đi suốt với mình mấy chục năm qua. Đó là câu - ‘Mình "bảnh" mười, nên để bạn bè nghĩ mình "bảnh" một. Mình "lỗi" một, nên để kẻ thù nghĩ mình "lỗi" mười !’

Dĩ nhiên đó chỉ là ý kiến cá nhân của tác giả, chẳng đúng chẳng sai gì, chỉ là tuỳ theo quan niệm mỗi người. Tuy nhiên với mình đây là một trong những câu nói hay nhất của Mario Puzzo, và từ đó nhớ hoài chữ "bảnh" này. Tất nhiên là cái "bảnh" của Vito Corleone khác xa với cái "bảnh" của mấy anh giang hồ làng xã, quan chức xôi thịt, hoặc các trọc phú đại nhân... Cho nên đôi lúc dẫu có cùng ngôn từ cũng không thể đánh đồng ý nghĩa nội dung với nhau được. Mình thì lúc nào cũng quan niệm chữ nghĩa chỉ là phần "xác", ai muốn nói sao cũng được. Quan trọng là cái phần "hồn" đằng sau mà mỗi người dành riêng cho từ ngữ đó. Nhưng đã viết lách thì thuộc về quy ước chung rồi, nhiều khi viết sai chữ hoặc bỏ dấu lộn dễ gây ra hiểu lầm :-) .

Mà muốn nói cho trọn nội dung ý nghĩa của chữ "bảnh" thì cả đời nói cũng chửa hết. Nhiều người chết lên chết xuống cũng vì chữ "bảnh". Bao nhiêu ân oán hận thù, đau khổ, ganh ghét đố kỵ cũng vì tranh giành nhau chữ "bảnh". Ở VN nhiều vụ đâm chém anh em bạn bè, cùng làng cùng xã với nhau, cũng chỉ vì hơn thua nhau chữ "bảnh". Làm quan có cái "bảnh" của nhà quan, giàu có cái "bảnh" của nhà giàu, nghèo có cái "bảnh" của người nghèo, bằng cấp có cái "bảnh" của bằng cấp, kẻ sĩ có cái “bảnh” của kẻ sĩ, liêm khiết có cái "bảnh" của liêm khiết, trọc phú có cải "bảnh" của trọc phú, VK về quê có cái "bảnh" của VK...v.v.. Còn hệ quả, hệ lụy của nó thì muôn màu muôn sắc, làm sao kể hết ?

Ngoài lề chút, nhân nói tới chuyện "bảnh tỏn" mình nhớ đến một câu chuyện xưa. Có một ông kia giàu có, quyền cao chức trọng, nức tiếng một vùng. Đại khái như là nhiều bằng cấp chức sắc, sổ đỏ cả ký, đô la cả bao, hột xoàn chọi u đầu.... Ông ta rất thích hơn thua, thích được bảnh, thích được ca tụng. Một hôm nghe nói trên núi cao có vị sư nghèo tu hành đức độ, thông hiểu nhiều vấn đề. Ông bèn sai người chở lên tìm gặp nhà sư để thử tài cao thấp. Cuối cùng thì ông cũng gặp được nhà sư nghèo, đang cuốc đất trồng rau. Ông liền bắt một con sâu bỏ vào lòng bàn tay nắm lại, đến đố nhà sư :

- Nghe nói ông tu hành thông thái, vậy ông có biết con sâu trong tay tôi đang nắm là con sâu sống hay con sâu chết ?

- Dạ thưa ngài, đó là con sâu chết. Nhà sư từ tốn trả lời .

Ông nhà giàu cười sảng khoái :

- Thế mà tưởng sư thầy tài giỏi lắm.

Ông liền xoè tay chỉ cho nhà sư thấy con sâu còn sống, và dương dương tự đắc, bảnh tỏn ra về vì đã mưu trí thắng được nhà sư.

Về nhà, ông tự hào kể lại cho người cha của ông nghe, và nói:

- Từ nay cha đừng có cái gì cũng một khen hai khen ông sư già đó nhé. Có một chuyện nhỏ vậy, mà cũng không đủ trí tuệ để đoán biết, phải chịu thua, sao đáng gọi là người thông thái ?

Người cha trầm ngâm thật lâu, rồi buồn rầu nói với đứa con tài giỏi giàu có của mình:

- Con ơi, con có biết nhà sư đã giúp con không sát hại con sâu vô tội đấy không ?

Thôi, chuyện xưa kể lại cho vui. Chúc anh một tuần an lành & nhẹ nhàng :-) .

PN


Tuesday, April 20, 2021

Tản mạn - Đỗ Quyên & tháng tư


Tháng Tư, mùa của hoa Đỗ quyên. Rực rỡ, thuỳ mị, kín đáo, phô trương, đài các, dân dã ..... hàng trăm loại khác nhau tưng bừng khoe sắc nở rộ. Ở tiểu bang NC và SC, nhiều nơi rất nổi tiếng về loài hoa này. Nhiều địa phương, làng xã, thành phố, cứ đến tháng này là tổ chức hội hè đình đám, lễ hội hoa đăng, ca hát nhảy múa, nấu ăn ngoài trời... Mừng luôn mùa xuân nắng ấm tươi đẹp sau một mùa đông lạnh giá ngủ vùi :-).

