Saturday, September 11, 2021

Phiếm: Con đường tơ lụa và chiếc chiếu rách của Ngài Huyền Trang !

 


Xưa nay nếu có ai hỏi mình nhân vật nào vĩ đại nhất của TQ, thì mình sẽ không chút đắn đo nói ngay rằng đó là Ngài Huyền Trang (Xuanzang). Quả nhiên đối với mình nhân vật lịch sử đáng kính nhất của TQ chẳng phải là Lưu Bang, Lý Thế Dân, Chu nguyên Chương, Hạng Võ, Tần Thuỷ Hoàng .....càng không phải là Mao Trạch đông, Đặng tiểu bình, mà là nhà sư Tam Tạng. Nhân hôm nay nhắc đến chuyện "con đường tơ lụa" của TQ, lại nghĩ đến Ngài. 

Trước hết phải nhắc sơ qua về con đường tơ lụa (Silk Road) để nhiều người tiện theo dõi. "Con đường tơ lụa" (Silk Road) của TQ đuợc cho rằng đã có từ thời nhà Hán, người TQ tạo ra như những con đường mòn để đem tơ lụa và các hàng hoá khác qua bán cho các nước, chủ yếu là Trung Đông và Châu Âu. Những con đường mòn này ngày càng được mở rộng và dài hơn. Từ sau thế kỷ 12,13 trở đi các nhà thám hiểu châu Âu cũng đã sử dụng Silk Road để trao đổi hàng hoá ngược lại với TQ. Rồi đến thời kỳ cận đại, khi các phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ thì vai trò của những con đường đó không còn quan trọng nữa. Thế nhưng trong những năm gần đây, thì nhà cầm quyền TQ lại rầm rộ đưa ra những chiến thuật và kế hoạch đầy tham vọng "một vành đai một con đường", với dụng ý thiết lập hệ thống thuỷ bộ bao trùm cả thế giới, dựa theo lý thuyết của con đường tơ lụa ngày xưa. Nhiều kế hoạch đã được triển khai như xây dựng tuyến xe lửa tốc hành kết nối đa quốc gia, ngang ngược cưỡng chiếm vùng biển của các nước nhỏ, thiết lập bẫy nợ ở các nước nghèo, vay mướn đặc khu kinh tế trên các trục lộ trọng điểm .... v.v.. Bởi vậy gần đây có nhiều thuyết âm mưu cho rằng TQ đã gây ra dịch bệnh covid tạo ra suy thoái kinh tế thế giới, rồi dùng "ngoại giao thuốc ngừa", "cây gậy và si-rô", hoặc "âm mưu ràng buộc" để khống chế các nước khác, thực hiện mưu đồ bá chủ. Tuy nhiên thuyết âm mưu thì vẫn chỉ là "thuyết" thôi, không nên tin hết cho đến khi có bằng chứng hẳn hoi. Và tất nhiên là để tìm được bằng chứng ở TQ thì cũng không đơn giản chút nào. Ví dụ như đợt dịch vừa qua, gần cả năm sau, đợi dọn dẹp xong hết, mới cho phái đoàn thế giới vô Vũ Hán, thì cho dù có mời mấy nhà ngoại cảm VN qua cũng phải đành chịu thua. Ráng đợi thôi :-) !

Trở lại câu chuyện của Ngài Huyền Trang. Thực ra, do ông Ngô Thừa Ân viết truyện Tây Du Ký quá hay, nên đã xây dựng nên một hình ảnh của nhà sư Tam Tạng hoàn toàn khác với thực tế. Viết truyện hay đến nỗi mà nhiều người cứ tin rằng Tây Du Ký là có thực. Nhớ mấy năm trước có ông quan chức gì ở Quảng Nam Đà Nẵng còn tưởng rằng núi Non Nước Ngũ Hành Sơn là chỗ Phật tổ nhốt Tề thiên năm xưa, nên kêu gọi đầu tư xây dựng du lịch về "vùng đất vàng" đó. Tất nhiên thực tế thì không phải vậy, cũng chẳng có vua Đường nào mà kêu ngự đệ đi thỉnh kinh rồi cho cái bát vàng và tấm y quý giá đem theo làm của. Cũng chẳng có ma nữ nào mà thèm thịt của nhà tu hành Tam tạng, và cũng chẳng có Tề thiên, Trư bát giới nào đi theo. Lại càng không có vụ Đường Tăng phải hối lộ cái bình bát bằng vàng nơi đất Phật để đổi lấy kinh Phật. Nhưng ngẫm lại thì đôi khi những sự hiểu lầm cũng có cái hay riêng của nó :-) .

