Sunday, October 04, 2026

Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời ..:-)

 


Hôm nay định dọn vườn, quét lá chuẩn bị mùa thu, thì trời lại mưa. Thế là có chút thời gian để nói về đề tài này :-).  

Lâu nay, người VN ta thường nói "Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". Không biết các cụ ngày xưa có làm thống kê kinh tế hay nghiên cứu GDP bình quân đầu người gì hay không, nhưng câu nói này nghe qua tưởng đơn giản, mà ngẫm kỹ lại thì khá thú vị. 

Trước tiên, phải nói cho rõ là câu nói trên chỉ đúng theo "nghĩa bóng", chứ không phải "nghĩa đen". Nên nó không có nghĩa rằng cứ đến đời thứ ba thì nhà giàu nhất định phá sản, còn nhà nghèo tự nhiên trúng số. Nếu dễ như vậy thì chắc các ông thầy bói, các ông "sư phụ" oan gia trái chủ, và các nhà kinh tế học thất nghiệp hết rồi :-)

Có lẽ điều mà các cụ muốn nói đến sâu sắc hơn, đó là không có hoàn cảnh nào tồn tại mãi mãi. Nhà hôm nay giàu, chưa chắc con cháu ngày mai vẫn giàu. Người hôm nay nghèo chưa chắc đời con, đời cháu vẫn nghèo. Tài sản có thể tạo ra tài sản, nhưng cũng có thể tạo ra những đứa con không còn biết tài sản ấy từ đâu mà có. Nghèo khó có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhưng đôi khi chính sự thiếu thốn lại sinh ra ý chí vượt khó, muốn bước ra khỏi hoàn cảnh cũ !

Tất nhiên, còn có những yếu tố lớn hơn như chiến tranh, thời cuộc, thể chế chính trị, biến động xã hội… có thể làm thay đổi số phận của cả một gia đình hay nhiều thế hệ. Âu cũng là chuyện thường thấy trong cuộc sống.

Ngoài lề một chút. Nhớ hơn chục năm trước, có lần mình về quê Ngoại thắp nhang cho ông cố. Vật đổi sao dời, lâu ngày không về nên mình cũng quên mất lối vào mộ. Loay hoay một hồi, cuối cùng cũng hỏi được một người quen dẫn đường. Bạn ấy rất nhiệt tình, vừa đi vừa nói một câu rất tự nhiên - Mả ông cố bạn chôn trong đất nhà tôi mà !

Nghe xong, mình thoáng chút ngậm ngùi. Nhưng rồi cảm giác ấy cũng nhanh chóng qua đi. Mình tự nhủ, có lẽ bạn ấy chưa biết những câu chuyện xa hơn. Gia đình mình cũng như nhiều gia đình khác ở quê ngày xưa. Ông bà từng có nhiều ruộng vườn, đất đai; khi qua đời, thường được an táng ngay trên phần đất của gia đình hay dòng họ. Sau những biến động xã hội và chính sách đất đai sau năm 1975, nhiều gia đình bị xếp vào diện địa chủ hay phú nông, ruộng đất được đưa vào hợp tác xã, chứ cũng chẳng đền bù, mua bán gì. Đến khi mô hình hợp tác hóa thay đổi, quyền sử dụng những đất đai ruộng vườn ấy lại được phân chia, sắp xếp qua nhiều đợt và dần thuộc về những gia đình khác !

Thế là qua một vòng lịch sử, đất vẫn nằm đó, mồ mả ông bà vẫn nằm đó, chỉ có tên "người chủ" trên mặt đất là thay đổi. Và những ngôi mộ vốn ngày xưa được chôn ngay trên đất nhà mình, mấy chục năm sau bỗng hóa thành mồ mả "chôn ké" trên đất nhà người khác. Ở quê mình, những câu chuyện như vậy chẳng có gì hiếm. Những người thuộc thế hệ mình trở lên phần nhiều đều hiểu hoàn cảnh lịch sử ấy. Chỉ hơi buồn là đôi khi những người chủ mới không biết, hoặc không còn nhớ câu chuyện của mảnh đất trước khi nó thuộc về gia đình họ, nên mới nảy sinh chuyện lấn ranh, cắt xén phần đất quanh mộ, rồi từ đó sinh ra những va chạm không đáng có giữa người sống với nhau, trong khi người nằm dưới đất chắc chẳng còn thiết tha gì chuyện ai sở hữu thêm vài mét vuông :-).

Nghĩ kỹ lại cũng thú vị. Ngày xưa ông bà có đất nên được chôn trên "đất nhà mình". Mấy chục năm sau vẫn nằm nguyên một chỗ, chẳng buôn bán gì, chẳng nhúc nhích đi đâu, vậy mà đã thành nằm trên "đất nhà người ta". Thêm vài chục hay vài trăm năm nữa, ai biết mảnh đất ấy sẽ mang tên ai? Có khi cái thay đổi không phải là đất. Chỉ là cái chữ "của tôi" mà mỗi thế hệ lần lượt đặt lên nó.

Suy cho cùng, chuyện ấy cũng chẳng có gì quá lạ. Nó chỉ là một phiên bản rất đời thường của câu “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.” Và nếu nhìn xa hơn một chút, lại thấy thấp thoáng chữ vô thường - tài sản đổi chủ, ruộng vườn đổi tên, người giàu thành nghèo, người nghèo thành chủ đất; hết thế hệ này đến thế hệ khác đến rồi đi.

Đất vẫn nằm đó. Chỉ có con người thay nhau đứng trên đất mà nói "Đất của tôi". Đời người cứ thế mà lên xuống. Nhưng nghĩ rộng hơn, chuyện ấy đâu chỉ xảy ra với một gia đình. 

Quốc gia cũng vậy ! Hôm qua ở trên thiên hạ, cường quốc số một, số hai, hôm nay chưa chắc. Lịch sử nhân loại giống như một sân khấu rất dài. Ai có đọc qua lịch sử thế giới đều biết. Có thời, Ai Cập là một trong những trung tâm quyền lực lớn nhất của thế giới cổ đại. Rồi Ba Tư, Hy Lạp, La Mã… nhiều thế kỷ sau, lại đến những đế chế và trung tâm quyền lực khác. TQ cũng có những thời kỳ là một trong những khu vực giàu có, đông dân và có trình độ kỹ thuật cao nhất thế giới. Có lúc thế giới Hồi giáo là trung tâm lớn của khoa học, y học, toán học và thương mại, v.v.

Rồi các cường quốc hàng hải châu Âu vươn lên. Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan từng có những thời kỳ mà tàu bè, thương mại và quyền lực của họ trải khắp nhiều vùng trên thế giới. Đến thế kỷ XIX, người Anh có thể tự hào rằng "mặt trời không bao giờ lặn" trên Đế quốc Anh. Nghe cũng oai, nhưng mặt trời cuối cùng vẫn… lặn. :-). Ngày nay Anh vẫn là một quốc gia phát triển và có ảnh hưởng, nhưng chẳng còn ai mở bản đồ rồi tô một phần tư thế giới bằng màu của Đế quốc Anh nữa.

Sau Thế chiến II, Mỹ bước lên vị trí đặc biệt trong trật tự thế giới, trở thành cường quốc lớn nhất. Nhưng nếu lịch sử còn dạy được điều gì, thì có lẽ điều đầu tiên là - không có chiếc ghế số một nào được đóng đinh xuống đấu trường thế giới ! Dù muốn hay không, dù thương hay ghét, thì vũ trụ vẫn vận hành theo những quy luật vô thường, duyên sinh duyên khởi của nó . Đó chính là sự vận hành của "pháp" theo cách hiểu của PG.

Nhắc mới nhớ, mình có người bạn rất quan tâm đến chuyện hơn thua, số một, số hai… trong cuộc sống. Có lần nói với mình về khả năng "tiên đoán" của bạn về vị trí số một thế giới. Mình thì vốn không quan tâm lắm về chuyện mấy con số, nên đùa nói rằng "mấy vụ này thì mình không rành lắm, nhưng cứ dòm chừng mấy cái hàng xin visa trước cửa các tòa đại sứ, lãnh sự. Coi thấy hàng nào dài nhất thì cũng đoán được nước đó còn chưa bị "đội sổ" :-). 


Trở lại chuyện "giàu ba họ, khó ba đời". Người giàu thường dễ tưởng mình sẽ giàu mãi. Điều thú vị là lúc đang ở trên đỉnh, con người rất khó tưởng tượng một ngày mình sẽ đi xuống. Gia đình giàu có cũng vậy. Doanh nghiệp cũng vậy. Quốc gia lại càng vậy. Khi thành công kéo dài đủ lâu, người ta rất dễ nhầm kết quả của một giai đoạn lịch sử với quy luật tự nhiên. Họ bắt đầu nghĩ chúng ta giàu vì chúng ta đặc biệt hơn, tài giỏi hơn, chúng ta mạnh vì chúng ta ưu việt, chúng ta dẫn đầu vì đó là vị trí đương nhiên thuộc về chúng ta... Còn người khác nghèo vì họ kém, người khác yếu vì họ không bằng mình, hoặc chưa gặp thời, hoặc chưa  gặp được ông thầy phong thủy giỏi… v.v. Nhưng lịch sử thường không quan tâm lắm đến những niềm tin như vậy. Nó cũng chẳng quan tâm hôm qua anh là ai !

Thực tế, có những quốc gia không hề trở nên ngu dốt sau một đêm. Chỉ đơn giản là thế giới chung quanh thay đổi. Venice từng giàu có nhờ thế giới, rồi thế giới đổi đường đi. Venice từng là một trung tâm thương mại cực kỳ giàu có nhờ vị trí đặc biệt trong mạng lưới buôn bán giữa châu Âu và phương Đông. Nhưng rồi những tuyến hàng hải mới được mở ra.Trọng tâm thương mại dịch chuyển. Đại Tây Dương trở nên quan trọng hơn Địa Trung Hải. Cũng như bây giờ, ai biết được mười năm sau eo biển Hormuz có còn quan trọng không ?

Venice vẫn đẹp. Những cung điện vẫn còn. Những con kênh vẫn còn. Nhưng thế giới kinh tế đã đi sang một con đường khác. Đôi khi suy tàn không phải vì mình trở nên tệ hơn. Mà vì luật chơi đã thay đổi trong khi mình vẫn chơi rất giỏi trò chơi cũ. Câu này có lẽ cũng đúng và sẽ đúng với thời đại AI ngày nay… :-).

Nước Nhật cũng là một câu chuyện đáng suy ngẫm. Sau Thế chiến II, Nhật từ một đất nước bị tàn phá vươn lên thành một cường quốc kinh tế. Đến những năm 1980, người ta từng nói rất nhiều về sức mạnh kinh tế của Nhật. Doanh nghiệp Nhật mua bất động sản nổi tiếng ở Mỹ. Xe Nhật chạy khắp nơi. Điện tử Nhật gần như trở thành biểu tượng của chất lượng. Có lúc người Mỹ còn lo Nhật sẽ "mua cả nước Mỹ". Rồi bong bóng vỡ. Tuy Nhật không biến thành một nước nghèo hẳn, đến nay, họ vẫn là một trong những nền kinh tế phát triển và xã hội có trình độ công nghệ cao. Nhưng câu chuyện Nhật nhắc nhở thế giới rằng đang tiến rất nhanh không có nghĩa là sẽ tiến với cùng tốc độ mãi mãi !

Và người nghèo cũng không nhất thiết nghèo mãi. Chiều ngược lại cũng thú vị không kém. Hàn Quốc sau chiến tranh từng là một quốc gia nghèo. Singapore khi mới độc lập chẳng có nhiều tài nguyên thiên nhiên. TQ cuối thập niên 1970 còn rất khác với TQ ngày nay, đói nghèo và cực đoan đến cùng cực. VN của những thập niên sau chiến tranh, hợp tác xã, bao cấp… cũng khác rất xa VN hôm nay. Tất nhiên, không phải mọi con đường phát triển đều giống nhau, và sự phát triển nào cũng có cái giá, vấn đề và giới hạn riêng của nó. 

Nhưng ít nhất, lịch sử cho thấy xuất phát điểm không phải là số phận. Và đây có lẽ chính là nửa sau đầy hy vọng của câu nói - "không ai khó ba đời" :-)

Vậy có thật lịch sử vận hành theo chu kỳ không ? Nói đến đây, có lẽ chúng ta nên cẩn thận một chút. Lúc ở VN, mình thương nghe người ta nói "Thịnh rồi suy, suy rồi thịnh". Nghe cũng rất hợp lý. Nhưng thực tế thì quốc gia không phải mặt trăng để cứ mười lăm ngày tròn, rồi mười lăm ngày khuyết. Cũng không có một công thức nào chứng minh một đế quốc cứ đúng hai trăm năm thì phải suy một lần :-)

Lịch sử phức tạp hơn nhiều. Một quốc gia đi xuống có thể vì chiến tranh, thể chế yếu kém, tham nhũng, xã hội phân hoá, chia rẽ, bất bình đẳng, dân số, công nghệ, tài nguyên, giáo dục, địa lý, chính sách sai lầm, nhóm lãnh đạo bất tài, hoặc vì thế giới chung quanh thay đổi… Ngược lại, một đất nước có thể đi lên nhờ cải cách, giáo dục, khoa học, thương mại, cải cách thể chế tốt, khả năng thu hút nhân tài và đôi khi cả một chút may mắn của lịch sử.

Vì vậy, mình không nghĩ "chu kỳ" là một định luật. Nhưng có một điều gần như chắc chắn, đó là mọi điều kiện đều thay đổi. Và đây là chỗ câu chuyện kinh tế gặp Phật học. Vô thường !

Vô thường vốn không phải chỉ là câu niệm ở chùa, hay một câu nói vui trên bàn nhậu, hay một lời cảm thán dành cho vài sợi tóc bạc, sức khỏe giảm sút, hay chỉ là câu chuyện giàu nghèo, lên voi xuống chó. Trong PG, khi nói đến vô thường, người ta thường nghĩ ngay đến diễn biến của đời người, sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng vô thường đâu phải chỉ xảy ra trong cơ thể con người. Một gia đình vô thường. Một doanh nghiệp vô thường. Một thể chế vô thường. Một đế quốc vô thường. Một trật tự thế giới cũng vô thường. Tất cả những gì tồn tại do điều kiện tạo thành đều thay đổi khi những điều kiện ấy thay đổi. Đó chính là mối tương quan duyên sinh duyên khởi !

Đế quốc La Mã không có một cái "La Mã" bất biến. Nước Anh không có một cái "Đế quốc Anh" thường hằng. Mỹ cũng không có một bản chất siêu hình nào bảo đảm rằng vị trí của mình trong thế giới hôm nay sẽ tồn tại vĩnh viễn. TQ cũng vậy. VN cũng vậy. Không dân tộc nào được miễn trừ khỏi quy luật vô thường.