Bên VN những tỉnh miền núi cũng có hoa đỗ quyên, nhưng chỉ hạn chế ở một số giống nhất định. Bên này thì đỗ quyên (azaleas) có nhiều chủng loại vô cùng, không sao nhớ xuể. Có loại chính gốc tại địa phương, có loại du nhập từ nhiều nơi khác, hoặc châu lục khác, rồi đồng hoá. Cũng có nhiều loại được con người lai tạo nhân giống ra thêm. Tên tiếng Anh thường gọi của hoa đỗ quyên là Azaleas. Nhiều người rành rẽ phân biệt từng chi tiết chủng loại Azaleas hoặc Rhododendron, giống lá lớn giống lá nhỏ, giống rụng lá mùa đông, giống cây xanh bốn mùa, giống bông lớn bông nhỏ, giống nhuỵ dài nhuỵ ngắn, giống trổ hoa mỗi năm một lần, giống trổ hoa nhiều lần trong năm (encore) ..v.v. Nói tóm lại nạn “phân biệt chủng tộc” vốn là do con người vẽ ra thôi, chứ tất cả loại đỗ quyên cũng chỉ có chung một nguồn gốc là họ Ericaceae :-). Còn tên tiếng Việt “Đỗ Quyên” chắc là có nguồn gốc từ chữ Hán Nôm rồi. Mà nói đến Đỗ quyên ở TQ thì có những câu chuyện dài thú vị. Từ những giai thoại nổi tiếng của Thi Tiên Lý Bạch, Thi Thánh Đỗ Phủ thời nhà Đường, cho đến những câu chuyện cận đại của nữ sĩ Quỳnh Dao (Đài Loan), nghe hoài không hết chuyện.

Tháng tư, cũng là mùa của những câu chuyện dài của đất nước và con người VN. Trong nước, ngoài nước gì cũng vậy. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng mỗi lúc tháng tư về, vẫn là những điệp khúc quen thuộc, thắng bại ghét thương, hận thù dai dẳng, mâu thuẩn ngộ nhận, hiểu lầm hiểu sai, ngạo nghễ vô cớ ..v.v.. Niềm vui nỗi buồn cứ dấm dúi nhau như quán tính, đến hẹn lại lên, mà không cần ngoái đầu nhìn lại để phân tích đúng sai. Một cuộc chiến không cần thiết, tưởng chừng có thể tránh được, nhưng lại xảy ra và kéo dài qua bao thập kỷ làm cho đất nước tang thương đổ nát. Bi kịch chiến tranh phủ xuống từng mỗi gia đình, mỗi giòng họ, mỗi xóm làng ...ly biệt đau thương không sao kể hết. Máu và nước mắt của con dân Việt rải khắp trên mọi nẻo đường quê hương, chỉ để hy sinh cho một cuộc chơi "ý thức hệ", được tạo ra bởi tham vọng và nỗi sợ hãi của một vài nước lớn. Ngay cả những quyết định thắng thua, chấm dứt cuộc chiến, cũng được định đoạt và đem ra ngã giá trên bàn cờ lợi ích của họ. Lý tưởng quốc gia hào hùng của bao thế hệ thanh niên VN yêu nước đã ngã xuống cho một cuộc chiến không đem lại tương lai tươi sáng cho dân tộc. Tất nhiên là trong cuộc chiến nào thì người dân đen cũng là những kẻ chịu thiệt thòi nhiều nhất. Nhưng người ta vẫn gọi nhau là bên thắng bên thua, mặc dù chưa chắc hiểu rõ nguyên nhân và giá trị (nếu có) của cuộc chiến tranh đó. Và hàng năm vũ điệu "nghê thường" ấy lại cứ trỗi lên như một quán tính vô thức. Dĩ nhiên điệp khúc đó sẽ không phải là tờ bảo chứng cho một đất nước sâu sắc hơn văn minh hơn, một dân tộc sáng suốt hơn hạnh phúc hơn. Mà đôi khi đó chỉ là những câu chuyện biết rồi, nói mãi !

Và thời gian trôi qua, những ranh giới địa lý không còn nữa, nhưng ranh giới trong lòng người thì vẫn chưa bao giờ (hoặc không bao giờ) lành lặn hẳn. Kẻ "thắng" người "thua" đều có những nỗi niềm riêng của họ. Đặc biệt là hàng năm, cứ được nhắc nhở như tới phiên đi khám định kỳ. Hiểu lầm càng hiểu lầm, mâu thuẩn càng mâu thuẩn, hận thù kéo dài cho đến chết. Điều đó có đem lại một viễn cảnh khả quan cho đất nước hay chăng ? Điều đó có làm cho một dân tộc đồng lòng chung sức, đoàn kết gắn bó, có tiếng nói chung hay chăng ? Chắc ai cũng có thể dễ dàng nghiệm ra câu trả lời cho chính bản thân mình !

Thậm chí có nhiều người 50 năm trôi qua, gần cả một đời người, vẫn còn tranh cãi nhau chữ "giải phóng", mặc dù trong lòng hiểu rõ nhau mồn một. Hay là phải đợi nghe lại một Dương Thu Hương ngồi bệt xuống giữa lòng đường Saigon mà khóc, hoặc một Nguyễn quang Lập "Saigon đã giải phóng tôi", hoặc Bảo Ninh kể lể “Nỗi buồn chiến tranh", hoặc Đỗ Trung Quân xin "Tạ lỗi Trường Sơn".... mới hiểu thêm ra ý nghĩa của một ngôn từ đã khuất ? Trên thế giới cũng có những đất nước có hoàn cảnh tương tự, nhưng không ai kéo dài mâu thuẩn, hơn thua nhau bằng những chữ nghĩa buồn cười như thế. Ở nước ngoài, đối với người VN tị nạn tha hương, tháng tư hàng năm vẫn là những khúc nhạc buồn "u uẩn chiều lưu lạc". Thế hệ lưu vong thứ nhất sắp qua đi, thế hệ thứ hai, thứ ba ....còn lại gì trong những gói ghém, mong đợi kế thừa đó ? Bốn mươi mấy năm đã trôi qua, đất nước con người VN rồi sẽ đi về đâu ?