Trên thực tế thì Ngài Huyền Trang cũng chỉ là con nhà lương dân bình thường ở TQ vào thời Tuỳ/Đường. Trước Ngài Huyền Trang cũng có nhiều bậc tu hành khác từng đi qua Ấn độ để học Phật, như nhà sư Pháp Hiển (Faxian) rất nổi tiếng. Nhưng khi Ngài Huyền Trang tu học, thì thấy trong kinh sách thời đó có nhiều mâu thuẩn nghịch lý, nên Ngài quyết chí ra đi học hỏi cứu nước cứu dân. (Cứu nước ở đây không phải là để đánh nhau, mà để đem kinh sách về dạy dỗ cho người dân hiểu đúng, tu đúng, chung sống hiền hoà hạnh phúc, tạo phúc cho đất nước dân tộc). Thời đó Đường thái Tông mới giành được nước từ nhà Tuỳ nên còn nhiều luật lệ cấm đoán, ngăn sông cấm chợ. Ngài Huyền Trang phải trốn đi vượt biên theo con đường tơ lụa để sang Ấn độ học Phật. Thời gian đi và về tốn hết 7,8 năm trên đường bộ giữa Ấn-Trung. Còn lại 10 năm ở trên đất Ấn, Ngài vừa học ngôn ngữ, vừa học đạo pháp, và sau đó đi dạy ở đại học PG Nalanda. Tính ra, ngài Huyền Trang chỉ cần 10 năm có thể học và hiểu thấu những ngôn ngữ tiếng Phạn (Pali, Sanskrit..) và những đạo lý kinh điển PG sâu sắc đến mức như vậy. Ngài có thể sáng lập ra Pháp Tướng tông, và sau đó khi trở về nước, dịch ra rất nhiều tạng kinh điển giá trị của PG Bắc tông, từ Đại Niết bàn cho tới Bát Nhã Ba La Mật, từ Duy Thức tông cho đến Tịnh độ đông ..v.v..Ngài thông hiểu cả 3 phần quan trọng nhất của kinh sách PG (Kinh tạng, Luật tạng, Luận Tạng), nên thiên hạ gọi ngài là Tam Tạng chứ không phải là do ăn được thịt Ngài thì trường sanh bất tử :-). Nhờ vậy mà còn có nhiều tạng kinh điển giá trị được lưu truyền cho nhân loại đến ngày hôm nay, trong đó có PG VN. Tất nhiên là để dịch giải được bao nhiêu kinh sách đó trong một thời gian hữu hạn thì cũng không thể tránh được những khó khăn và hạn chế nhất định.

Mà nói tới đây mình cũng cảm thấy hổ thẹn. Ngài chỉ có 10 năm mà làm ra bao nhiêu thành tựu vĩ đại cho thiên hạ. Còn kẻ phàm phu như mình ra nước ngoài đã mấy chục năm nay, tiếng Anh tiếng U còn chưa rành, chỉ quanh quẩn mấy chuyện cơm áo gạo tiền, mà cũng chưa xong. Hơn thua nhau cái đài cái xe, cái phone, chai rượu, món này món kia, nhà hàng này quán ăn nọ, chuyện làm mướn làm thuê cho hãng này hãng khác, hết đời mình đến đời con ....lẩn quẩn. Ngồi nhậu chút, khoe tới khoe lui, uống nhiều uống ít, hơn thua chuyện tào lao, rồi cãi nhau chí choé. Chính trị, chính em thì cứ như những người mù sờ voi, sờ đưọc khúc đầu chê người khúc đuôi, cả ngày chính sự ra rả, mà không thay đổi được điều gì. Thậm chí có nhiều ông mình quen đã mấy chục năm nay mà sự nghiệp chửi vẫn còn chưa xong. Làm hết chức chủ tịch, qua đến chức hội trưởng, xuống chức hội phó, lớn tuổi trở lại chức hội viên, rồi ra đi trong nuối tiếc. Ước mơ "to tát" vẫn còn nguyên một gói chưa kịp mở ra. Chuyện dịch bệnh thì mấy tháng nghĩ bàn đủ chiêu đủ kế, chống dịch như chống giặc, mà giặc thì còn chưa biết mặt mũi ra sao, người thân quen thì cứ chết rụng rơi mỗi ngày. Bằng này cấp nọ, chữ nghĩa một bụng, cũng chỉ để chê nhau, hơn thua là chính. Bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Lý Bạch ngày xưa mà nhà thơ Tản Đà đã dịch lại:

....
Do lai chinh chiến địa,
Bất kiến hữu nhân hoàn.
Thú khách vọng biên sắc,
Tư quy đa khổ nhan,
Cao lâu đương thử dạ,
Thán tức vị ưng nhàn.