Lịch sử không chỉ vô thường ở chuyện ai lên, ai xuống. Mà ngay cả ý nghĩa của "thịnh" và "suy" cũng vô thường. Có triều đại mất quyền lực mà cái tên vẫn còn; có triều đại mất rất nhanh nhưng những gì nó tạo ra lại sống thêm hàng nghìn năm. Dài chưa chắc đã mạnh. Ngắn chưa chắc không để lại dấu ấn. Đang cực thịnh cũng chưa chắc sẽ kéo dài. Đang suy cũng chưa chắc lập tức biến mất. Như bên Tàu, nhà Chu sống gần 800 năm, nhưng không phải 800 năm làm bá chủ TQ. Còn nhà Tần thì gần như đối cực hoàn hảo, Tần Thủy Hoàng thống nhất TQ năm 221 TCN, nhưng vương triều sụp đổ chỉ khoảng 14 năm sau, một triều đại ngắn nhất của TQ thống nhất. Còn nước ta, nhà Hồ cải cách nhiều nhưng chỉ tồn tại 7 năm, còn nhà Hậu Lê kéo dài hơn 350 năm. Tuy thời Lê Thánh Tông, nhà Lê đạt một trong những đỉnh cao về tổ chức nhà nước, luật pháp, văn hóa và lãnh thổ, nhưng đến thời Lê Trung Hưng, vua Lê phần lớn chỉ còn danh nghĩa, quyền lực thực tế nằm trong tay chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

Cho nên thịnh suy cũng chẳng theo quy luật thời gian nào. Tuy nhiên, nguy hiểm nhất có lẽ là lúc con người quên mất mình đang vô thường. Một người nghèo biết mình nghèo thường còn muốn cố gắng. Một quốc gia yếu biết mình yếu thường còn muốn cải cách. Nhưng điều nguy hiểm đôi khi lại bắt đầu khi người ta thành công quá lâu. Thành công tạo ra tự tin. Tự tin lâu ngày có thể biến thành tự mãn. Tự mãn lâu ngày sinh ra ảo tưởng rằng những nguyên nhân từng làm mình thành công sẽ tiếp tục hoạt động mãi mãi. Rồi người ta không còn muốn nghe những điều khó nghe. Không muốn sửa những gì đang hỏng. Không muốn học từ người khác nữa !

Và đặc biệt nguy hiểm nhất là con người bắt đầu tin rằng "Chúng ta khác. Những quy luật từng xảy ra với thiên hạ sẽ không xảy ra với chúng ta". Lịch sử xưa nay hình như đặc biệt thích những tư duy như vậy. :-). Một đất nước khi đã đến giai đoạn đó thì đầy rẫy nạn kiêu binh, ái kỷ, tự tôn, bạo lực… và không còn lắng nghe những điều phải quấy nữa. Câu nói "không ai giàu ba họ, khó ba đời" lại càng trở thành câu nói rất đáng chiêm nghiệm !

Nói tới đây mới nhớ là mình đã có rất nhiều lần được nghe các câu hỏi đại khái như - Tại sao ông đó tài giỏi thế, chịu khó làm ăn, mà con cái lại như vậy ? Hoặc là tại sao đất nước đấy giàu có vậy, nhiều người tài giỏi vậy, sao có những con người như thế nọ thế kia, không phân biệt được phải quấy ? v.v…Nôm na ý chính của câu hỏi là tại sao thế hệ tạo dựng thường khác thế hệ thừa hưởng ?

Câu trả lời đơn giản nhất là một nghịch lý rất thường gặp - người ta có thể để lại tiền bạc cho con, nhưng không thể để lại nguyên vẹn những gian khó đã tạo nên chính nó. Trong khi chính gian khó ấy mới là phần quan trọng nhất của gia tài ! 

Người gây dựng thường bắt đầu từ cái chưa có. Người thừa hưởng lại bắt đầu từ cái đã có. Chỉ khác nhau vài chữ, nhưng đôi khi tạo nên hai kiểu con người rất khác. Người cha ngày trước đi bộ nên hiểu giá trị của chiếc xe đạp. Có chiếc xe đạp rồi mới biết quý chiếc xe máy. Dành dụm nhiều năm mới mua được chiếc ô tô thì mỗi vết trầy cũng thấy xót. Đến đời con, vừa đủ tuổi lái xe đã có ô tô. Đời cháu lên đại học mà chiếc xe không đúng hiệu mình thích thì lại thấy… cuộc đời hơi bất công. :-)

Không hẳn vì đứa cháu xấu hơn ông. Chỉ đơn giản là nó chưa từng sống trong thế giới của ông. Cho nên có những thứ để lại được, có những thứ không. Một người có thể để lại cho con một căn nhà. Nhưng không thể để lại nguyên vẹn cảm giác của những năm tháng phải thuê một căn phòng nhỏ. Có thể để lại một triệu đô. Nhưng không thể chuyển khoản cùng với số tiền ấy, những năm tháng từng phải đắn đo cân nhắc từng đồng.

Nhiều người có thể để lại một công ty, nhưng không thể ký giấy sang tên những nhọc nhằn bôn ba, mánh khóe thương trường, hoặc ưu tư lo lắng của những đêm mất ngủ khi công ty sắp phá sản. Có thể để lại bằng sáng chế, nhà máy, cổ phần, đất đai. Nhưng rất khó để lại cơn đói từng khiến mình phải cố gắng. Đó chính là nghịch lý của sự thành công - những người gây dựng cơ nghiệp thường muốn con cháu không phải chịu những gian khổ mà mình từng chịu. Nhưng chính khi thành công trong việc loại bỏ những gian khổ ấy, họ đôi khi cũng vô tình loại bỏ một phần môi trường đã rèn nên chính mình. Cho nên thỉnh thoảng có đọc tin tức thấy những ông tỷ phú Mỹ, di chúc đem biếu tặng hết gia sản mà không để lại cho con. Và đó cũng là tư duy khác biệt giữa người tạo dựng và người thừa hưởng. Người tạo dựng cơ nghiệp và người thừa hưởng cơ nghiệp thường lớn lên trong hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Tất nhiên, đó không phải là định luật, cũng có những gia đình duy trì tài sản qua rất nhiều thế hệ.

Tương tự, cha mẹ từng nghèo thường nghĩ "Ngày xưa mình khổ quá, nhất định không để con mình khổ như vậy". Hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng nếu đi quá xa, một ngày nào đó, đứa trẻ có thể lớn lên mà không biết một bữa cơm đến từ đâu, đồng tiền khó kiếm thế nào, hay tại sao người khác phải làm việc mười tiếng mỗi ngày. Không phải vì nó ác, mà vì kinh nghiệm sống của nó chưa từng dạy nó điều ấy. Bởi tài sản có thể thừa kế, kinh nghiệm thì không. Tài sản có thể chuyển giao bằng giấy tờ, nhưng kinh nghiệm thì không thể. Có những kiến thức có thể truyền bằng lời, nhưng có những thứ chỉ cuộc đời mới dạy được !

Đời thứ nhất xây, đời thứ hai giữ, đời thứ ba…nướng :-) . Đó là chuyện không phải chỉ có ở VN đâu nghen, mà nhiều nền văn hóa khác cũng có những cách nói khá giống câu tục ngữ đó. Người Mỹ có câu “shirtsleeves to shirtsleeves in three generations”, đại ý là từ tay trắng gây dựng, rồi sau vài thế hệ lại có thể trở về tay trắng. Người TQ cũng có cách nói "phú bất quá tam đại",  giàu khó qua ba đời. Đời thứ nhất thường biết tạo ra. Đời thứ hai chứng kiến cha mẹ tạo dựng nên còn hiểu phần nào giá trị của những gì mình nhận được. Đến đời thứ ba, tài sản đã trở thành một phần tự nhiên của thế giới từ khi sinh ra. Ông nội nhìn căn nhà và nhớ những năm tháng dành dụm để mua nó. Người cháu nhìn căn nhà ấy và chỉ nghĩ là "nhà mình" :-).

Và câu chuyện của một đất nước cũng tương tự như vậy. Ở nhiều quốc gia hôm nay, trong đó có nước Mỹ, những thế hệ sinh ra trong thời kỳ tương đối ổn định và thịnh vượng đôi khi dễ quên mất những gian khó, hy sinh và cái giá mà các thế hệ đi trước đã phải trả để gây dựng nên những gì mình đang thừa hưởng.

Nước Mỹ vốn là một đất nước được hình thành và phát triển qua nhiều làn sóng di dân, bên cạnh những cộng đồng bản địa đã có mặt từ trước. Phần lớn các gia đình Mỹ hôm nay, nếu lùi lại vài thế hệ, đều có thể tìm thấy một ông bà, cha mẹ hay tổ tiên từng từ một vùng đất khác tìm đến đây. Họ mang theo những hoàn cảnh, văn hóa và niềm tin khác nhau, nhưng nhiều người cùng chia sẻ khát vọng tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Một phần sức mạnh của nước Mỹ cũng được gây dựng từ chính tinh thần ấy, lao động, khai phá, thích nghi, đoàn kết, kiến tạo và không ngừng tranh đấu để những giá trị như tự do, cơ hội và bình đẳng ngày càng được mở rộng hơn.

Tuy nhiên, thế hệ sinh ra khi những thành quả ấy đã có sẵn lại dễ nhìn thế giới bằng một cách khác. Cũng giống như người cháu sinh ra trong căn nhà ông nội xây, lâu ngày có thể tưởng rằng căn nhà vốn dĩ đã ở đó, một người sinh ra trong một quốc gia giàu mạnh cũng dễ xem sự thịnh vượng, tự do, cơ hội hay vị thế của đất nước mình như những điều đương nhiên, và rồi mặc nhiên tin rằng chúng sẽ tồn tại mãi mãi. Thậm chí đôi khi người ta tự xem mình là "người chính gốc", rồi phân chia ai thuộc về đất nước này nhiều hơn ai; khác biệt màu da, nguồn gốc, tôn giáo hay quan điểm lại trở thành những lằn ranh để kỳ thị, chia rẽ, tự tôn và đối đầu, như thể những câu chuyện về di dân, phân biệt chủng tộc và cuộc đấu tranh lâu dài cho quyền bình đẳng chưa từng nằm ngay trong những trang sử của chính đất nước mà mình đang là công dân. Một số ít người cũng chưa hiểu hết đất nước của thế hệ cha ông họ đã "vĩ đại" như thế nào !

Nói đến đây, mình bỗng nhớ đến một câu chuyện mà mấy năm trước mình rất băn khoăn, mặc dù mình không thuộc về một đảng phái chính trị nào. Cuối thập niên 1970, trước cuộc khủng hoảng người tị nạn Đông Nam Á, đặc biệt là làn sóng "thuyền nhân" VN, tổng thống Jimmy Carter đã có những quyết định nhân đạo quan trọng. Năm 1979, khi hàng trăm nghìn người phải vượt biển và nhiều người bỏ mạng trên đường đi, chính quyền Carter đã chỉ thị lực lượng Hải quân Hoa Kỳ cứu giúp những người tị nạn gặp nạn trên biển. Ông được nhắc đến với câu nói đầy tính nhân đạo "I cannot let your people die" (tạm dịch: Tôi không thể để người dân của các bạn chết).

Bất chấp sự phản đối khá lớn trong dư luận Mỹ lúc bấy giờ, Carter quyết định tăng gấp đôi số người tị nạn Đông Nam Á được tiếp nhận mỗi tháng, từ 7.000 lên 14.000 người. Chính quyền của ông đồng thời vận động các quốc gia Đông Nam Á tạm thời mở cửa tiếp nhận người tị nạn, tăng viện trợ nhân đạo và hỗ trợ những chương trình giúp người VN có thể ra đi bằng con đường an toàn, hợp pháp thay vì phải liều mạng vượt biển. Di sản quan trọng nhất có lẽ là việc Carter ký "Đạo luật Người tị nạn" năm 1980 (Refugee Act of 1980), tạo nên một hệ thống pháp lý lâu dài cho việc tiếp nhận và tái định cư người tị nạn tại HK, đồng thời thành lập cơ chế hỗ trợ họ hòa nhập vào đời sống mới. Riêng năm 1980, HK đã tiếp nhận hơn 207.000 người tị nạn. Những quyết định của Carter trong giai đoạn này không chỉ là chính sách đối ngoại hay di trú, mà còn thể hiện một lựa chọn khá đặc biệt, giữa áp lực chính trị trong nước và sinh mạng của những con người đang gặp nạn, ông đã chọn đặt giá trị nhân đạo lên hàng đầu! 

Thế nhưng không lâu sau đó, tổng thống Carter lại bị chính thế hệ thừa hưởng kế tiếp và thậm chí những người từng trực tiếp hưởng lợi từ di sản của ông lên án, chỉ đơn giản vì ông thuộc đảng phái chính trị khác với họ !

Có lẽ đó cũng là một nghịch lý của thế hệ thừa hưởng, hưởng được thành quả của người đi trước thì tương đối dễ; nhưng để hiểu được những điều kiện, hy sinh và bài học đã tạo nên thành quả ấy lại khó hơn nhiều. Một quốc gia cũng giống một gia đình ở điểm đó. Nếu thế hệ sau chỉ thừa hưởng sự giàu mạnh mà không thừa hưởng được tinh thần đã tạo nên sự giàu mạnh, thì chính thành công của thế hệ trước đôi khi lại trở thành chiếc gối êm để thế hệ sau ngủ quên. Và lịch sử vốn chẳng hứa với dân tộc nào rằng chiếc gối ấy sẽ êm ấm mãi mãi.

Thực ra, có những giá trị từng làm một xã hội mạnh lên cũng có thể suy yếu nếu như người thừa hưởng chỉ biết tiêu dùng thành quả mà không còn hiểu những điều kiện đã tạo ra thành quả ấy. Có khi, sự thành công đã mang sẵn hạt giống của sự thất bại. Đây mới là nghịch lý đáng lưu ý !

Và nói đến đây lại trở về với "vô thường". Hiểu vô thường không phải là ngồi chờ mọi thứ suy tàn. Ngược lại, chính vì biết không có gì tự tồn tại mãi mãi nên càng phải chăm sóc những nhân duyên làm cho điều tốt đẹp tiếp tục tồn tại. Của cải không tự giữ được của cải. Quyền lực không tự giữ được quyền lực. Một nền văn minh cũng không tự bảo vệ được nền văn minh. Mỗi thế hệ đều phải học lại, theo cách của mình, vì sao những gì mình đang có đáng được gìn giữ, và phải tạo thêm điều gì để trao cho người đến sau. Có lẽ vậy !

Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa nhìn phú quý mà bảo "tựa chiêm bao". Nghĩ rộng ra, có lẽ không chỉ phú quý của một đời người. Sự hưng thịnh của một gia đình, một dòng họ, một triều đại, thậm chí một quốc gia, nhìn trong chiều dài lịch sử, cũng có phần như vậy. Lúc đang ở trong giấc mộng thì thấy cái gì cũng lớn lao, chắc chắn; tỉnh ra rồi mới biết bao nhiêu thứ từng tưởng là "của mình" hóa ra chỉ tạm thời đi ngang qua đời mình:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Trong nhà Phật cũng có một câu nói rất đơn giản "Chư hành vô thường" (nghĩa là : Các hành đều vô thường). Nhà cửa vô thường. Tài sản vô thường. Dòng họ vô thường. Triều đại vô thường. Quốc gia và những trật tự chính trị tưởng như vững như bàn thạch cũng vô thường. Nhưng vô thường không có nghĩa là ngày mai tất cả phải sụp đổ. Nó chỉ nhắc rằng cái đang tồn tại hôm nay cũng phải nương vào những điều kiện để tồn tại; khi điều kiện thay đổi, kết quả cũng thay đổi theo.