Tháng Tư năm nay không còn u ám ảm đạm như năm ngoái (ít ra là ở nước Mỹ). Cả nửa nước Mỹ đã chích ngừa, dịch bệnh không còn là nỗi lo lắng ám ảnh như năm trước. Hoa lá cây cỏ cũng xinh tươi hơn. Chim chóc thỏ nai dường như cũng sinh sôi nhiều hơn (dạo này làm vườn gặp thỏ con, chim con hoài). Hàng năm, vào mùa này mình thường chở con lên Biltmore House, lên Ashville, lên rặng Blue Ridge để ngắm hoa lá vào xuân nở rộ. Nhưng năm nay dịch bệnh chưa dứt, vẫn còn chưa đi được. Vườn nhà mình cũng có khoảng mười mấy loại đỗ quyên khác nhau, đành ra sau làm ly rượu ngắm cây nhà lá vườn cho đỡ ghiền vậy :-) . 

Nói đến hoa đỗ quyên, thì xưa nay người ta thường nhắc đến Thánh thi Đỗ Phủ. Ông có nhiều bài thơ nổi tiếng, trong đó có bài dịch ra tiếng Anh tựa là “Sea of Blood Red Azaleas". Riêng mình, cứ đến tháng Tư nhìn hoa đỗ quyên nở rộ, lại nghĩ đến một bài thơ của Thi Tiên Lý Bạch - "Tuyên Thành kiến đỗ quyên hoa":

Tuyên Thành kiến đỗ quyên hoa

Thục quốc tằng văn tử quy điểu
Tuyên Thành hoàn kiến đỗ quyên hoa
Nhất khiếu nhất hồi trường nhất đoạn
Tam xuân tam nguyệt ức Tam Ba.

Tạm dịch nghĩa là:

Đã từng nghe tiếng chim quyên trên đất Thục
Nay đến Tuyên Thành lại nhìn thấy hoa đỗ quyên
Mỗi một tiếng kêu vọng về đau như đứt ruột,
Cứ đến tháng ba mùa xuân lại nhớ đất Tam Ba !

Bài thơ này đã có nhiều "nhà thơ" VN dịch ra tiếng Việt. Tuy nhiên vì nhiều bản dịch quá, nên không biết theo ông nào, chỉ xin mạn phép dịch nghĩa thôi. Mình thì chưa từng ở đất Thục, chưa từng đến Tuyên Thành, nhưng đã từng lớn lên ở đất Việt và từng sống ở đất Tây. Mỗi độ tháng tư về rất thích ngắm nhìn đỗ quyên nở rộ, và cũng đã từng bao lần đau đáu nghĩ về quê nhà .....!

PN (2021)




Sunday, March 14, 2021

Tản mạn : Quyền "không sợ hãi"


Dẫu đã từng nghe từng đọc nhiều lần về vụ thảm sát Gạc Ma, nhưng lần đầu tiên đến đài tưởng niệm Gạc Ma ở Cam Ranh, mình đã đứng lặng người. Một cảm xúc khó tả. Một nỗi buồn sâu sắc về thân phận con người và dân tộc. Những người lính chiến ngã xuống khi còn rất trẻ. Những cái chết không được quyền bắn trả để tự bảo vệ mình. Thậm chí có người còn chưa bao giờ có dịp được chụp một tấm hình trong đời, nên lúc làm bia tưởng niệm chỉ để một ngôi sao tượng trưng. Mình cũng rất tôn trọng và biết ơn những người đã đủ tâm huyết và dũng khí để xây dựng nên khu di tích này cho đời sau tưởng niệm. 

Đất nước VN đã trãi qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Có biết bao nhiêu thế hệ anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ quê hương xứ sở và lý tưởng dân tộc. Ở từng thời kỳ lịch sử, thể chế chính trị có thể khác nhau, lý tưởng sống của mỗi cá nhân có thể có sự khác biệt, nhưng lý tưởng dân tộc bao giờ cũng là một mẫu số chung. Xưa nay triều đại nào đi ngược lại với quyền lợi của đất nước và lý tưởng của dân tộc đều không thể trường tồn, thay thế chỉ là chuyện sớm muộn. Còn đối ngoại, tất nhiên ở cạnh một người láng giềng to lớn, tham lam, và xấu tính như TQ, dân tộc VN không những phải kiên cường bất khuất, mà càng phải khó khăn hơn để học biết cách tự bảo vệ lấy mình. Và mấy ngàn năm trôi qua, bao nhiêu xương máu của con dân nước Việt đã đổ xuống trên mảnh đất này, nhưng đó chưa bao giờ là một nỗi sợ hãi !!!

Nhìn lại các thời kỳ Hồng Bàng, Bắc thuộc, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, rồi mãi cho đến ngày nay, TQ bao giờ cũng bắt nạt và lăm le xua quân đánh chiếm nước ta. Trên thế giới quả nhiên là chưa có một đất nước nào lại tham lam & ngang ngược dai dẳng đến thế. Tuy nhiên dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục và sợ hãi trước những thế lực ngoại xâm. Bản hùng ca dân tộc VN vẫn ngàn đời lưu danh những liệt sĩ vô danh, những anh hùng dân tộc, những tiền nhân như Triệu quang Phục, Mai Hắc Đế, Dương đình Nghệ, Bà Trưng Bà Triệu, Lý thường Kiệt, Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung ...v.v... Rồi cho đến những năm tháng gần đây, những tử sĩ Hoàng Sa 1974, Tây Bắc 1979, Gạc Ma 1988....đã anh dũng chiến đấu và hy sinh góp phần gìn giữ đất nước. Ngay cả những đứa con ngư dân bình thường của VN cũng ngày đêm đánh đổi máu và nước mắt, nhục hình và thân xác của họ để bám biển giữ làng, để mưu cầu từng chén cơm manh áo lương thiện ngay chính trên quê hương lãnh hải nước nhà.