Phỏng dịch:
...
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà,
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đến nay than thở ắt là chưa nguôi !

Mà ngẫm nghĩ lại thì quả nhiên lịch sử cũng có nhiều chuyện thú vị. Lâu nay người TQ rất tự hào về vua Đường Thái Tông, khen nhà Đường thịnh, biết trọng nhân tài, thông hiểu đạo pháp. Nhưng mình nhớ là khi Ngài Tam tạng về lại TQ, ông vua Đường hỏi Ngài có muốn làm quan không, đem chức quan ra mà ban thưởng. Mình thì không nghĩ Đường Thái Tông thông hiểu đạo pháp khi xách chức quan ra chiêu mộ Ngài Huyền Trang. May là hồi đó chưa có quốc hội, chứ có dám cho Ngài Huyền Trang làm đại biểu quốc hội luôn rồi :-).

Trong truyện của Ngô Thừa Ân, thấy ông không chú trọng đến đường về của Ngài Huyền Trang. Đó cũng là thắc mắc của mình. Có lẽ NTA cho rằng khi Đường Tăng thỉnh được kinh sách là viên mãn rồi, mission accomplished. Hoặc là đoạn đường về không còn bị kiếp nạn nữa chăng ? 

Mình thì luôn nghĩ ngược lại, đoạn đường về mới là quan trọng. Nếu không thì cũng tương tự như ráng kiếm được cái bằng để lên chức, để in cạc visit, để đi ăn giỗ hoặc họp lớp, giới thiệu chút rồi xong, thì quả nhiên uổng phí. Cũng như làm quan, leo tới chức này chức nọ thì có lắm cách, nhưng ăn thua là leo tới đó rồi có làm gì được cho dân cho nước, thì mới là quan trọng. Tất nhiên là Ngài Huyền Trang đã không chọn con đường về dễ dàng như vậy. Ngài đã từ chối những ân huệ và sủng ái đoàn tuỳ tùng tiền hô hậu ủng của vua Harsha ban cho, mà chọn đi về bằng một "con đường tơ lụa" khác, để có cơ hội giảng giải những điều đã học được cho nhiều người khác biết, cũng như giúp khám phá ra những lối đi mới. Thời đó trên những con đường tơ lụa này, biết bao nhiêu thương nhân đã bỏ mạng, ra đi không có ngày về. Nên kinh nghiệm và kiến thức càng là những điều cần thiết. Và chắc chắn sự chọn lựa này của Ngài không thể sánh bàn với những chuyện phàm phu như áo gấm về làng, tiền bạc, chức sắc bổng lộc, danh xưng vô nghĩa, hoặc vài ngôi chùa to chùa lớn. Tuy nhiên, mình vẫn có chút thắc mắc là thời đó Ngài có nghĩ ra được những kẻ hậu bối có thể lạm dụng con đường đó để làm ra những chuyện xấu xa trong tương lai chăng ? Nói vậy thôi, chứ đương nhiên là sự vật vô tội, con đường vô tội, biển đảo vô tội, chỉ là do bị con người lợi dụng thôi !

Nói đến chuyện những ngày cuối đời của Ngài, Ngài Huyền Trang căn dặn người thân chung quanh gói ông trong chiếc chiếu nhỏ, rồi đem chôn chỗ nào xa xa, vắng vẻ, đừng để thiên hạ bị ô uế mùi hôi. Nhưng tất nhiên là mấy ông vua quan, và hàng ngàn Phật tử đạo hữu, đâu dễ gì để Ngài yên ổn và toại nguyện như vậy. Chắc hẳn cũng là cờ xí rình rang cho xứng tầm. Nhưng thực ra với những bậc trí huệ như Ngài Huyền Trang thì có lẽ chiếc chiếu rách hoặc nghi lễ quốc tang cũng giống nhau, bởi đó chỉ là công cụ chôn cất. Cái còn lại của Ngài chính là những kiến thức và phẩm hạnh cho nhân loại hôm nay và mai sau, còn nghi lễ quốc táng hay cư tang rình rang, thì thiên hạ này cũng đã quên đi từ lâu lắm rồi. Ngày nay bên Nalanda Ấn độ vẫn còn khu tưởng niệm của Ngài (Xuanzang Memorial Hall), nhưng không biết TQ có ngày nào để tưởng niệm Ngài không ? Một người như Mao Trạch Đông, từng đưa ra quốc sách giết chết 45 triệu người TQ trong thời kỳ Great Leap Forward (Đại nhảy vọt/Bước quá độ); buộc 2 triệu người tự sát và bị giết, 20 triệu người bị cuỡng bức bắt bớ, và hàng trăm triệu người đói khát trong cuộc Cách mạng Văn hoá (Cultural Revolution); lại có ngày tưởng niệm to lớn. Trong khi đó một người truyền bá tư tưởng hoà bình, dịch giải đạo pháp đem lại sự giải thoát, sự an lạc và hạnh phúc cho nhân loại như Ngài Huyền Trang, mà lại không có ngày để người dân TQ ghi nhớ, thì quả là nghịch lý !