Mở ngoặc chút, mấy hôm nay nước Mỹ rất xôn xao vì kỳ bầu cử giữa kỳ 2026. Thực ra, bầu cử giữa kỳ chủ yếu là bầu lại một số vị trí ở quốc hội thôi. Lâu nay chuyện đó cũng bình thường và cũng không phải là sự kiện gì ghê gớm lắm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi sự hơn thua đảng phái dường như chi phối quá nhiều đến tiếng nói chung của đất nước, vai trò của sự kiện bầu bán bỗng trở nên đặc biệt quan trọng. Ngay cả vị tổng thống nước Mỹ cũng tuyên bố nếu phe CH thắng thì ông sẽ phát cho mỗi người dân (trưởng thành) 5 ngàn đô xài chơi. Vụ hứa cho tiền này thì dân Mỹ và cả thế giới cũng nghe qua vài lần rồi. Tuy nhiên, mình chỉ hơi thắc mắc là liệu một lá phiếu trung thực để bầu ra người xứng đáng đại diện cho dân cho nước mà có thể mua được bằng tiền thì còn có thể là một lá phiếu tin cậy hay chăng ?


Tất nhiên, ở quốc gia nào cũng vậy chứ không phải chỉ có nước Mỹ, một quá khứ huy hoàng luôn rất đáng trân trọng, nhưng quá khứ không thể sống thay cho hiện tại. Một đất nước cũng không thể dùng hào quang của tổ tiên để trả hóa đơn cho tương lai. Cho nên, có lẽ gia tài quý nhất mà một thế hệ có thể để lại không phải là một căn nhà thật lớn, hay một sự tự tôn tuyệt đối, mà là những con người đủ khả năng xây lại căn nhà ấy nếu một ngày nó không còn nữa. Cũng không phải là lời hứa suông rằng, những gì chúng ta có hôm nay sẽ còn mãi mãi, mà là một trí tuệ để hiểu rằng những gì chúng ta có hôm nay rồi sẽ thay đổi. Vì vậy, hãy biết trân trọng, gìn giữ, sửa chữa, và chuẩn bị cho sự thay đổi ấy !

Các cụ ngày xưa chỉ cần một câu: "Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". PG gọi đó là vô thường. Lịch sử gọi đó là vận nước thịnh suy. Còn kinh tế học có thể gọi bằng những cái tên gì gì đó phức tạp hơn. Nhưng đời thường có lẽ chỉ cần hiểu - hôm nay đang lên thì đừng tưởng mình sẽ lên mãi, hôm nay đang xuống cũng đừng tưởng mình sẽ xuống mãi. Bởi trong một thế giới luôn thay đổi, điều khôn ngoan không phải là tìm cách giữ mọi thứ đứng yên. Mà là biết mình đang ở đâu trong sự thay đổi ấy, và nên gieo trồng những "nhân" nào cho "quả" của tương lai !

Thôi, dài dòng quá rồi . Xin dừng, chúc quý anh chị bằng hữu ngày chủ nhật an vui hạnh phúc . 

PN


Saturday, September 19, 2026

Chữ "danh" ba vạn* :-)



Con người từ khi sinh ra đã bước vào một thế giới đầy rẫy những cái tên.

Thuở nhỏ, ta có tên riêng, họ hàng, quê quán, quốc tịch... Lớn lên, ta lại có thêm học vị, chức vụ, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Người ta gọi nhau là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, giám đốc, nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, học giả, người thành đạt…Rồi từ những cái tên ấy lại sinh ra vô số phân biệt sang hèn, hơn thua, nổi tiếng hay vô danh, thành công hay thất bại, nở mặt nở mày hay xấu cha xấu mẹ… v.v.

Tất nhiên, không có những cái “tên” ấy thì xã hội cũng khó vận hành. Ngôn ngữ giúp con người nhận biết nhau, phân công công việc, truyền đạt kiến thức, phân loại, đánh giá, mô tả và lưu giữ ký ức. Nhưng thực tế có một nghịch lý rất lớn, đó là chính con người đặt tên cho sự vật, rồi dần dần lại để những cái tên mình đặt ra cai trị lại chính mình !

Một chức vụ vốn chỉ để xác định một trách nhiệm, nhưng có người dành cả đời để bảo vệ chức vụ ấy. Một học vị vốn chỉ xác nhận một quá trình học tập, nhưng có người lại biến nó thành thước đo giá trị con người. Một tượng đài vốn để tưởng niệm, nhưng đôi khi người ta muốn dùng một cục đá xi măng đó để chống lại sự lãng quên. Một cái tên vốn chỉ là vài âm tiết dùng để gọi nhau, nhưng có người dành cả đời mong sao cái tên ấy vẫn còn được nhắc đến sau khi mình đã không còn. Chúng ta gọi đó là danh xưng, tên tuổi. 

Và điều lạ lùng nhất là "danh" vốn không có hình hài, nhưng con người lại có thể hy sinh những điều rất thật để bảo vệ nó !

Có người sống chết vì danh. Có người mất bạn vì danh. Có người mất cả tình thân gia đình vì danh. Có người tranh quyền đoạt lợi chỉ vì muốn tên mình đứng trên tên người khác. Có người làm một việc tốt nhưng vẫn âm thầm mong người khác biết rằng chính mình là người đã làm việc tốt ấy...

Danh vốn chỉ là chữ. Nhưng khổ vì danh thì lại rất thật!

Sở dĩ hôm nay mình lan man đến đề tài này là vì dạo gần đây ở Mỹ có khá nhiều tin tức sốt dẻo liên quan đến chuyện đặt tên. Nước Mỹ, tính đến nay, đã trải qua bốn mươi mấy đời tổng thống, nhưng đặc biệt duy nhất là nhiệm kỳ của vị tổng thống hiện nay, những câu chuyện tên tuổi, danh xưng, đổi tên, đặt tên thường xuyên xuất hiện trên mặt báo đài. Quả là hàng hiếm, độc lạ :-). Từ chuyện đổi tên một cái vịnh, cái hồ, cái sân bay, cái hòn đảo, cái eo biển .... cho đến chuyện đặt tên cho một đất nước láng giềng. Từ chuyện đòi gắn tên tuổi lên cái đồng xu, cái passport… cho đến tòa nhà nọ, tòa nhà kia... cũng đủ để thiên hạ bàn ra tán vào, tốn bao giấy mực của cả thế giới. Mấy hôm nay ông thủ tướng "tiểu bang thứ 51" hụt của Mỹ cũng đi công du châu Âu, chắc là rủ bạn bè mới nướng thịt, uống bia Molson cho đỡ… sợ :-). 

Dĩ nhiên, những câu chuyện này thì các kênh tin tức giựt gân câu view, youtube, FB, nửa gà nửa vịt cũng đã phủ sóng tràn lan rồi, mình không cần kể lại dài dòng ở đây. Mấy tuần nay, một câu chuyện ly kỳ khác là cuộc tranh chấp quanh việc gắn tên ngài Tổng thống thứ 47 lên Nhà hát Kennedy Center. Chuyện tưởng chừng đơn giản chỉ là gắn thêm vài chữ trên mặt tiền một tòa nhà, nhưng không phải vậy. Người dân biểu tình, nghệ sĩ phản đối, báo chí đăng đàn, luật pháp tham gia… đúng là trò chơi nào cũng lắm công phu. Tính ra thì cũng đủ chiêu trò cả rồi, bảy chữ tám nghề, đều được đem ra, nhưng cuối cùng vẫn phải kéo nhau ra tòa. Tòa liên bang phán rằng việc đổi tên như vậy không đúng quy trình, cần có sự chấp thuận của Quốc hội, và cái tên ấy không thể cứ tự tiện gắn lên rồi gỡ xuống như vậy. Thế là, Nhà hát Kennedy Center lại có lý do để bị đóng cửa "sửa chữa", mặc dù mới đại tu cách đây vài năm (2019) !

Nhưng tính ra vậy cũng đỡ khổ cho dân đen như mình, có cơ hội để dành tiền vài năm, biết đâu đến ngày Kennedy Center mở cửa trở lại thì vừa đủ mua vé :-)

Mình thì vốn không dám “cầm đèn chạy trước ô tô”, vả lại, với đầu óc tầm thường như mình thì cũng không thể hiểu nổi tư duy thiên tài "high IQ" của ngài TT, tại sao lại rất quan tâm đến chuyện cái tên, cái danh như vậy ? (Lưu ý cái chữ "high IQ" này là do tt Trump tự phong, chứ không phải ý của mình :-)). Tuy nhiên, có nhiều người rành rẽ thời cuộc thì cho rằng ông làm thế vì quan tâm đến việc mình sẽ được lịch sử nhớ đến như thế nào. Nhưng theo thiển ý của mình, nếu chỉ đơn giản là nhu cầu "lưu danh hậu thế", thiết nghĩ ngài cũng chẳng cần phải làm gì thêm nữa. Với những gì ngài đã làm lâu nay và những tiếng tăm đã tạo ra, tên ngài chắc chắn sẽ được nước Mỹ và thế giới nhắc đến rất lâu sau này. Còn nhắc đến như thế nào thì xin để lịch sử và mỗi người tự phán xét vậy ! 

Cũng nhân nói đến chuyện tên tuổi, danh sắc, xin lạm bàn đôi chút về chữ “danh” qua cái nhìn của PG. 

Thật ra thì không riêng gì PG, mà các cụ ta ngày xưa cũng đã nói nhiều đến sự vô thường, khinh bạc, của công danh và tên tuổi. Trong Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du viết:

Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Tạm dịch:

Không biết hơn ba trăm năm sau,
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như?

Còn Nguyễn Trãi thì viết:

Mấy kẻ công danh nhàn lẵng đẵng,
Mồ hoang cỏ lục thấy ai đâu?

Lý Bạch cũng nói:

Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ;
Quang âm giả, bách đại chi quá khách.

Tạm dịch:

Trời đất là quán trọ của muôn vật,
Thời gian là khách qua đường của trăm đời.

Quả nhiên là vậy. Một đời người có thể mất bao nhiêu công sức để tạo dựng một cái tên, nhưng rồi trăm năm sau có còn ai nhớ? Những người từng quyền cao chức trọng, từng "công danh lẵng đẵng", cuối cùng rồi cũng trở về với mồ hoang cỏ lục. Vũ trụ vốn vận hành theo quy luật vô thường. Không ai bảo đảm được điều gì. Có lẽ, câu hỏi không nên chỉ tập trung vào việc tên mình còn lại bao lâu, có ai nhớ không ? Mà quan trọng hơn, trong thời gian còn hiện hữu, mình đã sống như thế nào ! 

PG vốn quan niệm không có một cái "tôi" cố định hoặc một cái "ngã" bất biến và thường hằng. Cái mà ta quen gọi là "tôi" được hình thành từ "ngũ uẩn" (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) do những mối tương quan duyên sinh, duyên khởi. Đơn giản là vậy !

Thú thật, riêng mấy đạo lý này thì mình cũng không dám đào sâu, xin lỗi vậy. Mình chỉ tiện đâu nói đó thôi, ai muốn tìm hiểu kỹ hơn thì xin tự tìm tòi thêm nhé. Bởi có những sự thật nghe qua tưởng chừng đơn giản, nhưng xưa nay có biết bao nhiêu kinh sách, bao nhiêu sư thầy, học giả học thật, giảng ngắn giảng dài, tu tập cả đời, mà nhiều khi… đâu vẫn hoàn đấy. Có lẽ một trong những rào cản lớn nhất trong việc học đạo là chúng ta đang sử dụng ngôn ngữ - một thứ công cụ vốn có giới hạn ngay từ đầu - để diễn đạt về những sự thật vượt ngoài giới hạn ngôn ngữ như vô ngã (non-self), hoặc tánh không (emptiness) v.v... Con người thường thích tìm kiếm và nói về những lý thuyết cao siêu, triết lý khó hiểu, cõi này cõi kia, thiên đàng địa ngục, mang đậm tính tôn giáo thần quyền, trong khi những lời giảng dạy của Phật thì ngược lại, rất đơn giản, rất thật, và rất gần gũi với đời sống hàng ngày. Dường như có một sự lầm tưởng rất lớn giữa cái "hiểu" bằng kiến thức vay mượn trong kinh điển hoặc sách vở, và cái "thấy" rốt ráo bằng tuệ giác có được thông qua sự quán chiếu và trải nghiệm của bản thân !

(Mở ngoặc chút, có một cuốn sách viết về "vô ngã" rất hay của Ngài Long Thọ Bồ Tát (Nagarjuna) được dịch bởi Jay L. Garfield. Nguyên bản tiếng Anh là "The Fundamental Wisdom of the Middle Way" có bán trên Amazon. Nếu bạn nào muốn tìm hiểu thêm, nên đọc.)


Thôi, trở lại câu chuyện cái tên.

Trong đời sống hằng ngày, danh xưng và tên tuổi dường như vô cùng quan trọng. Nhưng suy cho cùng, chúng cũng chỉ mang tính tương đối và tạm bợ. Tốt trong mắt người này chưa chắc đã tốt trong mắt người kia; anh hùng của người này đôi khi lại hiện ra với một hình tượng hoàn toàn khác trong mắt người khác. Người được một triều đại lưu danh chưa chắc đã được triều đại kế tiếp nhắc đến với cùng sự trân trọng; thậm chí có khi còn bị phê phán, phủ nhận hay mang một danh xưng hoàn toàn khác. Âu cũng là chuyện thường tình !

Ví dụ, hỏi một anh MAGA về một ông bộ trưởng xoài, cóc, ổi nào đó, có khi nghe ra như là bậc tài năng tuyệt đỉnh; nhưng cũng ông bộ trưởng ấy mà hỏi một người chẳng ma-ga ma-giếc gì, có khi lại hóa thành một gã hề. Tương tự, thử hỏi về “danh tiếng” của Putin từ những góc nhìn khác nhau ở Nga và Ukraine, ta có thể nhận được hai, ba, thậm chí vài chục hình ảnh rất khác nhau. Cùng một cái tên, nhưng ý nghĩa gắn vào cái tên ấy lại tùy thuộc rất nhiều vào người đang gọi nó, vào hoàn cảnh lịch sử, nhận thức, lập trường hay quan điểm chính trị của mỗi người.

Lịch sử Việt Nam cũng không thiếu những trường hợp như vậy. Những nhân vật như Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, chẳng hạn, có thể được nhắc đến với lòng kính trọng về khí tiết và lòng trung thành trong một cách nhìn lịch sử, nhưng khi đặt vào những cách diễn giải khác về triều đại, chính thống hay biến động của thời cuộc, tên tuổi của họ lại có thể được nhìn nhận theo những cách khác nhau. Con người vẫn là con người ấy, việc đã xảy ra cũng đã xảy ra; nhưng qua mỗi thời đại, mỗi lăng kính, cái “danh” gắn lên họ có thể đã đổi khác.