Vậy ai đã cho họ cái quyền "không sợ hãi" ? Không ai cho họ cả, đó là quyền tự nhiên của con người, quyền được sống hiên ngang, quyền biết lẽ phải, và quyền được yêu thương đất nước và dân tộc của họ, mà không một thế lực nào có thể cưỡng chế được. Một dân tộc sống trong nỗi sợ hãi sẽ không có những Trần Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nguyễn Trung Trực, Hoàng Hoa Thám, Đinh Công Tráng, Phạm Hồng Thái, Cô Giang, Cô Bắc ....Một dân tộc khiếp nhược sẽ không thoát khỏi sự xâm lược và đồng hoá của những nước lớn để tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Lâu nay nhiều người thường quan tâm và nói nhiều đến “dân sinh, dân trí, dân khí" của đất nước. Đó là những trăn trở rất đáng trân quý trong bất kỳ thời đại nào, vì đó là tiền đồ của một dân tộc. Tuy nhiên sẽ không cần thiết nói về những điều đó, nếu như con người không có được những quyền hạn căn bản nhất, trong đó có quyền "không sợ hãi". Xưa nay trên thế giới, các thế hệ thanh niên sinh viên luôn là biểu tượng của sự mạnh mẽ, dấn thân, tiến bộ, hy sinh vì lẽ phải. Từ các nước Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nga, Nam Phi, Hongkong ..v.v.. cho đến đất nước VN, đều như thế cả. Từ các phong trào phản chiến, chống kỳ thị, đòi bình đẳng, chống độc tài ... trên thế giới, cho đến các cuộc biểu tình đấu tranh đòi hỏi công bằng, lẽ phải trong các ngành nghề hoả xa, đồn điền, bến tàu, bến cảng vào thời Pháp thuộc, chiến tranh VN...v.v...đều bắt đầu từ sự "không sợ hãi" mà có. Suy cho cùng, sự can đảm dấn thân, hy sinh để cải cách chính là những động lực cần thiết cho sự tiến hoá của xã hội con người, ngày mỗi tốt đẹp hơn. (Ở đây mình không muốn nói đến các mặt trái tiêu cực, bị lợi dụng, lạm dụng, để tuyên truyền kích động cho những mục đích khác).

Thế nhưng trong những thập niên gần đây, sự sợ hãi ngày càng lan rộng một cách rất lạ lùng và đáng sợ. Mọi giới mọi tuổi mọi nơi, dường như đã cam chịu và quen thuộc với một nỗi sợ hãi vô hình. Có thể là sợ phiền phức, sợ liên lụy, sợ ảnh hưởng đến chén cơm manh áo. Thậm chí nhiều người đã sợ nhắc đến những "anh hùng ca" của dân tộc, sợ nói về những sự kiện lịch sử bị TQ xâm lược, và sợ nói đến những bài học đau thương của chính đất nước mình. Khó hiểu đến mức vô lý. Rất nhiều người không dám nhắc đến cuộc hải chiến Hoàng Sa, chiến tranh biên giới Tây Bắc, hoặc vụ thảm sát Gạc Ma. Phải đến bao nhiêu năm sau khi cuộc chiến tranh xâm lược 1979 kết thúc, mới thấy một số cơ quan truyền thông và báo giới dám nhắc đến ngày tưởng niệm một cách dè dặt. Vụ thảm sát Gạc Ma cũng vậy. Ngay cả cái tên đích danh cũng được thay thế bằng chữ "lạ". Và rất ngạc nhiên là ít ai thắc mắc tại sao điều đó đã xảy ra ?!
Trong khi đó, những bài viết nhảm nhí về một vài cô người mẫu ăn mặc thiếu vải, hoặc ông đại gia bà trọc phú nào đó lên mạng đôi chối nói xàm, hoặc ngài quan chức nào đó tham nhũng xộ khám... thì lại sôi nổi và lôi cuốn được đông đảo lượng người tham gia. Chuyện “thần y”, “thánh chửi”, “thầy cúng”... tào lao được quan tâm nhiều hơn một bài viết về sự tồn vong chủ quyền của đất nước. Một phong trào thơ ca "sông núi trên vai" rầm rộ, lại ít dám nhắc đến những người con đã nằm xuống ở Gạc Ma, Tây bắc để bảo vệ núi sông. Những biến cố đau thương mất mát của dân tộc như Hoàng Sa, Trường Sa, chiến tranh Tây Bắc, biển đảo biên giới bị lấn chiếm...lại ít ngưòi biết đến hơn là chuyện của vài gã giang hồ vặt chuyên ăn hiếp dân lành, hoặc tình yêu sân sau của vài tay tham quan vơ vét. Người ta không khóc khi nghe tin người dân của họ bị TQ bắn giết đánh đập trên biển, nhưng lại khóc vật vã khi không được chen chân chào đón một ngôi sao Hàn quốc hạng ruồi. Người ta không thấy tủi nhục khi CS TQ lên mặt đàn anh "dạy dỗ" giết chết mấy chục ngàn con dân VN vô tội, nhưng lại tự hào về cây bánh tét dài nhất. Trong lúc nhà cầm quyền CS TQ đang ngang ngược trên lãnh hải quê nhà ngoài biển Đông, thì giới trẻ thanh niên VN nhập viện cả gần chục ngàn người vì nhìn đểu, hát hò hơn thua, đánh nhau dịp Tết. Nhiều người thắc mắc về chức năng của các bộ giáo dục, văn hoá, truyền thông, các ban ngành hữu trách, và đổ lỗi cho nhau. Nhưng thực ra ai cũng gặm nhấm được nỗi đau đang âm ỉ trong lòng !

Trong lịch sử của Hoa Kỳ vào thời đệ nhị thế chiến, có bài diễn văn rất nổi tiếng của tổng thống Franklin D. Roosevelt. Đó là tuyên ngôn về "Four Freedoms" (4 quyền tự do). Ông nói đến 4 quyền căn bản và cần thiết nhất của con người, đó là quyền tự do ngôn luận (Freedom of speech and expression), tự do tín ngưỡng (Freedom of worship), tự do thoát khỏi sự thèm khát (Freedom from want), tự do thoát khỏi sự sợ hãi (Freedom from fear). Nền tảng pháp lý này đã góp phần giúp người Mỹ mạnh mẽ vươn lên, vượt qua thế chiến thứ 2, và trở thành một quốc gia lớn mạnh nhất thế giới. Cho đến nay, hàng năm giải thưởng "Four Freedoms Award" vẫn được trao tặng cho những nhân vật trên thế giới đã sống và bảo vệ những tôn chỉ đó. Đức Dalai Lama, bà thủ tướng Đức Angela Merkel, ông Nelson Mandela ... là những người đã từng đoạt huy hiệu cao quý này.