Thành ra, đôi khi cái tên tưởng là của mình, nhưng ý nghĩa của cái tên ấy lại nằm trong miệng thiên hạ. Hôm nay người ta gọi ta là anh hùng, ngày mai có thể gọi bằng một cái tên khác. Cái tên có thể còn đó, nhưng cái “danh” thì luôn chuyển động theo lòng người và thời cuộc.

Mà đâu cần phải nhìn đến những nhân vật lớn lao. Ngay trong đời sống thường ngày, câu chuyện về cái “danh” cũng lắm điều bi hài. Có những người gốc dân di trú sống ở Tây, ở Mỹ, quanh năm làm một công việc bình thường để mưu sinh; nhưng mỗi lần trở về quê hương lại khoác thêm cho mình một chức danh sang trọng, một chức sắc cao quý, thậm chí một vai vế nào đó nghe như quan chức chính phủ. Thế là quanh năm phải vất vả sống hai cuộc đời, đóng hai vai khác nhau - nửa Trương Ba, nửa anh bán thịt ** - đến nỗi đôi khi chính mình cũng chẳng biết đâu mới là con người thật. Tương tự, có người quanh năm cần kiệm, chịu thương chịu khó nơi xứ người, chỉ dành cho một cú hồi hương “liền chị liền em” để bà con, bạn bè nhìn vào thấy mình “thành đạt”. Cuộc vui qua đi, trở về đời thường, đôi khi chỉ còn lại một mình với những ngậm ngùi !

Nghĩ cho cùng, ta khổ không phải vì cái “tên” hay “danh xưng” tự nó có quyền lực gì, mà bởi ta đã trao cho nó quá nhiều quyền lực. Cái danh vốn chỉ là một quy ước tạm thời, nhưng khi con người phải sống để phục vụ cho cái danh ấy, thì cái danh, cái tên không còn là phương tiện nhận diện nữa mà đã trở thành một vai diễn phải gánh suốt đời.

Có lẽ vì vậy mà một câu ngắn trong Kinh Kim Cang lại có sức ảnh hưởng lớn đến nhiều thế hệ: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm."

Theo kinh sách và truyền thống Thiền tông, Ngài Lục Tổ Huệ Năng vốn có một nhân duyên đặc biệt với Kinh Kim Cang. Tương truyền, khi nghe đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài hoát nhiên đại ngộ. Khi nói đến những chuyện như “nhân duyên đặc biệt” bắt đầu từ đâu, có liên quan đến tiền kiếp, tái sinh, hoặc những chuyện huyền nhiệm đời này đời khác, thì có lẽ thuộc về phạm vi tín ngưỡng và truyền thuyết, người đời sau khó lòng kiểm chứng được. Nhưng Huệ Năng là một nhân vật có thật, Ngài có vị trí quan trọng trong lịch sử Thiền tông Trung Hoa, và cho dù những giai thoại quanh cuộc đời Ngài được hiểu theo nghĩa lịch sử hay biểu tượng, tư tưởng cùng hình ảnh của Ngài vẫn có ảnh hưởng sâu rộng cho đến ngày nay.

Điều đáng lưu ý là Kinh Kim Cang không dạy con người trở thành một khúc gỗ vô cảm. Không phải “vô sở trụ” rồi thì chẳng làm gì, chẳng thương yêu ai, cũng chẳng còn quan tâm đến điều gì. Trái lại, có thể hiểu một cách giản dị rằng ta vẫn sống một đời sống bình thường, vẫn khởi tâm, vẫn yêu thương, hành động, học hỏi và phụng sự; chỉ là đừng để tâm mình mắc kẹt hay bám chấp vào bất cứ danh xưng, lý thuyết, tên tuổi hay hình tướng nào, kể cả những danh xưng và hình ảnh mà chính ta đã tạo dựng về bản thân mình. Nói cách khác, vấn đề không nằm ở danh xưng hay địa vị, mà ở chỗ ta có bị chúng trói buộc hay không. Tổng thống vẫn là tổng thống, bộ trưởng vẫn là bộ trưởng, chủ tịch vẫn là chủ tịch; hòa thượng, tiến sĩ, giáo sư… gì gì đó thì vẫn mang những danh xưng cần thiết của mình, nhưng không “trụ”, không đồng hóa con người mình với những danh xưng ấy. Làm một việc tốt mà không cần dựng thêm một pho tượng về “người tốt” trong chính tâm mình. Có tài mà không phải ngày ngày gặp ai cũng chứng minh rằng mình có tài. Có học mà không lấy học vị làm bức tường phân chia mình với người khác. Có quyền lực mà không lầm tưởng chiếc ghế mình đang ngồi chính là giá trị của bản thân. Danh vẫn có đó, nhưng không nhất thiết phải lệ thuộc vào nó và bị nó sai khiến!

Nếu nhìn như vậy, “vô sở trụ” không phải là rời bỏ cuộc đời, mà chính là sống giữa cuộc đời nhưng không để cuộc đời đóng đinh mình vào những cái tên !

Tất nhiên, nghe vậy biết vậy, nhưng sống được như vậy chẳng dễ dàng chút nào. Phàm phu như mình, nghe người ta nói bậy chưa hết câu là đã nổi giận lôi đình. Nghe ai khen chút thì vẫn thích hơn là ai đó chê mình. Nên chắc là sẽ còn học dài dài :-). 

Có lẽ vì thế mà “vô sở trụ” đòi hỏi sự thực hành và quán chiếu thường xuyên trong đời sống, chứ không phải chỉ tích lũy thêm một mớ kiến thức chữ nghĩa trong kinh sách hoặc nghi lễ hình thức. Cứ thử quan sát một bữa nhậu, một đám giỗ, một buổi họp lớp, họp đồng hương, hay những cuộc tranh cãi trên mạng; từ chuyện xưng hùng xưng bá giữa các "anh hùng làng xã", cho đến chuyện vai vế, chức sắc trong các hội đoàn, cộng đồng… đâu đâu cũng thấp thoáng cái bóng của danh sắc và nhu cầu được người khác công nhận.

Có một số người có thể rời bỏ chức vụ nhưng vẫn nhớ mãi rằng mình từng có chức vụ. Có nhiều người chẳng cần dựng tượng đài bằng đá, nhưng lại âm thầm dựng một pho tượng trong tâm, mong người đời nhìn nhận và ghi nhớ đến mình. Tinh tế hơn nữa, nhu cầu được công nhận là người đạo đức, trí thức, hiểu đạo hay giác ngộ, đôi khi lại xuất hiện ngay trong những môi trường tu tập tâm linh, nơi mà đáng lẽ người ta có nhiều cơ hội nhất để nhận ra và tháo gỡ sự chấp trước ấy.

Thậm chí có người nói: “Tôi không ham danh.” Nhưng sâu trong lòng lại mong thiên hạ biết rằng mình chính là… người không ham danh! :-)

Cái “danh” quả thật tài tình. Đuổi nó ra bằng cửa trước, có khi nó lại lặng lẽ vòng vào cửa sau, thay một bộ quần áo khác, kín đáo hơn, đẹp đẽ hơn, thậm chí mang cả dáng vẻ của khiêm nhường và đạo hạnh. Có lẽ đây mới là cái bẫy tinh vi nhất của bản ngã .

Nói đến đây, mình lại nhớ đến ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Cuộc đời và tinh thần tu tập của ngài gợi ra một thái độ rất gần với đạo lý “vô sở trụ”, không để mình bị trói chặt vào hình thức, danh tướng và những khuôn mẫu bên ngoài. Điều đáng học ở tinh thần ấy không phải là bắt chước những hành vi khác thường của người xưa, mà là tự hỏi: Nếu mình còn cần người khác công nhận rằng mình đã hiểu đạo, vậy ai trong mình đang cần được công nhận :-) ?

Nhưng nói gì thì nói, muốn có danh xưng, tên tuổi, phải cần đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ không có lỗi. Nó chỉ là phương tiện. Nhưng chính sự chấp trước của chúng ta vào ngôn ngữ, mới khiến phương tiện trở thành giới hạn.

Không có ngôn ngữ, có lẽ cũng khó có lịch sử, triết học, văn chương hay nền văn minh như chúng ta biết ngày nay. Nhưng cũng chính từ đó nảy sinh một nghịch lý - ngôn ngữ giúp ta hiểu thế giới, nhưng đôi khi cũng khiến ta tưởng rằng thế giới chính là những cái tên mà ta đặt cho nó. Vì vậy, nhiều người thực hành theo PG, không phải để tìm thêm thật nhiều khái niệm, hay chữ nghĩa trong kinh sách, nhằm chất đầy tâm trí, mà đôi khi lại là học cách đặt những khái niệm đó xuống. Đọc kinh để rồi một ngày kia không còn mắc kẹt trong chữ nghĩa của kinh. Học giáo pháp để nhận ra giáo pháp chỉ là con đường chứ không phải vật sở hữu: ai đúng, ai sai. Dùng ngôn ngữ làm chiếc bè để đi đến nơi mà ngôn ngữ không còn đủ sức diễn tả, rồi bỏ chiếc bè xuống chứ không vác theo :-) 



Thực tế, danh xưng vốn chỉ là phương tiện quy ước. Nhưng khi cố chấp vào danh thì lại biến phương tiện đó thành bản ngã !

Một con người từng sai không nhất thiết mãi mãi là "người xấu". Một người hôm nay thành công có thể ngày mai thất bại. Một người hôm nay được tung hô có thể ngày mai bị quên lãng. Một cái tên từng làm rung chuyển cả một thời đại, vài trăm năm sau có khi chỉ còn nằm trong một dòng chú thích của sách sử. 

Vậy mà trong đời sống, chúng ta dành cả đời để bảo vệ những danh từ ấy, dành quá nhiều thời gian để đánh giá lẫn nhau, gán cho nhau những danh tính và những cái tên. Có lẽ một trong những bi kịch âm thầm của con người là ta dựng nên một sân khấu bằng khái niệm, rồi bước lên sân khấu ấy diễn lâu đến mức quên rằng mình đang diễn.

Sự tự do đích thực không phải là không có tên. Mà là có tên nhưng không bị cái tên trói buộc. Có địa vị mà không trở thành nô lệ của địa vị. Có thành tựu mà không lấy thành tựu làm bản ngã. Được khen mà không bay lên. Bị chê mà không sụp xuống. 

Một dòng sông đâu cần biết tên mình mới có thể chảy. Một bông hoa đâu cần ai gọi tên mới có thể nở.

Và con người, có lẽ cũng không nhất thiết phải được khắc tên, dựng tượng đài, gắn tên lên chỗ này chỗ kia mới "chứng minh" rằng mình đã sống một cuộc đời có ý nghĩa. Mình trộm nghĩ vậy !

Thôi, lan man cũng đã khá dài, xin dừng nơi đây. Sáng thứ Bảy, thân chúc tất cả các bạn một cuối tuần an vui, hạnh phúc.

PN (9/2026)

Chú thích:
(*)   Lấy ý của câu "Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng"
(**) Điển tích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" .

Monday, August 24, 2026

Phiếm: Câu chuyện dùng người...


Mấy tháng nay, thiên hạ râm ran tranh luận khá nhiều về những câu chuyện "dùng người". Nhưng đề tài này thì nói bao giờ cho hết :-).  Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, chuyện nhìn người, chọn người và dùng người xưa nay vẫn luôn là phần vô cùng quan trọng trong việc trị quốc, an dân.

Gần đây, thế giới có nhiều xung đột, mâu thuẫn và chiến tranh xảy ra. Nên người ta càng để ý, quan tâm đến nhân cách đạo đức, tư duy trí tuệ và văn hóa ứng xử của các chính khách cũng như các lãnh đạo quốc gia có liên quan. Bởi vậy, điểm mạnh, điểm yếu của một số quốc gia, khả năng của một số nguyên thủ, và ngay cả tài năng của các "quân sư quạt mo", thượng thư bộ nọ bộ kia…v.v.cũng càng bộc lộ rõ ràng. 

Tất nhiên, xưa nay ai cũng biết việc "dùng người" không phải chỉ là lo đối nội, trị nước an dân trong thời bình, mà còn là khả năng đối ngoại, giao hảo láng giềng, liên kết đồng minh, ứng phó khủng hoảng, hóa giải mâu thuẫn, an ninh khu vực, và đôi khi quyết định thành bại cho một hoặc nhiều quốc gia trong chiến tranh, hoặc thậm chí làm thay đổi cả cục diện thế giới. Bởi thế, vai trò lãnh đạo vô cùng quan trọng. Trong thời buổi càng rối ren, loạn lạc thì thiên hạ lại càng thích luận bàn về thế sự. Và thế là câu chuyện "dùng người" lại trở thành đề tài nóng bỏng, bàn tới bàn lui mãi không thôi :-).

Thực ra, truyền thông và mạng xã hội thì lúc nào cũng khao khát đề tài. Không có chuyện giật gân này thì lại có chuyện xung đột, chém giết hay xì-căng-đan khác. Còn chuyện đời thì cứ đến rồi đi, chẳng có gì thường hằng, mà cũng chẳng có ai nhớ hoài, nên nhớ quên, trúng trật, thêm bớt đôi chút cũng là chuyện thường tình.

Ngẫm lại, cái tâm con người đôi khi cũng giống như chiếc TV đời cũ, mỗi ngày trình chiếu không biết bao nhiêu bộ phim. Phim buồn thì khóc, phim vui thì cười, phim ma thì sợ... Có khi phim hay, tình tiết hấp dẫn, ta nhập vai sâu quá đến nỗi quên mất mình chỉ đang xem phim, rồi cứ ngỡ những gì hiện trên màn ảnh là đời thật. Đến khi phim hết, chiếc TV lại trở về với chính nó, vẫn là cái màn hình ấy. Có người còn lưu luyến mãi chút dư âm, có người thoáng chốc đã quên. Rồi ngày mai, màn hình lại sáng lên, và những bộ phim khác lại bắt đầu…!

Hôm nay rảnh rang, xin phiếm bàn đôi chút về một vài câu chuyện dùng người ngày xưa. Viết cho vui, đọc cũng cho vui thôi. Lan man chuyện xưa chuyện nay, coi như một chút "ôn cố tri tân" vậy :-)

Mỗi lần đọc lại lịch sử, ta thường nhớ đến những vị vua anh minh, những danh tướng hay những bậc anh hùng làm nên một thời đại. Nhưng phía sau mỗi tên tuổi lớn đó, còn có rất nhiều con người khác ít được nhắc đến. Những mưu sĩ, tướng lĩnh, quan lại, học giả và đôi khi cả những con người xuất thân rất bình thường mà tài năng của họ được nhận ra và được đặt vào đúng chỗ. Bởi vậy, khi nghĩ về chuyện hưng vong của một quốc gia, có lẽ không thể không nghĩ đến hai chữ "dùng người".

Tất nhiên, xưa nay vai trò của người lãnh đạo bao giờ cũng quan trọng, nhưng người đứng đầu chưa chắc phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực. Có khi tài năng lớn nhất của họ lại nằm ở chỗ biết mình không thể làm được tất cả; biết tìm người làm được những điều mình không làm được; biết đặt họ vào đúng chỗ; và quan trọng hơn, đủ bản lĩnh để tin dùng người tài mà không đòi hỏi người ấy phải giống mình.

Thử điểm lại vài điển tích… từ chuyện người cho đến chuyện ta. Có những chuyện xưa mà chưa bao giờ cũ !

Khương Tử Nha (Lã Vọng), cụ già câu cá chờ thời. Một cụ già ngoài bảy mươi kiên nhẫn ngồi câu cá chờ minh quân, chờ thời cơ để cống hiến và phụng sự. (Nhớ lưu ý là không phải ông chủ quán chả cá Lã Vọng ăn với bún, rau thì là, và mắm tôm nghen :-)).

Trong ký ức văn hóa phương Đông, hình ảnh Khương Tử Nha ngồi câu bên sông Vị đã trở thành một điển tích đẹp về cuộc gặp gỡ giữa người hiền tài và người biết nhận ra hiền tài. Tính ra, ông đã cao tuổi mà vẫn thản nhiên chờ đợi mỗi ngày. Còn bây giờ, thế hệ bạn bè mình, có người chưa tới tuổi về hưu mà đã than thở già nua :-).

Cuối cùng, Khương Tử Nha gặp được Cơ Xương Tây Bá Hầu, người sau này được tôn là Chu Văn Vương. Và ông trở thành vị khai quốc công thần vĩ đại nhất của triều Chu, góp phần đặt nền móng cho sự nghiệp của một vương triều tồn tại hơn tám thế kỷ. Bỏ qua những lớp huyền thoại được bồi đắp qua hàng nghìn năm, điều làm câu chuyện ấy sống mãi có lẽ không nằm ở chiếc cần câu, mà ở cuộc gặp gỡ giữa một người có tài và một người có khả năng nhận ra tài năng ấy.

Người tài có thể chờ minh chủ. Nhưng minh chủ cũng phải có con mắt nhận ra người tài. Bởi tài năng không phải lúc nào cũng xuất hiện với một "lý lịch tốt", một xuất thân thuận lợi, hay trong hình hài tai to mặt lớn, mũi lân mép rồng, tai trâu lưng rùa, như phong thủy tướng số mong đợi. Nếu người lãnh đạo chỉ tìm những người cùng quá khứ, cùng quan hệ, cùng làng, cùng đảng, cùng dân chủ, cộng hòa, hay ma-ga ma-giếc gì đó, hoặc cùng cách nghĩ, hoặc chỉ nói theo những gì mình muốn nghe, thì rất có thể là người tài vẫn còn ở đó, nhưng chẳng bao giờ bước qua nổi… vòng gửi xe :-).

Câu chuyện thứ hai là Tề Hoàn Công và Quản Trọng, từ đối nghịch đến trị quốc.

Nếu chuyện Khương Tử Nha nói về khả năng nhận ra người tài, thì chuyện Tề Hoàn Công trọng dụng Quản Trọng lại đặt ra một câu hỏi khó hơn - Liệu ta có thể dùng một người từng đứng ở phía đối nghịch với mình hay không?

Quản Trọng vốn phò Công tử Củ, đối thủ của Công tử Tiểu Bạch, người sau này trở thành Tề Hoàn Công. Trong cuộc tranh giành quyền lực, theo sử truyện, Quản Trọng từng bắn tên vào Tiểu Bạch và suýt lấy mạng ông. Nếu xét theo kiểu "nợ máu", thì Quản Trọng rõ ràng là người đích thân bắn nhà vua. Nếu xét theo "lý lịch", thì ông cũng chẳng thuộc về bên thắng cuộc, mà là người của "thế lực thù địch".

Thế nhưng Bào Thúc Nha hiểu tài Quản Trọng và tiến cử ông. Điều đáng nói hơn là Tề Hoàn Công có thể bước qua hiềm khích tư thù cá nhân và thành kiến ta–địch để trọng dụng một người từng đứng ở phía đối nghịch với mình. Quản Trọng sau đó trở thành nhân vật trung tâm trong những cải cách giúp nước Tề hùng mạnh; Tề Hoàn Công trở thành một trong những bá chủ nổi tiếng nhất thời Xuân Thu.

Hơn hai nghìn năm sau, câu chuyện ấy vẫn đáng để suy ngẫm.

Bởi nếu ngày đó Tề Hoàn Công chỉ hỏi "Người này trước đây thuộc phe nào?", thì có lẽ đã không có một Quản Trọng của nước Tề. Nhưng ông đã đặt được một câu hỏi lớn hơn: "Người này có thể làm gì cho nước Tề?"

Khoảng cách giữa hai câu hỏi ấy có lẽ cũng chính là khoảng cách giữa tư duy phe phái địch-ta và tư duy trị quốc vì quốc gia và dân tộc. Và cũng chính khoảng cách đó đã làm nên lịch sử vĩ đại của một thể chế. 

Trong lịch sử nước ta cũng không hiếm những câu chuyện như thế. Ở đây mình chỉ nhắc đến hai nhân vật mà mình đặc biệt kính trọng, đó là Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi. Cách họ nhìn người, dùng người và đặt đại cuộc lên trên hết đã để lại nhiều bài học giá trị, nhiều điều đáng suy ngẫm cho hậu thế.

Trần Hưng Đạo, dùng người vì đại cuộc !

Nhắc đến những cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, người ta thường chỉ nhớ đến Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Nhưng đằng sau cái tên tuổi lớn ấy là cả một tập hợp những con người anh hùng. Qua cách Hưng Đạo Vương nhìn người và dùng người, sẵn sàng gạt bỏ hiềm khích cá nhân, thù nhà để cùng các vua Trần, các tướng lĩnh như Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư chung lo việc nước; trọng dụng người tài mà không câu nệ lý lịch xuất thân như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô… Có lẽ chính ở đó ta thấy được cái tâm và cái tầm của người lãnh đạo, biết đặt việc nước lên trên thù riêng, tài năng lên trên phe phái, và lợi ích dân tộc lên trên những vị kỷ nhỏ nhoi, danh vọng hay quyền lợi cá nhân. Điều mà không phải người cầm quyền nào cũng làm được, cho dù là thời đại nào.

Ngoài lề chút, có lần mình hỏi một người quen có biết “Ngũ Hổ Tướng” ngày xưa không ? Anh ta trả lời vanh vách Trương Phi, Quan Công, Triệu Tử Long, Mã Siêu, Hoàng Trung. Nhưng khi hỏi đến Nguyễn Địa Lô, Yết Kiêu, Dã Tượng, Cao Mang, Đại Hành… thì anh lắc đầu, chưa nghe đến bao giờ. Riêng vụ này chắc phải cảm ơn các anh nhà đài, báo giới đã có công truyền bá lịch sử TQ từ nhiều năm qua :-).

Nhìn lại, thời chống Nguyên Mông có rất nhiều nhân tài, và họ là những nhân tài không giống nhau về xuất thân, địa vị, hay tính cách. Có người từ hàng dân dã bước lên hàng danh tướng; có người từng trải qua những thăng trầm trong cuộc sống hoặc phạm phải những lỗi lầm nhất thời như Trần Khánh Dư, nhưng vẫn được trao cơ hội khi đất nước cần đến tài năng của họ, đúng người đúng việc. Đứng trước hiểm họa chung, câu hỏi quan trọng nhất không còn là "Anh sinh ra trong gia đình nào? Anh thuộc phe nào? Anh có hoàn toàn giống ta trong mọi suy nghĩ hay không?" Mà là "Anh có tài gì, và tài ấy giúp được gì cho việc nước?". 

Và có lẽ đó cũng là nguyên tắc nổi bật trong nghệ thuật dùng người của Hưng Đạo Vương - không tìm một con người hoàn hảo, bởi trên đời vốn chẳng ai hoàn hảo, mà biết sở trường của từng người, đặt họ vào đúng chỗ và để tài năng ấy phục vụ một mục đích lớn hơn chính bản thân họ !

Nhiều người cho rằng thế giới hiện nay có nhiều quốc gia, chính phủ chỉ tập trung sử dụng những con người trung thành với lãnh đạo, cùng đảng phái, hoặc cùng chung lợi ích. Tất nhiên, bất kỳ là quốc gia nào, trong mọi tổ chức, lòng trung thành và sự đáng tin cậy đều có giá trị. Không ai có thể làm việc lớn với những người hoàn toàn không đáng tin cậy. Nhưng vấn đề trở nên phức tạp khi một câu hỏi được đặt ra là họ trung thành với ai, và "trung thành" có phải là tiêu chuẩn tối hậu của việc dùng người hay không?

Trung thành với một cá nhân? Một phe phái? Một nhóm lợi ích? Hay trung thành với hiến pháp, trách nhiệm, pháp luật, nhân dân và lợi ích lâu dài của đất nước?

Những điều ấy đôi khi đi cùng nhau, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Một người luôn nói "dạ vâng" có thể rất trung thành với cấp trên, nhưng chưa chắc đã trung thành đối với công việc chung, hay đối với đất nước. Ngược lại, một người dám nói "không" có thể khiến người lãnh đạo khó chịu, nhưng đôi khi chính họ đang cố ngăn một quyết định có hại cho đất nước. Và một người từng thuộc một phía khác, có quá khứ hay xuất thân khác, chưa chắc vì thế mà lòng yêu nước của họ ít hơn bất cứ ai.

Có lẽ vì vậy, một nền trị quốc khôn ngoan phải biết phân biệt lòng trung thành với một con người và lòng trung thành với những điều lớn hơn con người. Điều đáng suy nghĩ là khi việc lựa chọn con người đã không còn bắt đầu bằng câu hỏi "người này có khả năng gì?", mà bằng những câu hỏi về đảng phái, lý lịch gia đình, nguồn gốc, quan hệ, phe nhóm hay những định kiến được truyền lại từ quá khứ, thì hệ quả sẽ như thế nào ?

Trong xã hội ngày nay, đôi khi người ta vẫn bắt gặp cách dùng người dựa trên lợi ích nhóm, quan hệ, lý lịch, đảng phái và lòng trung thành nhiều hơn tài năng. Ngay cả những đất nước văn minh dân chủ như Hoa Kỳ, trong những năm gần đây, người ta vẫn nhận thấy hiện tượng này từ các vị trí chủ chốt được bổ nhiệm hoặc trong các lần ủng hộ bầu bán. 

Dĩ nhiên, đối với những vị trí quan trọng, thì nhân cách sống, quá trình, thành tích, sự tin cậy và tinh thần trách nhiệm đều cần được xem xét kỹ lưỡng. Nhưng nếu chọn lý lịch gia đình hay sự gần gũi phe nhóm trở thành thước đo thay thế cho năng lực và phẩm chất cá nhân, thì xã hội rất dễ đánh mất người tài. Bởi không ai được lựa chọn cha mẹ mình. Cũng không ai được lựa chọn mình sinh ra ở phía nào của một biến cố lịch sử. Và càng không nên bắt thế hệ sau mãi mang trên vai những phán xét dành cho thế hệ trước. Nếu một xã hội cứ phân loại con người bằng quá khứ của gia đình họ thay vì tài năng, nhân cách và những gì chính họ đang đóng góp, thì những đường ranh lịch sử sẽ rất khó thực sự khép lại.

Khi ấy, điều mất đi không phải chỉ là cơ hội của một vài cá nhân, mà quốc gia cũng tự làm nghèo nguồn nhân lực của chính dân tộc mình.

Trong đời sống hàng ngày có một cách nói rất quen thuộc, đó là "người của mình". Nếu trong cuộc sống riêng, thì điều đó chẳng có gì đáng nói. Nhưng khi bước vào việc công, ba chữ ấy có thể trở nên nguy hiểm, nếu như chúng trở thành tiêu chuẩn lựa chọn con người. Một quốc gia không thể được xây dựng chỉ bằng "người của mình", "người của tôi", "người của anh", hoặc "người phe này" hay "người phe kia".

Mà điều cần tìm phải là "Người của việc." !

Khoảng cách từ "người của mình" đến "người của việc" đôi khi có thể làm thay đổi vận mệnh của một đất nước.

"Người của việc" là người có khả năng làm được công việc được giao phó, hiểu trách nhiệm của vị trí ấy, dám nhận trách nhiệm khi mình sai; và quan trọng hơn, hiểu rằng quyền lực được trao cho mình không phải để phục vụ người đã bổ nhiệm mình, mà để thực hiện trách nhiệm mà chức vụ ấy đại diện.

Khi "người của mình" được đặt trên "người của việc", bè phái rất dễ hình thành. Mà bè phái một khi hình thành thì lòng trung thành cũng dần thay đổi đối tượng. Người ta không còn bảo vệ nguyên tắc mà bảo vệ lẫn nhau; không còn hỏi điều gì đúng mà bắt đầu hỏi điều gì có lợi cho nhóm mình. Khi ấy, người tài nhưng không thuộc phe sẽ đứng ngoài. Người có ý kiến khác sẽ dần im lặng. Người biết nói những điều cấp trên muốn nghe lại dễ tiến lên. Và nguy hiểm hơn cả, cuối cùng người đứng đầu chỉ còn nghe tiếng nói của chính mình vọng lại từ những người chung quanh.

Vậy thì người lãnh đạo có cần người bất đồng với mình không ? Có lẽ là có. Mình thì nghĩ là rất cần. Thậm chí, quyền lực càng lớn thì càng cần.

Người xưa có khái niệm "can gián" bởi họ hiểu một điều rất đơn giản, người đứng đầu cũng là con người, mà đã là con người thì ai cũng có thể sai. Ngay cả những nhân vật được thiên hạ gán ghép là "gian hùng" độc đoán như Tào Tháo, lúc nào cũng có vài quân sư đi theo chuyên can gián. Thế mà thời nay, có nhiều người can đảm đứng ra can gián, ngày mai bị đuổi việc, hoặc bị kêu lính điều tra bắt bớ, thì còn ai dám can gián nữa :-) ?

Thực ra, quyền lực không làm cho một người bớt sai. Mà nó chỉ khiến người khác khó nói cho người ấy biết rằng họ đang sai. Bởi vậy, một người lãnh đạo có mười người luôn đồng ý với mình chưa chắc may mắn bằng việc có bên cạnh một người đủ trung thực để nói - "Việc này không nên làm". Thế nhưng để giữ được một người như thế bên cạnh lại đòi hỏi một thứ bản lĩnh khác mà không phải người lãnh đạo nào cũng có. Đó là khả năng chịu đựng sự bất đồng, và khả năng đối diện với lỗi lầm của bản thân.

Người lãnh đạo thiếu tự tin thường xem phản biện là thách thức đối với quyền lực của họ. Người có bản lĩnh lại có thể xem đó như hàng rào bảo vệ mình khỏi những sai lầm của chính mình. Vì vậy, đôi khi người trung thành nhất không phải là người luôn đứng sau dạ bẩm hay khen ngợi, mà là người dám đứng trước mặt ta và nói điều ta không muốn nghe, khi họ tin rằng điều ấy cần thiết cho lợi ích chung.