Nhưng đó là chuyện ở xứ người. Còn chuyện xứ ta, đôi lúc sự "khôn khéo", "dĩ hoà vi quý", được cho là những kinh ngiệm "quý báu" để mưu cầu cuộc sống yên ổn, nệm ấm chăn êm, nhưng đó cũng chính là những chất liệu nuôi dưỡng môi trường sợ hãi. Nhiều người thấy sai cũng không dám nói. Đọc mạng xã hội, có khi thấy thích cũng chẳng dám “like”. Tâm lý sợ phiền phức, sợ bị liên lụy, sợ bị chụp mũ... là những sát thủ vô hình của lòng dũng cảm. Ngay cả như việc bầu cử ở xứ tự do mà nhiều người vẫn sợ, không dám nói thẳng vì chẳng dám đi ngược lại ý kiến của bạn bè hoặc người thân chung quanh !

Mình thì vẫn luôn quan niệm rằng không ai có quyền bắt người khác phải sống trong sự sợ hãi. Tuổi thơ lớn lên của mình đã từng chứng kiến bao nhiêu cảnh tượng sợ hãi và nỗi ám ảnh xảy ra chung quanh mỗi ngày. Một đứa bé con cũng phải sợ hãi "ông kẹ, ông ba bị" mà thực tế chưa bao giờ nhìn thấy. Thời đại ngày nay thông tin phát triển rộng rãi. Mọi người đều có thể kiểm chứng lịch sử thế giới, để thấy rằng không một quốc gia nào sống trong nỗi sợ hãi lại có thể phát triển vững mạnh được. Cũng không có một đất nước nào hy sinh tranh đấu để thay thế nỗi sợ hãi này bằng một nỗi sợ hãi khác. Dân sinh, dân trí, dân khí, là những điều mong muốn của mọi đất nước. Nhưng điều đó sẽ không có được, nếu như con người phải cam chịu sống với những ám ảnh mơ hồ và nỗi sợ hãi của bản thân hoặc của gia đình họ.

PN (viết ngày 14/3 - tưởng niệm Gạc Ma)



Sunday, February 14, 2021

Tản mạn về Xuân Di Lặc



Mấy hôm nay, thời tiết miền Đông Hoa kỳ mưa lạnh, kéo dài nhiều ngày, lan qua nhiều tiểu bang. Sáng mùng một tết, dẫn con đi lễ chùa, rất lạnh, nhưng vẫn thấy nhiều người ở xa đi đến rất sớm. Chùa vẫn đầy hoa quả, hương đèn rực rỡ, vẫn băng rôn Mừng Xuân Di Lặc. Về nhà tự nhiên muốn viết một chút gì về ông Phật Di Lặc.

Chắc hẳn nhiều người xưa nay cũng biết ngày mùng một Tết là ngày vía đức Phật Di Lặc. Nhưng nếu hỏi tiếp đến ngày vía là ngày gì, đức Phật Di lặc là ai, tại sao Ngài lại có cái hình dáng vui vẻ từ bi hoan hỉ như thế, thì có khi là mỗi người hiểu biết mỗi cách khác nhau. Có thể mỗi nơi, mỗi chùa, mỗi thầy, mỗi sư, giảng giải mỗi kiểu. Mình thì vốn không quan tâm lắm đến những diễn giải chúc tụng khác nhau, trái lại rất thích ngắm nhìn hình ảnh vui vẻ của Ngài Di Lặc mỗi lúc đi chùa. Dẫu biết rằng đó chỉ là biểu tượng hoá thân do người đời nghĩ ra, tạo tác, nhưng đầu năm nhìn thấy cái thân tượng cười hề hà hiền lành của Ngài là đã cảm thấy nhẹ nhàng và thanh thản. Mà cũng không cần phải đợi đến tết nhứt, cứ mỗi lúc ưu tư, suy nghĩ gì nhiều, nhìn ông Phật Di Lặc là thấy vui vẻ rồi :-) .

Còn bên Tây thì cứ "Happy Buddha" mà gọi ông, nhiều người còn nhầm lẫn giữa "ông Địa" và ông Di Lặc. Lâu nay có nhiều người cho rằng Phật Di Lặc sẽ là vị Phật tái sanh vào lần tới, gọi là hội "Long Hoa", để cứu giúp con người trên cõi thế gian. Mình thì không hiểu biết lắm về những câu chuyện như thế này nên không dám bàn đến. Tuy nhiên, mình vẫn quan niệm rằng thế gian luôn có nhiều vị "bồ tát" hiện thân cứu giúp thiên hạ, chứ không phải chỉ có "Phật" ra đời mới làm được chuyện đó. Cũng không phải chỉ có theo đạo Phật thì mới thành "Phật" được. Những bậc độc giác Phật ngày xưa chưa từng nghe qua kinh pháp của Phật Thích Ca, mà họ cũng trở thành những đấng giác ngộ. Mẹ Teresa, các vị thánh tử đạo, hoặc nhiều vị giáo sĩ Thiên chúa giáo đã hy sinh thân xác cả cuộc đời, đi khắp nơi để giáo hoá và cứu giúp nhân loại, đó cũng là những vị "bồ tát" đáng kính. Bao nhiêu nhà khoa học, bác sĩ, y tá đã hy sinh cái riêng, ngày đêm đối đầu với cái chết để cứu giúp bịnh nhân dịch bệnh không ngừng nghỉ. Chung quanh ta hàng ngày, có biết bao nhiêu vị cống hiến hết tài sản, công sức của họ để cứu giúp người khác và xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau. Biết bao nhiêu chư tăng ni, sư sãi, cha đạo, mục sư, sơ dì ...đã ngày đêm xả thân vì người khác. Thậm chí có nhiều vị chỉ là dân đen bình thường, nghèo khổ buôn gánh bánh bưng, chạy xe xích lô, xe ôm, xe thồ, phu vác... mỗi ngày, vẫn không ngần ngại hy sinh cả miếng ăn cuối cùng của họ, để thầm lặng giúp đỡ kẻ khó, làm cho cuộc sống xã hội ngày càng ý nghĩa hơn, tử tế hơn. Đó cũng là những vị bồ tát trong đời thường vậy !