Mình thường nói đùa ông nào làm vua quan, làm tổng thống, chủ tịch, mà chung quanh toàn nịnh thần thì thật ra là kém may mắn chứ sướng ích gì !

Khi nói đến chuyện "dùng người, giữ người", có lẽ khó bỏ qua một nhân vật lịch sử VN đáng kính - Nguyễn Trãi. Một con người tài năng, công trạng lớn lao, yêu dân thương nước, nhưng lại phải trải qua quá nhiều nghiệt ngã, đắng cay.

Nếu Lê Lợi là người tập hợp lực lượng, dựng cờ khởi nghĩa và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh, thì Nguyễn Trãi đem đến cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn một sức mạnh khác, sức mạnh của trí tuệ, ngôn từ, chiến lược và trên hết là một tư tưởng về ý nghĩa của việc giành lại đất nước.

Ngay đầu Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết - "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân."

Chỉ mấy chữ ấy thôi mà dường như đã đặt ra một câu hỏi căn bản cho mọi việc trị quốc: Quyền lực cuối cùng thực sự để làm gì?

Nếu chiến thắng chỉ để thay một người cầm quyền bằng một người cầm quyền khác thì dân chúng được gì? Nếu giành được thiên hạ mà dân vẫn khổ, xã hội vẫn bất an, người có tài không được trọng dụng, người nói thật không được lắng nghe, thì thành công của người trị quốc rốt cuộc có ý nghĩa bao nhiêu?

Bởi vậy, hai chữ "yên dân" có lẽ là một trong những thước đo cao nhất của thuật dùng người. Dùng người không chỉ để thắng một cuộc chiến, xây dựng quyền lực hay tạo nên một đội ngũ tuyệt đối trung thành với người đứng đầu, hoặc ban bố một danh xưng địa vị nào đó. Mà dùng người, cuối cùng, là để làm được việc có ích cho dân, cho nước.

Nhưng cuộc đời Nguyễn Trãi cũng để lại một câu hỏi buồn hơn về số phận người hiền tài. Sau khi đại cuộc thành công, cuộc đời ông trải qua nhiều thăng trầm chốn quan trường. Lê Lợi mất năm 1433. Chín năm sau, dưới triều Lê Thái Tông, vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 khiến Nguyễn Trãi cùng nhiều người trong gia tộc chịu một bản án thảm khốc. Mãi đến năm 1464, dưới triều Lê Thánh Tông, ông mới được minh oan.

Đọc đến đây, người đời sau khó tránh khỏi ngậm ngùi. Một con người từng đem tài năng, trí tuệ và cuộc đời mình góp phần dựng nên một triều đại, cuối cùng lại trở thành nạn nhân của những biến động quyền lực trong chính triều đại ấy. Bản thân mình, ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng PG, nên luôn quan niệm rằng không có bùn sẽ không có sen. Nghịch cảnh chính là môi trường tốt nhất cho đóa sen Nguyễn Trãi vượt lên từ đám bùn nhơ !

Và cũng chính từ bi kịch đó, câu chuyện “dùng người” dường như cần thêm hai chữ "giữ người". 

Tìm được người tài đã khó. Dùng được người tài càng khó. Nhưng tạo được một môi trường để người tài có thể sống, làm việc, nói thật, và phụng sự lâu dài mà không phải luôn lo sợ trước nghi kỵ, đấu đá giữa các biến động quyền lực, thì có lẽ còn khó hơn nhiều lần so với việc kêu gọi người tài.

Một quốc gia không thể chỉ cần người tài khi lâm nguy rồi để họ trở nên lạc lõng lúc thái bình; không thể mời gọi khi cần rồi lại bỏ rơi họ khi không còn cần thiết !

Trong chiến tranh, người lãnh đạo thường dễ nhìn thấy giá trị của người tài, bởi phía trước có một kẻ thù chung, mục tiêu sống còn rõ ràng và mọi tài năng đều cần được huy động. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, một thử thách khác bắt đầu. Không còn kẻ thù bên ngoài, con người rất dễ quay sang tranh giành quyền lực với nhau. Không còn mục tiêu sinh tử chung, những khác biệt về quan điểm, xuất thân, phe nhóm và quyền lợi lại có thể trở nên lớn hơn. Và đôi khi, chính trong thời bình, cái tâm và cái tầm của người trị quốc mới thực sự bị thử thách !

Thiết nghĩ, nếu "thuật dùng người" chỉ được hiểu như một kỹ năng quản trị thì vẫn còn quá hẹp. Phía sau nó phải có cái tâm và cái tầm. Có tầm, người lãnh đạo mới nhận ra đất nước rộng hơn phe phái của mình, tương lai dài hơn một nhiệm kỳ hay một đời người, và người có tài không nhất thiết phải giống mình.

Có tâm, người lãnh đạo mới có thể vượt qua yêu ghét cá nhân, định kiến về xuất thân và những vết thương quá khứ để nhìn một con người bằng chính năng lực, nhân cách và những gì họ có thể đóng góp cho sự nghiệp chung.

Có tầm mà thiếu tâm, người tài có thể chỉ trở thành công cụ của quyền lực. Có tâm mà thiếu tầm, thiện ý đôi khi cũng chưa đủ để trị quốc. 


Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tư tưởng của Nguyễn Trãi "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" là nơi "thuật dùng người" gặp "đạo trị quốc". Có lẽ vậy !

Người tài không sinh ra để làm đẹp cho triều đình, tô điểm thành tích của người cầm quyền hay chứng minh sự sáng suốt của một vị minh chủ. Người tài được trọng dụng, suy cho cùng, là để tài năng ấy trở thành điều có ích cho xã hội. Và quyền lực, nếu cần một lý do chính đáng để tồn tại, thì lý do cuối cùng có lẽ cũng không nằm ở chính quyền lực. Nó nằm ở những con người mà quyền lực ấy có trách nhiệm phụng sự.

Nhưng nếu chiêm nghiệm một cách rốt ráo, thì thực ra dùng người, cuối cùng cũng là dùng chính lòng mình. Bởi tâm của mỗi người là tấm gương phản chiếu tư duy và các ứng xử bên ngoài của họ.

Cho dù là Đông hay Tây, cổ hay kim, chuyện dùng người cuối cùng vẫn quay về chính bản thân người chỉ huy & lãnh đạo. Ông vua, bà chúa dù tài cán đến đâu, tổng thống, lãnh đạo dù có là "thiên sứ nhà trời", mà không biết nhìn người, dùng người, và giữ người, thì sớm muộn cũng khó tránh khỏi thất bại, thậm chí tan hoang. Lịch sử nhân loại hàng nghìn năm đã cho thấy điều ấy. Nếu có nhờ may mắn, lợi khẩu, hay "long mạch", phong thủy gì đó mà kéo dài thêm được đôi chút thì cũng chỉ là gượng gạo, khổ mình, khổ người :-).

Bởi vậy, nghệ thuật dùng người không chỉ nằm ở khả năng đánh giá người khác, mà còn là phép thử đối với chính cái tâm, cái tầm và bản lĩnh của người cầm quyền.

Muốn dùng được người khác mình, phải vượt qua thành kiến.

Muốn trọng dụng người từng bất đồng với mình, phải vượt qua tự ái, và hận thù nhỏ nhen.

Muốn trao quyền cho người giỏi, phải vượt qua vị kỷ, nỗi sợ bị lu mờ. 

Muốn nghe lời trái ý, phải vượt qua nhu cầu luôn được xác nhận, được xưng tụng .

Và muốn đặt lợi ích đất nước lên trên phe phái, đôi khi phải đủ can đảm để đặt quyền lợi của chính phe mình xuống dưới.

Bởi thế, cái khó của việc dùng người có khi không nằm ở chỗ thiên hạ có người tài hay không. Người tài thì thời nào cũng có. Cái khó là người cầm quyền có nhận ra họ không, có dung được họ không, có dám giao việc cho họ không, và có chấp nhận rằng họ không nhất thiết phải trở thành "người của mình" hay không ?

Khương Tử Nha gặp Cơ Xương. Quản Trọng gặp Tề Hoàn Công. Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô… mà gặp thời đại hôm nay cũng chưa chắc có thể làm nên được điều gì. Không ai bảo đảm được điều đó cả. Âu cũng là duyên khởi, duyên sinh!

Một quốc gia văn minh hiện đại tất nhiên không thể chỉ trông chờ vào một vài "minh quân" hay "hiền thần". Mà xã hội cần luật pháp, thể chế minh bạch, cơ chế tuyển chọn công bằng, và trách nhiệm giải trình để việc dùng người không phụ thuộc hoàn toàn vào sự sáng suốt, hay yêu ghét, của bất kỳ cá nhân nào. Những bài học của người xưa có lẽ vẫn còn nguyên giá trị. Một đất nước mạnh không phải là đất nước mà mọi người đều suy nghĩ giống nhau. Cũng không phải nơi những người giữ trọng trách đều có cùng xuất thân, cùng lý lịch hay cùng thuộc một đảng phái. Mà sức mạnh của một quốc gia có lẽ nằm ở khả năng quy tụ được những con người khác nhau chung tay vì một mục đích chung, vì sứ mệnh chung. Không để sự khác biệt trở thành lý do để loại trừ nhau, mà trở thành những nguồn trí tuệ bổ sung cho nhau !

Cuối cùng, người lãnh đạo giỏi không phải là người tạo ra thật nhiều người trung thành với mình, mà là người có khả năng quy tụ được thật nhiều người trung thành với trách nhiệm, với việc chung, với nhân dân, với đất nước và dân tộc.

Và có lẽ thước đo đẹp nhất của nghệ thuật dùng người vẫn nằm trong một câu hỏi rất giản dị:

Khi đứng trước một người có tài nhưng không thuộc về "phe mình", ta nhìn thấy quá khứ và sự khác biệt của họ trước, hay nhìn thấy điều họ có thể đóng góp cho tương lai của đất nước trước? Câu trả lời cho câu hỏi ấy ngày xưa có thể góp phần quyết định sự hưng vong của một triều đại. Ngày nay, nó vẫn nói lên rất nhiều điều về cái tâm, cái tầm và tầm vóc của một nền trị quốc.

Ngày nay, chuyện "dùng người" không chỉ là cấp trên lựa chọn cấp dưới hay vua chúa trọng dụng hiền tài, mà còn là trách nhiệm của người dân trong việc lựa chọn người có tài, có đức để điều hành đất nước. Trong một thể chế dân chủ, lá phiếu cũng là một cách "dùng người". Vì vậy, người dân cần sáng suốt tìm hiểu, phân tích và kiểm chứng thông tin, thay vì chạy theo tin đồn, định kiến hay cảm tính. Bởi chọn sai người để "chọn mặt gửi vàng" đôi khi không chỉ trả giá bằng một nhiệm kỳ, mà còn có thể để lại những hệ quả lâu dài, kinh tế suy yếu, xã hội chia rẽ, lòng dân bất an, thậm chí chiến tranh và xung đột. Suy cho cùng, biết chọn đúng người, đặt đúng việc, không chỉ là cái tài của người lãnh đạo, mà trong một xã hội dân chủ, còn là trách nhiệm và sự sáng suốt của mỗi người dân.

Thôi, chỉ phiếm chút cho vui, chứ cũng chẳng có ý “chính chị, chính em” gì ở đây. Cũng sắp đến giờ đi hái rau nấu cơm rồi :-)

Tạm dừng. Thân chúc quý anh chị em, bằng hữu một tuần mới an vui, hạnh phúc!

PN

Sunday, August 16, 2026

Tản mạn .... Nhớ mà không giữ :-)

 



Hôm qua, mình giúp con gái "dọn nhà" vào ký túc xá.

Trời nắng nóng hơn 90°F. Dập dìu tài tử giai nhân, nhưng không phải cảnh trong phim, mà là những ông cha, bà mẹ tất bật khuân từng thùng sách, chiếc ghế, cái tủ cho con. Mồ hôi nhễ nhại, vậy mà ai cũng cười hớn hở :-)

Từ bãi đậu xe đến các tòa nhà ký túc xá, cứ một quãng ngắn lại có một bàn phát nước miễn phí. Những nhóm sinh viên khóa trên và các tình nguyện viên cũng có mặt khắp nơi để phụ khiêng hành lý. Đông vui như một ngày hội. Giữa cái nắng oi ả của mùa hè, tự nhiên thấy cuộc sống này vẫn còn rất nhiều điều tử tế.

Xong việc, ngồi đợi con dưới bóng cây trong khuôn viên trường. Những vạt cỏ xanh mướt, những chùm crape myrtle rực rỡ giữa mùa hạ, tiếng ve rỉ rích đâu đó… khiến lòng bỗng lặng xuống.

Thoáng chốc, đứa bé chập chững năm nào đã trở thành cô sinh viên đại học. Còn người cha thì dường như vẫn vậy, chỉ có mái tóc thêm nhiều sợi bạc :-). Vẫn lặng lẽ lái xe hàng trăm cây số, vẫn cặm cụi khuân từng thùng sách, chiếc bàn, cái tủ để giúp con bắt đầu một cuộc sống tự lập. Tay vẫn làm, nhưng trong lòng lại dâng lên một cảm giác nửa vui, nửa buồn ...

Vui vì con đã lớn, đã có đôi cánh để bước vào một chặng đường mới. Buồn vì từ hôm nay, ngôi nhà sẽ vơi đi một chút giận hờn, một đôi dép trước cửa, một tiếng gọi thân quen trong bữa cơm chiều.

Bất chợt nhớ đến ngày nhập học năm xưa.

Ngày ấy, cũng ở lứa tuổi này, nhưng thế hệ mình không được may mắn như con bây giờ. Một mình với chiếc túi vải trên vai, lặng lẽ bước lên chuyến tàu rời quê. Khi đoàn tàu chuyển bánh, còn ngoái đầu nhìn lại sân ga, như luyến tiếc một lời gọi muộn màng với theo, hay mơ hồ chờ đợi một cuộc tiễn đưa bất ngờ nào đó. :-)

Nhưng sân ga vẫn lặng im.

Chỉ có tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray.

Và có lẽ cũng từ những khoảnh khắc cô đơn như thế, những đứa trẻ ngày ấy đã học cách lớn lên và tự mình trưởng thành.

Nhìn lại, mỗi giai đoạn của đời người dường như đều để lại một dấu vết trong ký ức. Có những kỷ niệm ngọt ngào, nhưng cũng có những khoảng lặng chẳng thể gọi thành tên. Nhưng dù vui hay buồn, chúng vẫn theo ta như những trang nhật ký mà thời gian khó lòng xóa hết.

Nhưng càng đi nhiều, càng đọc nhiều và càng suy ngẫm, mình lại tự hỏi: Điều gì khiến ký ức có sức níu giữ con người đến vậy?

Trong PG, gọi đó là chấp thủ. Không phải ký ức tự nó làm ta khổ, mà chính cái “tôi” muốn giữ ký ức ấy nguyên vẹn mới khiến ta dính mắc.