Riêng nói về Phật Di Lặc, xưa nay mình rất thích đọc và tìm hiểu những kinh sách nói về Ngài. Theo lịch sử PG, ngài là một vị Bồ tát, có tên là Maitreya (tiếng Sanskrit), hoặc Metteyya (tiếng Pali). (Xin mở ngoặc nói về khái niệm "bồ tát". PG Bắc truyền Mahayana cho rằng đó là những đấng giác ngộ, nhưng họ phát nguyện không về cõi Phật, mà chọn con đường cứu giúp và giải thoát chúng sanh bằng những hình thức khác nhau như tái sanh, giáo huấn, phù trợ, cứu giúp, dạy dỗ ... cho đến khi viên mãn. Ví dụ như ngài Địa Tạng, ngài Quan Âm, ngài Di Lặc ..v.v. Khái niệm “bồ tát” chủ yếu được giới thiệu ở PG Đại thừa (Bắc truyền), nên có nhiều người đi chùa PG Nam truyền (Theravada) thường không nghe nói đến những khái niệm này).

Nói rõ thêm, nguyên thuỷ trước sau PG cũng chỉ có một "Phật Thừa" thôi. Tuy nhiên trãi qua nhiều giai đoạn phát triển, PG đã hình thành nên một số tông phái có những quan điểm và cách tu tập chuyên biệt do ảnh hưởng nhiều yếu tố khác nhau. Có thể là liên quan đến tuệ căn của các bậc truyền thừa, trình độ nhận thức, nghiệp lực của họ, hoặc các yếu tố lịch sử văn hoá dân tộc, bất đồng quan điểm, chiến tranh phân chia, chính sách bạo quyền ... của từng mỗi quốc gia, hoặc từng giai đoạn lịch sử, mà phân chia thành nhiều nhánh rẽ khác nhau để phù hợp với tư duy và bối cảnh tu tập của họ. Nhưng đó cũng chỉ là những phương tiện khác nhau cùng dẫn đến một mục đích chung, là sự giác ngộ. Thực ra, thay đổi là quy luật tất yếu của vũ trụ, bao gồm thế giới con người. Và thay đổi để phù hợp hơn là một chuyện tốt. 

Còn nếu nói về tính phân hoá, thì gần như là thuộc tính của con người, xưa nay vẫn thế, không ít thì nhiều. Và tôn giáo nào thì cũng vậy, Ấn giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành .... đều cũng trãi qua những vấn đề tương tự. Một ông cha làm ruộng cả đời, chết để gia tài lại cho mấy đứa con. Đứa bán mua nhà mua xe, đứa bán đánh bạc, đứa đào ao nuôi tôm, đứa bị giải toả đền bù. Dăm ba ông tị nạn ra đi cùng một lý do, áo chưa ráo nước biển, đã chia năm xẻ bảy cãi nhau miệt mài. Một hội đồng hương bé tí, ăn cơm nhà vác ngà voi, không lương không lậu, cùng quê cùng xóm, mà vài ba hôm đã không hợp ý nhau, đâm thọc nói xấu nhau, ra toà, tan bầy xẻ nghé. Huống hồ chi là những dị biệt sản sinh trong mấy ngàn năm truyền bá cho hàng triệu, hàng tỉ con người có đầu óc tư duy, và trình độ khác nhau. Nói chi cho xa, mới đây thôi, nội cái vụ bầu cử Mỹ 2020 mà biết bao nhiêu người VN mất cả bạn bè người thân. Gia đình anh em mâu thuẫn, chia bè chia phái, trở bạn thành thù. Thậm chí cho tới hôm nay vẫn còn tiếp diễn thời hậu lê .... lết, tin vịt tin gà cứ gởi, cứ “lai chim”, cứ bên này đá móc bên kia :-). Nhưng đó cũng là những chuyện không lạ lẫm gì. Xưa nay ai cũng biết thay đổi, hợp tan là những chuyện tất nhiên của quy luật vô thường. Nhưng tất nhiên là có cái thay đổi làm cho tốt hơn, thì cũng có những thay đổi làm cho xấu đi !

Trở lại nói về Ngài Di Lặc. Theo lịch sử PG, ngài Asanga (Vô Trước) sinh ra vào khoảng thế kỷ thứ 3 A.D, là học trò của Ngài Maitreya (Di Lặc), đã sáng lập ra tông phái Duy Thức (Yogacara hoặc là Consciousness-Only). Đây là một ngành học về tư tưởng và ý thức của con người, là đỉnh cao của triết lý PG Đại thừa. Môn học này từng được dạy dỗ rộng rãi nhiều nơi, kể cả trường đại học Nalanda ở Ấn độ thời bấy giờ. Sau này đến thế kỷ thứ 7 đời nhà Đường, ngài Huyền Trang (là Đường Tăng được Ngô thừa Ân hư cấu trong trong truyện Tề thiên) đã mang về TQ và phát triển rộng rãi cho đến ngày hôm nay. Hiện nay các trường đại học lớn tại Mỹ trong ngành Phật Học (Buddhist studies) đều có dạy môn này. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu, giáo sư tiến sĩ phương Tây, đi sâu vào các công trình học thuật có liên quan đến tư tưởng của Duy Thức học, và sự ảnh hưởng của nó đến các lãnh vực khác như tâm lý, khoa học, giáo dục, y khoa .... Bạn nào muốn nghiên cứu sâu xa hơn thì nên nhờ bác "gục gờ chấm cơm", gõ vào từ khoá "Yogachara" hoặc “Yogacara” nhé. Ngài Di Lặc được xem như là vị sáng tổ của ngành học này !

Còn tại sao vị sáng tổ một ngành học có triết lý sâu sắc nhất, đỉnh cao của PG Bắc truyền, lại có hình tượng "hề hà" bình dân, phơi bụng cười đùa với mấy đứa trẻ con như thế ? Theo mình, câu chuyện đó lại càng thú vị hơn. Lâu nay nhiều sách báo viết rằng hình tượng của ngài Di Lặc ngày nay là do người TQ tạo tác ra từ hình ảnh của vị Bố Đại Hoà thượng (TQ) xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 10. Cũng khả dĩ thôi, bởi đó cũng chỉ là những biểu tượng thờ cúng của tôn giáo. Ai cũng hiểu những hình tượng hôm nay của ngài Thích Ca, ngài A di đà, chúa Jesus, Mẹ Maria...cũng là do đời sau tạo tác mà có. Cách làm có lẽ cũng tương tự như thế thôi, dựa vào những điển tích hoặc sự diễn giải nào đó. Nhưng thực ra hình tượng không phải là cái mục đích chính mà thiên hạ hướng đến. Những bậc chân tu và người hiểu biết tôn giáo đúng nghĩa luôn quan tâm và tôn kính giá trị thực sự đằng sau của những biểu tượng "hoá thân" đó. Ngày xưa có nhiều vị đi tu không có điều kiện, đâu cần chùa to chùa lớn, đâu cần tượng thờ gì to nhất thế giới, đẹp nhất VN. Mỗi ngày ra lạy cục đá mà tâm hướng về Phật cũng đã là Phật rồi. Thời nay đôi lúc có sự ngộ nhận giữa mục đích và phương tiện, nên nhiều người quá chú trọng vào hình thức, vào chiếc “áo cà sa”, vào cái “chùa to chùa lớn”, mà quên mất đi cái ý nghĩa thực sự của đức tin và triết lý căn bản của tôn giáo đằng sau. Nhiều người coi trọng những chức vị danh xưng ảo hoặc hình ảnh đền chùa hoành tráng hơn cả những giá trị cần thiết của trí huệ và phẩm hạnh thực sự ở người tu sĩ. Nên vô tình tạo điều kiện cho một số người có cơ hội mạo danh tu hành, khoác áo lộng hành, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín tôn giáo và đức tin của người khác. Cứ lâu lâu lại nghe tin vài ông lên báo lên đài, khoe pháp thuật, trừ tà bắt vong, khoe xe, khoe chức, khoe phone, khoe tiền tỉ..v.v.:-). 

Một điểm thú vị nữa ở hình tượng Ngài Di Lặc là có mấy em bé đu phá, chọc khuấy. Đứa thọt vô mũi, đứa thọt vô miệng, đứa vò đầu, bức tai .... Ngài cũng không xi nhê gì, cười hề hề hoan hỉ. Một số giả thuyết cho rằng, hình ảnh các em nhỏ đó là đại diện cho các thứ quyết định cuộc sống của con người chúng ta trong thế giới này. Đó là những căn, thức (tiếng Anh là consciousness), (nhãn - mắt, nhĩ - tai, tỷ - mũi, thiệt - lưỡi, thân - thân thể, ý - tư tưởng, ý thức). Trong Duy thức học PG cho rằng cuộc sống của nhân loại, giàu nghèo, vui buồn sướng khổ, ngon lành sang chảnh, tham ái, oán thù, ganh ghét gì ... cũng do bấy nhiêu thứ đó gây ra. Mọi thứ cảm nhận đều do sự tương tác của các thức với môi trường chung quanh mà hình thành. Do vậy, thiết nghĩ ai mà "miễn nhiễm" được với mấy em nhỏ "lục căn" chọc khuấy đó, thì coi như là ngon lành. Suốt ngày sẽ vui vẻ, tự tại, từ bi hỉ xả như Ngài Di Lặc thôi :-).

Quả nhiên là vậy, nhưng mấy ai làm được. Nhiều bậc cao tăng dành cả đời (hoặc nhiều đời) tu tập, tự thanh lọc thuần khiết (purify) bản thân để thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn của những ham muốn và gắn bó (attachments) tạo ra bởi các thức. Còn kẻ phàm phu như mình, thì tai nghe ai nói “bậy” chút là đã thấy bất mãn rồi, mũi ngửi món gì “ngon” là đã thấy đói bụng rồi, mắt nhìn thấy cái gì “đẹp” là đã ham muốn rồi ... Thậm chí, nhiều người chẳng cần trực tiếp thấy, trực tiếp nghe, trực tiếp ngửi, trực tiếp nếm, trực tiếp sờ... mà chỉ cần nghe bạn bè nói đi nói lại, nghe youtube nói, nghe TV nói, thấy email của đứa đồng hương gởi, hoặc thấy mấy tờ báo lá cải viết xàm .... là đã tin theo, ghét theo, phán xét, hoặc tìm cách nói xấu rồi. Tổng thống cũng chết chớ huống hồ chi người thường. Nhờ vậy mà mấy anh "fake news" sống hoài. Càng loạn càng lắm người nghe !