Ta muốn giữ mãi tuổi thơ bé bỏng của con. Muốn giữ hình ảnh sân ga năm cũ. Muốn giữ những cái liếc mắt, những cái gật đầu e thẹn dưới hàng phượng vĩ ngày xưa. Muốn giữ cuốn lưu bút thập thò sau hàng cây long não…v.v. Muốn giữ cả những tháng năm đã đi qua, như thể thời gian chưa từng đổi thay !

Nhưng làm sao giữ được?

Mọi sự trên đời đều vô thường.

Con cái lớn lên. Cha mẹ già đi. Bạn bè xa cách. Con tàu năm xưa không còn nữa. Hàng phượng vĩ cũ cũng đã già, gãy gần hết. Bạn bè đứa còn, đứa mất...

Và ngay cả mình của ngày hôm qua cũng không còn hoàn toàn là mình của hôm nay. Thay đổi hàng phút, hàng giây, huống chi là hàng tháng, hàng năm.



Nhiều người cho rằng trưởng thành không phải là quên đi quá khứ, mà là học cách mỉm cười với nó. Nhớ, nhưng không để mình bị giữ lại. Yêu thương, nhưng không cố nắm giữ !

Mình rất đồng ý với quan niệm này.

Hôm nay, nhìn con bước vào một chặng đường mới của cuộc đời, chợt hiểu rằng điều đẹp nhất của ký ức không phải là cố giữ nó mãi mãi, mà là biết ơn vì mình đã từng được sống trong những tháng năm ấy.

Có lẽ nhiều cha mẹ cũng mong con mãi bé bỏng như ngày đầu biết gọi tiếng “ba”, tiếng “mẹ”. Nhưng đó chỉ là mong muốn của trái tim, không phải quy luật của cuộc sống. Con cái sinh ra không phải để thuộc về cha mẹ. Con chỉ mượn vòng tay cha mẹ làm nơi bắt đầu hành trình của mình. Rồi đến một ngày, con sẽ có con đường riêng để bước, những ước mơ riêng để theo đuổi, và cả những miền ký ức mới mà cha mẹ không còn hiện diện trong từng bước chân.

Người phương Tây có câu: "If you love somebody, let them go" (tạm dịch: nếu thật sự yêu thương một người, hãy biết để họ tự do bước đi). Nhưng trong văn hóa Việt Nam, tình cảm gia đình có phần khác. Cha mẹ và con cái thường gắn bó rất sâu, nhiều khi kéo dài suốt cả cuộc đời. Có gia đình có con đi đại học, cha mẹ tìm mua nhà gần trường để tiện chăm sóc. Có người khi khá giả lại xây một căn nhà thật lớn, mong con cháu cùng về sống chung, tam đại đồng đường, để gia đình lúc nào cũng đông vui :-).

Ngày trước, thậm chí còn có quan niệm sinh nhiều con để về già có người phụng dưỡng. Chữ "hiếu" vì thế đôi khi không chỉ là tình cảm, mà còn mang theo cả trách nhiệm và sự kỳ vọng giữa các thế hệ.

Tất nhiên, xã hội ngày nay đã khác. Những quan niệm ấy cũng dần thay đổi theo thời gian. Con cái có cuộc đời riêng, cha mẹ cũng bắt đầu học cách tôn trọng sự độc lập của con nhiều hơn.

Nhưng nghĩ cho cùng, có lẽ vấn đề không nằm ở chuyện sống gần hay sống xa, cũng không phải Đông hay Tây đúng hơn. Mà điều đáng suy ngẫm là ranh giới rất mong manh giữa yêu thương và nắm giữ.

Thương con không có nghĩa là phải giữ con bên mình. Và để con bước đi cũng không có nghĩa là thương con ít hơn. Có khi tình thương sâu sắc nhất lại nằm ở chỗ ta dành bao năm che chở nuôi nấng, rồi đến một ngày đủ bình thản để mở bàn tay ra và nói: "Con cứ đi đi. Hãy sống cuộc đời mà con lựa chọn !". Và có lẽ đó cũng là lúc tình thương bắt đầu vượt ra khỏi sự sở hữu, và trở thành một thứ tình cảm rộng lớn hơn.

Suy cho cùng, nếu tình yêu con cái chỉ được đo bằng sự nắm giữ, thì mọi cuộc chia tay đều trở thành mất mát. Nhưng nếu tình yêu đó được hiểu như là một sự nuôi dưỡng, chia sẻ, vun trồng để người mình thương có thể tự do lớn lên, thì mỗi lần buông tay cũng có thể là một lần hạnh phúc. Bởi vậy, có lẽ làm cha mẹ không phải là giữ con ở lại bên mình thật lâu, mà là chuẩn bị cho ngày con có thể mỉm cười bước đi mà không còn cần nắm tay mình nữa. Và đến một lúc nào đó, điều cha mẹ phải học không còn là dạy con trưởng thành, mà là học cách chấp nhận rằng con đã trưởng thành. Và có lẽ, đó cũng là một sự tu tập.

Đó không phải là xa cách, mà đó là tình yêu đã trưởng thành !

Con cái không phải tài sản của cha mẹ. Tuổi trẻ cũng chẳng thuộc về riêng ai. Ký ức lại càng không phải là nơi để ta ở mãi. Mỗi người chỉ đồng hành cùng nhau trên một đoạn đường, đủ dài để yêu thương, nhưng đôi khi cũng đủ ngắn để học cách chia tay. Hiểu được điều đó, ta vẫn nhớ, vẫn thương, vẫn biết ơn tất cả những gì đã đi qua, nhưng không còn nhất thiết phải giữ chúng lại. Bởi có những điều, chính khi mở bàn tay ra, ta mới thật sự giữ được chúng mãi trong lòng.

Nhân đây, xin mở ngoặc một chút về hai chữ “buông bỏ". Thực ra, buông bỏ có lẽ cũng chẳng phải một triết lý gì quá cao siêu. Nói một cách giản dị, đó chỉ là trả mọi thứ về đúng với bản chất của nó.

Thế nhưng trong cuộc sống, không hiếm những ngộ nhận về hai chữ “buông bỏ”. Có người xem buông bỏ như một sự mất mát, một hy sinh, hay từ bỏ một điều gì đó vốn thuộc về mình. Người khác lại coi đó như một nấc thang dẫn đến những “cảnh giới” cao hơn của sự giác ngộ. Thậm chí, đôi khi người ta còn vô tình biến chính sự buông bỏ thành một thành tựu để tự hào về công phu tu tập của mình. Nhưng nếu buông bỏ lại trở thành một điều để ta nắm giữ, hoặc một thành tích để xác nhận rằng "tôi đã buông được", thì có lẽ đó vẫn chưa phải là buông. Bởi đôi khi, cái khó buông nhất không phải là điều ta đang nắm giữ, mà chính là ý niệm rằng mình đã buông bỏ được nó :-) .

Nhớ có lần mình đọc được một câu hỏi rất hay - “Con người phải sống như thế nào để vừa yêu thương hết lòng, vừa không bị trói buộc bởi chính tình yêu ấy?”

Có lẽ câu hỏi ấy cũng gợi đến tinh thần Trung đạo trong Phật giáo. Không lạnh lùng để khỏi đau. Cũng không bám chấp để rồi khổ. Mà vẫn yêu thương bằng tất cả trái tim, nhưng cũng đồng thời hiểu rằng mọi cuộc gặp gỡ đều do nhân duyên và mọi cuộc chia tay đều nằm trong lẽ vô thường.

Tất nhiên, nói thì dễ, mà sống được như vậy thì phải tự trải nghiệm bản thân. Xụa nay ai nghe đến chữ " vô thường" thì cũng có thể hiểu ngay. Nhưng để thực sự chiêm nghiệm cuộc sống vô thường, có lẽ cần thời gian trải nghiệm và sống chung với nó. Còn nếu chỉ hiểu bằng lý thuyết suông, hoặc bằng tri kiến, thì đôi khi cũng giống như đi du lịch qua Youtube, hay ngồi bàn chuyện thế sự qua mấy cái video AI trên mạng vậy :-) .

Và cũng nhân câu chuyện nói về cách học yêu thương và buông bỏ trong đời sống thường ngày, mình lại lan man nghĩ đến cách con người học cách sống chung với nhau trong xã hội. 

Nhớ lại mấy chục năm về trước, thời mới qua Mỹ đi học, rồi nhìn lại xã hội hôm nay, quả nhiên có nhiều khác biệt. Đặc biệt, trong những năm gần đây, thế giới có quá nhiều biến động, nên ứng xử ngoại giao giữa các quốc gia cũng dần thay đổi. Riêng từng cá nhân cũng vậy, ít nhiều bị ảnh hưởng. Rất nhiều người, vốn từng chung sống thân thiện với nhau lâu nay, bỗng chốc thái độ và niềm tin trở nên khác lạ, phe nọ phe kia. Cho nên câu chuyện về sự bao dung và khả năng chung sống với những khác biệt lại càng đáng để chúng ta suy ngẫm !

Nhìn kỹ lại, thế giới quanh ta dường như đang ngày một trở nên ồn ào hơn bởi những xung đột, chia rẽ và tư tưởng cực đoan. Lòng tham, sự lạm dụng quyền lực, thái độ đối đầu và những lời lẽ đe dọa nhau dường như không còn là điều hiếm gặp. Những cách nói thiếu bao dung, những hành xử khiếm nhã mà trước đây người ta còn phần nào dè dặt, giờ đây lại xuất hiện ngày càng dễ dàng và đôi khi còn được xem như một điều bình thường. Từ một nguyên thủ quốc gia ở vị trí quyền lực cao nhất cho đến những con người dân dã bình thường trong đời sống hằng ngày, dường như chẳng ai hoàn toàn đứng ngoài bầu không khí ấy. Ta bắt gặp nó trong những cuộc trò chuyện thường nhật, trên mạng xã hội, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, và đôi khi ngay cả trên những diễn đàn ngoại giao, nơi lẽ ra sự thận trọng trong lời nói, sự tôn trọng lẫn nhau và tinh thần đối thoại cần được gìn giữ hơn bất cứ nơi nào khác.

Điều đáng suy ngẫm hơn là, thay vì nuôi dưỡng một thái độ sống hướng đến lợi ích chung và một nền văn hóa biết tôn trọng sự khác biệt - vốn dĩ là điều rất tự nhiên và cần thiết trong bất kỳ xã hội đa dạng nào, thì đôi khi chính những khác biệt ấy lại bị khai thác để khơi dậy sự sợ hãi, định kiến và hận thù. Khi đó, sự khác biệt không còn là cơ hội để con người hiểu nhau hơn, mà có thể bị biến thành công cụ cho những toan tính chính trị và quyền lực, bất chấp liêm sĩ, trách nhiệm và những hệ quả lâu dài mà xã hội phải gánh chịu.

Nhưng có lẽ điều đáng lo ngại nhất không phải chỉ là xã hội ngày càng có thêm những đường ranh phân biệt phe phái, mà là khi chúng ta dần quen với sự thù nghịch ấy và xem nó như một điều bình thường của cuộc sống. Là cha mẹ, ai cũng ít nhiều có lúc băn khoăn tự hỏi thế giới mà thế hệ con cháu chúng ta sẽ bước vào mai sau sẽ là một thế giới như thế nào? Và quan trọng hơn, một câu hỏi được đặt ra là hôm nay chúng ta đang để lại cho thế hệ tương lai một di sản của sự chia rẽ, hận thù, hay đang cùng nhau xây dựng một nền văn hóa của lòng bao dung, tử tế và khả năng sống cùng những khác biệt?

Thực tế nhiều người dường như không còn dành đủ thời gian để chiêm nghiệm, phân tích hay tự mình đánh giá tính trung thực và hợp lý của một vấn đề. Thay vì tự hỏi "Điều này có đúng không?", người ta lại dễ dàng đặt câu hỏi "Ai đang nói điều này, và họ thuộc phe nào?". Từ đó, sự thật đôi khi không còn được nhìn nhận dựa trên chính giá trị và căn cứ của vấn đề, mà qua lăng kính của sự phân chia và định kiến. Đáng suy ngẫm hơn, con người không chỉ "nghe" mà còn có khuynh hướng "bám giữ" những điều mình chưa từng trực tiếp trải nghiệm, chưa thật sự tìm hiểu hay kiểm chứng, bởi đơn giản là chúng được lặp đi lặp lại bởi những người cùng quan điểm, bạn bè quen biết, hoặc được củng cố bởi hiệu ứng đám đông.

Bởi vậy, cái "bám" và "buông" không phải chỉ là câu chuyện của một đứa bé mới trưởng thành bắt đầu rời xa gia đình, mà còn là một thách thức lớn hơn, vô cùng quan trọng cho mỗi con người trong sự chọn lựa giữa cái bám trụ cực đoan, và sự thức tỉnh giải thoát cho cuộc sống của riêng họ.

Tất nhiên, thời gian rồi sẽ trả lời điều gì là đúng, điều gì là sai. Nhưng đằng sau tất cả những thắng thua đó, mình vẫn thường tự hỏi: 

Liệu một chiến thắng có thật sự đem lại tự do và bình yên nếu nó không đi cùng lòng nhân ái? Và liệu một xã hội có thể bền vững nếu con người chỉ biết dùng bạo lực để dọa dẫm, thắng thua, cưỡng chiếm, mà quên học cách thấu hiểu nhau? 

Có lẽ đây cũng là điều mà các vị lãnh đạo thế giới đang suy ngẫm chăng ?

Thôi, lâu rồi không viết nên lại lan man hơi nhiều. Xin dừng nơi đây. Chúc tất cả bạn bè, thân hữu một cuối tuần thật bình an. 

PN


Thursday, March 19, 2026

Phiếm: Tri bỉ tri kỷ ....

 



Lâu nay người ta thường nói: "Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng". Trong những trận chiến ngày xưa, tranh giành đất đai, giữ gìn lãnh thổ, việc nắm bắt thông tin, rõ biết về đối phương là vô cùng quan trọng và khó khăn. Phải nghĩ đủ kế sách, rình mò, dò la, thăm hỏi. Ngày nay thì đã khác, ở cấp độ quốc gia, nước nào cũng có công nghệ tiên tiến, đội ngũ nhân viên hùng hậu, hàng ngày làm công việc đó. Còn chuyện lấy tin đúng hay tin bậy thì cũng chỉ họ biết, vì đó là chuyện "quốc gia đại sự". Tuy nhiên, thực tế xưa nay trong đời sống, thua vì "không biết người" thì hiếm, mà thua vì "không biết chính mình" thì lại nhiều :-).

Lịch sử thế giới xưa nay không thiếu những bậc anh hùng, từng đứng trên đỉnh cao quyền lực, từng khiến thiên hạ nghiêng mình. Nhưng cũng chính họ, trong một khoảnh khắc nào đó, lại trở thành nạn nhân của chính cái bóng mà mình tạo ra, cái bóng của chiến thắng, của danh vọng, của niềm tin rằng mình không thể sai. Có những vị tướng, từng thắng trăm trận, nhưng đến trận thứ một trăm lẻ một lại thua, không phải vì địch mạnh hơn, mà vì họ đã thôi không còn lắng nghe. Khi tiếng vỗ tay quen thuộc át đi tiếng cảnh báo, khi lời can gián trở thành "trái ý", thì thất bại chỉ còn là vấn đề thời gian. 