Xưa nay ở những nước văn minh người ta thường đánh giá con người dựa trên năng lực và thành tích bản thân cũng như các nguyên tắc ứng xử và tư duy của chính người đó. Đặc biệt trong các lãnh vực quản lý hoặc điều hành, ngoài khả năng chuyên môn người ta rất chú trọng đến những tiêu chí như suy nghĩ logic, khả năng phân tích vấn đề, tính khách quan (unbiased), trung thực, công bằng (fairness) .v.v.. Nôm na là họ quan trọng giá trị thực của chính mỗi cá nhân, người thật việc thật. Tuy nhiên ở những nước chậm phát triển hoặc một số vùng miền địa phương, thì vẫn còn những quan niệm khác biệt. Có lẽ do bị ảnh hưởng văn hoá tập tục, tư tưởng địa phương, nếp nghĩ lối mòn, sĩ diện làng xã, chủ nghĩa thần tượng  .v.v.. nên nhiều người vẫn còn gởi gắm niềm tin và đánh giá người khác dựa trên những hình thức danh xưng bên ngoài như bằng cấp, chức vụ, tiền bạc, thân thế, đảng phái, hoặc địa vị xã hội ..v.v.. Cho nên cứ nghe ông tiến sĩ này bà giáo sư nọ nói là tin, hoặc cứ ông quan chức này bà đại gia nọ nói thì đúng, mà không cần kiểm chứng. Thậm chí trong làm ăn, giao tế, tuyển chọn nhân sự, nhiều người còn đem cả giòng họ, nhân thân (đã mất), quan hệ bạn bè quen biết vào cuộc để tăng phần khả tín. Có thể hiểu được phần nào, nhưng phàm đã là hình thức danh xưng, thì bao giờ cũng có thật có giả. Ngay cả những ông quan chức lãnh đạo cao cấp thì cũng có trường hợp lựa chọn nhầm lẫn hoặc mua quan bán chức. Vả lại bằng cấp chuyên môn hoặc lý lịch nhân thân, đảng phái, càng không phải là những chiếc chìa khoá vạn năng hoặc giấy bảo chứng trí tuệ của họ. Tóm lại là Tây ta gì cũng thế thôi, càng chú trọng vào hình thức bên ngoài, thì càng dễ bị giả mạo. Ngay cả trong đức tin tôn giáo cũng vậy chứ không phải chỉ có ở lãnh vực chính trị, văn hoá, học thuật, hoặc quản lý điều hành.... Bởi thế cho nên có nhiều trường hợp lạm dụng, giả mạo, hoang tưởng cố chấp, gây ra bao nhiêu ngộ nhận bi hài, hệ lụy phiền phức cho người khác và cho xã hội. Nhưng âu đó cũng là những đạo lý riêng của thiên hạ. Ai dám nói đúng nói sai ? Hên xui :-) 

Tất nhiên đó không phải là những nguyên tắc hiểu biết, học hỏi và thực hành trong Duy thức học của PG. Sự cảm thụ và ý thức của con người luôn có những giới hạn nhất định của nó, ngay chính cả những điều tai nghe mắt thấy. Nên những người tu tập chân chính thường thực hành bằng nhiều phương pháp khác nhau, để tránh không bị tác động bởi những “ảo giác” tạo ra do các yếu tố bên ngoài. Đức Phật ngày xưa cũng khuyên chúng sinh đừng cuồng tín (blind faith) tin vào lời giảng dạy của Ngài, mà hãy tự thực chứng những điều ấy rồi hãy tin. Còn tại sao như thế, thì mình nghĩ rằng mỗi người sẽ tự tìm hiểu và có những cách giải thích riêng cho bản thân họ. Có một điều chắc chắn là tất cả mỗi chúng ta đều cảm nhận cuộc sống và hiểu biết về thế giới chung quanh thông qua 6 cửa ngõ "căn, thức" của chính mình. Mỗi người mỗi khác, đâu ai giống ai. Đâu ai đúng hết, mà cũng đâu ai sai cả bao giờ. Chỉ là ly nước càng đầy thì càng khó rót thêm. Đầy rồi thì rót vào cũng tràn ra thôi :-).

Nói tới đây mới nhớ đến điển tích của Tô Đông Pha và nhà sư Phật Ấn ngày xưa, với câu thơ nổi tiếng "Bát phong truy bất xuất. Nhất thí mã quá giang". Thời nay thì quá nhiều câu chuyện tương tự như thế. Nên mỗi năm đầu xuân đi lễ chùa, cứ thấy "Mừng Xuân Di Lặc", là mình lại thấy lòng bình an thanh thản, và nghĩ đến câu chuyện mấy đứa trẻ chọc ngoáy của Ngài. Mình thuộc loại phàm phu tục tử, nên dẫu có đọc qua kinh sách và từng nghe giảng giải nhiều lần, nhưng cứ nghe ai nói nghịch lỗ tai chút là đã thấy khó chịu rồi. Tự nhắc nhở hoài mà vẫn chưa thay đổi được. Có ông anh đi chùa phóng sinh hoài, nhưng thử ai dám tới lấy tay thọt ngoáy lỗ tai lỗ mũi ảnh coi :-). Cũng có nhiều người đi làm từ thiện quanh năm, nhưng lỡ nghe ai chê trách hoặc phê bình chút, thì lại khác ngay. Có nhiều ông tuyên bố cả đời hy sinh vì dân vì nước, nhưng đâu đứa nào dám tới xin cái sổ gạo của ông. Cho nên thấy vậy mà không phải vậy, từ bi hỉ xả và buông bỏ, không phải là những chuyện nói suông dễ làm.

Cũng nhân dịp Xuân về, mình cầu chúc bạn bè thân hữu an vui, thân tâm an lạc. Mỗi năm học được một chiêu "miễn nhiễm" của Ngài Di Lặc là ngon lành rồi. Mà biết đâu đó mới là Xuân đích thực, chứ không phải Xuân đến Xuân đi như trong bài thơ "Cáo Tật thị chúng" của thiền sư Mãn Giác :-)

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nở .
Việc trước mắt qua mãi
Trên đầu già đến rồi.
Đừng bảo Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai.
(Mãn Giác Thiền Sư )

PN (đầu năm Tân Sửu)