Người đời thường sợ kẻ thù bên ngoài, nhưng kẻ thù đáng sợ nhất lại là sự hoang tưởng bên trong. Hoang tưởng không đến một cách ồn ào. Nó đến rất nhẹ, rất hợp lý. Nó thì thầm rằng: "Ngươi đã đúng quá nhiều lần, nên lần này cũng sẽ đúng". Nó khiến con người tin rằng kinh nghiệm của mình là chân lý, rằng quá khứ vinh quang có thể bảo chứng cho tương lai. Và từ đó, người ta không còn "tri bỉ tri kỷ" nữa, mà chỉ còn "tri kỷ" theo cách méo mó của cái "tôi" của mình. Trong sử sách, có những vị vua mất nước không phải vì thiếu binh lực, mà vì không chấp nhận thực tại. Có những tướng lĩnh thua trận không phải vì kém tài, mà vì quá tin vào tài của mình. Họ không sai ở tính quyết định; họ sai ở cách nhìn thế giới và quyết định dựa trên cái nhìn sai trái đó, nơi mà họ luôn tự cho mình là trung tâm. 

"Tri kỷ" là biết mình, không phải là biết điểm mạnh, mà là thấy được giới hạn bản thân. Là hiểu rằng mình có thể sai và sai rất sâu. Là dám đặt câu hỏi, biết lắng nghe, ngay cả khi mình đang thắng.

"Tri bỉ" là biết người, cũng không phải chỉ là đoán mưu tính kế của đối phương, mà là nhìn ra sự thay đổi. Thế giới không đứng yên để ta áp dụng những chiến thắng cũ. Kẻ địch hôm nay không giống kẻ địch hôm qua. Và chính ta hôm nay cũng không còn là ta của ngày trước. Nhiều ông chỉ huy thắng vài ba trận, là đã không một chút nghi ngờ chính mình, nghĩ rằng trận tiếp cũng sẽ thắng như chẻ tre. Mà không phải chỉ có đánh trận, mình có quen biết vài người đầu tư nhà đất, vàng vòng, hay chơi số đề cũng vậy. Thắng vài ba trận nhỏ, rồi lại thua một trận lớn tan tành :-)

Nhớ hồi nhỏ coi Tam quốc chí, thấy Khổng Minh thường có kế - lệnh cho tướng đem quân ra trận rồi để thua, bỏ chạy, mà không được thắng. Lúc đó cứ thắc mắc sao ông ta có một chiêu quèn đó mà áp dụng hoài vẫn thành công. Sau này lớn lên mới hiểu là trong cuộc sống, nhu cầu cần được "bơm bong bóng" lúc nào cũng có. Ngay cả những nhân vật tên tuổi, tầm vóc như vua chúa, nguyên thủ quốc gia… đôi khi vẫn có những người thích ăn kẹo, hám danh, hoang tưởng và ái kỷ :-) .

Nhìn lại, quả nhiên giữa thắng và bại, đôi khi chỉ cách nhau một điều rất nhỏ, như nhìn lại chính mình. Có lẽ vì vậy mà những người thật sự vĩ đại trong lịch sử thường không phải là những người không bao giờ thua, mà là những người luôn giữ được một khoảng lặng trong tâm trí. Một khoảng lặng, đủ để nghe được điều mình không muốn nghe, đủ để thấy mình chưa hoàn hảo, đủ để không biến chiến thắng và sự ca tụng trở thành xiềng xích. Bởi đơn giản là khi con người ngừng "tri kỷ", thì "tri bỉ" cũng trở nên vô nghĩa. Và thất bại, khi đó, không còn đến từ bên ngoài nữa, nó bắt đầu từ bên trong. Và họ thua chính bản thân họ !


Lịch sử, Đông hay Tây, đều có những con người từng đứng rất cao, và đã từng thất bại vì lỗi lầm này. Hạng Vũ từng oanh liệt đến mức khiến thiên hạ khiếp sợ. Nhưng đến cuối cùng, ông không thua đối thủ, mà thua cái ý niệm rằng mình không thể thua. Ông không phải là kẻ tầm thường. Trái lại, ông gần như là hiện thân của một "thiên tài quân sự", dũng mãnh, quyết đoán, đánh đâu thắng đó. Nhưng chính vì vậy, ông không bao giờ thực sự học được cách lùi lại. Khi con người đồng nhất mình với chiến thắng, thì thất bại trở thành điều không thể chấp nhận. Và khi không thể chấp nhận, họ cũng không thể học.

Ở phương Tây, Napoleon Bonaparte cũng từng bước qua gần như cả châu Âu với niềm tin gần như tuyệt đối vào chính mình. Nhưng rồi, trong mùa đông nước Nga, không chỉ quân đội ông kiệt quệ, mà chính cái nhìn về thế giới của ông cũng vỡ ra. Thiên tài không cứu được một cái tâm đã quá quen thuộc với việc "mình luôn đúng". 

Adolf Hitler cũng là một ví dụ cực đoan của một cái "ta" không còn giới hạn. Khi thế giới chỉ còn là nơi để xác nhận niềm tin của mình, thì mọi thực tại khác đều bị loại bỏ. Và khi thực tại bị loại bỏ, thất bại chỉ còn là vấn đề thời gian, dù trước đó có bao nhiêu chiến thắng đi nữa.

Trong lịch sử VN, câu chuyện của Hồ Quý Ly cũng mang một sắc thái rất đặc biệt. Ông không thiếu trí tuệ, cũng không thiếu tầm nhìn. Nhưng ông lại quá tin rằng mình đã thấy đúng bản chất của thời cuộc. Sự tự tin ấy dần trở thành một dạng "chấp kiến", chấp vào cái thấy của mình như chân lý duy nhất.

Trong Phật học, chấp kiến còn nguy hiểm hơn cả vô minh. Vì vô minh thì còn có thể học. Nhưng khi đã tin rằng mình biết hết, mình luôn đúng, thì không còn chỗ cho việc nhìn lại, thấy lại. Và khi một người không còn thấy lại chính mình, thì dù cải cách có đúng đến đâu, cũng sẽ trở thành sự áp đặt.

Đạo học thì nói nhẹ nhàng hơn. Lão Tử nói là "Tri nhân giả trí, tự tri giả minh". (tạm dịch: biết người là trí, biết mình mới là sáng). Nhưng "biết mình" ở đây không phải là biết mình giỏi đến đâu, mà là biết mình không phải là trung tâm của vạn vật. Xưa nay thế giới không hiếm những quốc gia đắm chìm trong bi kịch, nơi mà người dân đã phải khốn khổ, gánh chịu mệt mỏi, thậm chí mất mát, chết chóc tang thương vì những hoang tưởng của các bạo chúa hoặc những nhà lãnh đạo độc tài độc đoán .


Mình cũng nhớ là có đọc ở đâu một câu nói "Nước chảy xuống chỗ thấp, nên mới nuôi được muôn loài. Người biết hạ mình, nên mới thấy được toàn cục". Bởi vậy, dù là tướng tá chỉ huy, hay nguyên thủ quốc gia, vua chúa gì đó, mà kiêu căng tự phụ thì cũng giống như giòng nước chảy ngược, tưởng rằng mình cao hơn, nhưng thực ra chỉ đang tự tách mình khỏi dòng chảy. Chỉ cốt làm khổ mình, khổ người. Trong Thiền học, có một khái niệm rất hay, đó là "tâm ban đầu", tức là cái tâm của người mới bắt đầu. Cái tâm của người mới học, chưa biết, nên còn mở. Khi còn mở, thì còn thấy; khi còn thấy, thì còn học. Và khi còn học, thì chưa rơi vào cái bẫy của chính mình. Nên trộm nghĩ rằng "tri bỉ tri kỷ" cuối cùng cũng không phải là tích lũy thêm hiểu biết, mà là giữ được cái tâm chưa từng biết đủ, còn nhiều thứ để lắng nghe. Bởi vì khi cái "tôi" trở nên quá chắc chắn, kiểu như "chắc như bắp" ở quê ta, thì mọi cánh cửa đều đóng lại :-) 

Nhớ hôm trước có người bạn nói với mình về vị trí số 1, số 2 của các quốc gia trong tương lai. Mình xưa nay vốn không quan tâm nhiều đến thứ hạng hơn thua trong đời sống. Bởi đó chẳng qua chỉ là những con số người ta đặt ra, gắn mác lên nhau. Thực ra mọi thứ xảy ra, cho dù đặt để ở vị trí nào, cũng chỉ là kết quả của những nhân duyên mà con người và đất nước họ đã gieo trồng trước đây, cũng như trong hiện tại. Và sự vận hành theo nguyên lý duyên sinh duyên khởi đó vẫn đang tiếp diễn hàng ngày hàng giờ. Tất nhiên, thứ hạng nào rồi cũng sẽ phải thay đổi theo quy luật vô thường. Không quốc gia nào đứng đầu mãi, mà cũng không quốc gia nào mãi ở phía sau.

Trong PG không nói nhiều đến thắng bại, mà nói đến "chấp". Chấp vào cái thấy, cái biết, cái công lao, lời khen chê, hay hình ảnh “ta là ai” trong mắt người khác. Khi đã chấp, thì không còn "tri kỷ, tri bỉ" nữa, mà chỉ còn bảo vệ một cái "ta" tưởng tượng. Và khi cái "ta" quá lớn, thế giới xung quanh trở thành một tấm gương méo mó, ai cũng có thể là kẻ thù, mọi lời nói đều có thể bị hiểu là mưu hại. Cái đáng sợ không phải là nghi ngờ người khác, mà là không còn khả năng tin vào điều gì ngoài chính mình. Và khi đó, "tri bỉ" cũng không còn, vì người khác không còn được nhìn như họ đang là, mà chỉ như cái bóng phản chiếu của nỗi sợ bên trong. 

Thực ra, những câu chuyện "tri bỉ tri kỷ" ấy không phải là xa xưa lắm, hoặc chỉ nằm trong sử sách, mà chúng vẫn đang lặp lại mỗi ngày trong một không gian khác. Ngày xưa, chiến trường là nơi va chạm của binh lực. Ngày nay, chiến trường là nơi va chạm của quan điểm.

Ví dụ như mạng xã hội, thoạt nhìn thì thấy như là nơi để "tri bỉ", để hiểu người khác. Nhưng càng ở đó lâu, người ta lại càng ít hiểu nhau hơn. Không phải vì thiếu thông tin. Mà vì cái "ta" đang đứng giữa. Một cái "ta" đang ngụp lặn giữa mớ thông tin hổn độn từng ngày, đúng sai thật giả, xen kẻ lẫn nhau. Nhiều người không phải đọc để hiểu, mà đọc để phản bác. Không lắng nghe để thấy, mà lắng nghe để chuẩn bị nói. Và từ đó, "tri bỉ" dần biến mất, chỉ còn lại những phiên bản của người khác được tạo ra trong chính mình. Trong Phật học, cái đó là tưởng tri, "biết" qua tưởng tượng, "biết" qua cái bóng của tâm. Ta không đối thoại với người thật, mà với hình ảnh của họ trong suy nghĩ của mình.

Cái "ta" trong thời đại ngày nay không còn đứng một mình. Trên mạng, nó được nuôi lớn bởi sự đồng thuận, bởi những lượt thích (like), lượt đọc, bởi cảm giác luôn có người cùng phía. Ngoài đời thật, nó được mã hóa bằng những thành công, được vỗ về bằng những lời xưng tụng. Trong chính trường, nó được số hóa bằng những lá phiếu, được phóng đại bởi những đồng minh phe phái, được tô điểm bằng những chiến thắng tức thời…Từ đó, cái "ta" không chỉ tin mình đúng, mà còn tin rằng mình đã được chứng minh là đúng. Nghe thì sướng, nhưng cái "ta" ấy lại rất mong manh, vì nó không được xây dựng trên một nền tảng sự thật bền vững, mà trên sự lặp lại và những giả định.

Điều đáng lo hơn nữa là, đôi khi những người có quyền lực, điều hành một tập đoàn hay cả một đất nước, cũng có thể dễ dàng bị cái "ta" ảo tưởng chi phối, khiến sự sáng suốt bị lệch đi, từ đó kéo theo nhiều hệ lụy trong xã hội. Friedrich Nietzsche có nói “Convictions are more dangerous enemies of truth than lies". (Tạm dịch: Những niềm tin chắc chắn còn nguy hiểm hơn cả dối trá.)

Bởi vậy, mình nghĩ "tri bỉ tri kỷ" ngày nay không còn là một chiến lược, mà là một sự tu tập. Là khả năng có thể dừng lại trước khi phản ứng. Là bản lãnh dám nghi ngờ chính điều mình tin. Là thái độ dám nghe nhìn một ý kiến khác mà không vội gọi nó là sai....  

Và có lẽ vì vậy mà hôm nay mình lại lan man nghĩ đến đề tài này. Thực ra mấy tuần qua, đọc tin tức, rồi nhận được những trao đổi của bạn bè về chuyện chiến tranh căng thẳng giữa Mỹ và Iran, mình vừa thấy quen vừa thấy lạ. Quen, vì lịch sử đã từng lặp lại những vòng xoáy như thế. Lạ, vì mỗi lần lặp lại, con người dường như vẫn mang theo những niềm tin rất chắc chắn rằng là lần này khác, và "ta" đã hiểu rõ nội dung kết cục :-).

Mình xưa nay vốn không hứng thú với việc chọn bên, hoặc cuồng tín theo cánh này, cánh kia, đảng này, phái nọ. Vì công việc đó luôn có thiên hạ làm giùm rồi. Giỡn chút thôi, chứ thực tế trong đời sống, đôi khi chỉ cần ta không đồng tình một điều gì đó với bên A, nhiều người đã tự động đặt ta vào bên B rồi :-). Tư duy nhị nguyên của con người vốn vận hành rất nhanh, gần như không cần suy nghĩ. Và rất nhiều người kể cả các vị tu sĩ chức cao trọng vọng cũng khó vượt qua được cái rào chắn này. Mọi thứ trở thành hai phía tưởng chừng như rõ ràng, đúng và sai, ta và họ (địch), trong khi thực tại thì hiếm khi đơn giản như vậy !

Mình cũng không viết để kết luận ai đúng, ai sai. Vì có lẽ, điều đó không thuộc về một cá nhân nào cả. Chỉ là tản mạn đôi chút về những gì đang diễn ra hiện nay, những câu chuyện trước mắt, và những câu chuyện từng xảy ra trong lịch sử mà bất cứ ai cũng có thể nhìn lại hoặc kiểm chứng được. Chỉ mong, giữa những ồn ào của thông tin nhiễu loạn và những diễn biến đang thay đổi hàng ngày, mỗi người vẫn giữ được cho mình một khoảng lặng, đủ để không đánh mất mình giữa những điều tưởng chừng như rất "chắc chắn". Từ đó, mỗi người có thể tự nhìn, tự nhận xét, tự hiểu, theo cách của riêng mình. Còn kết quả ra sao thì cứ để thời gian trả lời vậy :-).

Thôi mình tạm dừng, thân chúc tất cả một cuối tuần bình an hạnh phúc.

PN