PN





Friday, August 20, 2021

Tản mạn về "vô úy thí" !

 


Hôm trước viết bài tản mạn về từ thiện, mình có nhắc đến chữ "vô úy thí". Có vài bạn gởi email hỏi thêm, nhưng bận rộn rồi cũng chưa có dịp trả lời. Sáng nay đọc tin dịch bệnh ở quê nhà, thấy ngày càng căng thẳng, mình muốn viết thêm chút về đề tài này. 

Như trước đây mình có nói, rất nhiều kinh sách và kinh tụng của VN thường được phiên âm hoặc phiên dịch với những từ Hán Nôm, làm cho nhiều người khó hiểu, khó nhớ, nên dễ bỏ qua, đặc biệt là giới trẻ. Ví dụ như cụm từ "vô úy thí" này cũng vậy, mình tạm dịch ra tiếng Việt là "giúp cho người khác không sợ hãi". (Cũng xin nhắc lại đây là những tiêu chí thực hành trong lục ba la mật (six paramitas), hướng dẫn cho những người muốn tu tập, thực chứng bản thân, tìm đến sự giác ngộ. Ai muốn thực hành cũng được, không phân biệt phải là tín đồ PG. Còn nếu không thực hành, thì mọi lý thuyết lớn nhỏ, chùa to thầy giỏi, đều trở thành vô nghĩa).

Trong tiếng Anh, chữ "vô uý thí" được diễn nghĩa đơn giản là "giving protection from fear" hoặc là “the gift of fearlessness”. Nghĩa là sự bảo vệ hoặc giúp đỡ kẻ khác vượt qua nỗi sợ hãi. Đây là một trong những việc làm khó nhất của sự "cho đi" (generosity). Tất nhiên là để giúp đỡ được kẻ khác, trước tiên họ phải vượt qua được nỗi sợ hãi của chính bản thân và có những hành động thiết thực hoặc sự khuyên bảo, hướng dẫn kẻ khác hợp lý hợp tình. Chứ chỉ nói cho có lệ, mà bản thân cũng sợ hãi, lẫn trốn, thì càng làm tăng phần sợ hãi cho người cho mình. Ở đây mình chỉ muốn nói đến một phạm vi nhỏ của "vô úy thí" trong mùa dịch bệnh covid-19 tại quê nhà. 

Rõ ràng đây là lần đầu tiên VN và nhiều quốc gia khác trãi qua kiếp nạn dịch covid này. Đại đa số người dân ở khắp nơi, ai cũng bị rơi vào trạng thái hoang mang, lo âu, sợ hãi. Không biết chuyện gì sẽ xảy ra, tương lai của họ cùng gia đình sẽ ra sao trong những ngày sắp tới ? Người chết ngày càng nhiều, ngay cả tang lễ, thể xác của thân nhân cũng không biết đi về đâu. Nên chắc chắc là họ sợ !
Vậy ai sẽ là người trấn an được họ ? Và ai sẽ là người giúp đỡ người dân vượt qua những nỗi sợ hãi này ? 

Lâu nay bất kỳ xã hội nào, quốc gia nào, cũng đều nói là vì dân vì nước. Thực ra nói suông thì bao giờ cũng dễ, đặc biệt là lúc bình yên, trà dư tửu hậu. Duy chỉ có những lúc lâm nạn hiểm nguy như thế này thì con người mới hiểu nhau được nhiều hơn, họ mới nhận ra được thế nào là một chính phủ “do dân” và “vì dân”. Ngày xưa trong các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng thế, người dân cũng chỉ hiểu được chính quyền sau khi cuộc chiến kết thúc. Vì đó là thời điểm thể hiện và chứng minh những lời hứa hẹn ! 

Sợ hãi thì có nhiều nguyên nhân, trước hết nói về chuyện tin tức. Có loại tin tức làm người ta an tâm, nhưng cũng có loại tin tức làm người ta sợ hãi. Năm ngoái ở Mỹ, thời gian cao điểm của dịch bệnh, ông Trump ngày nào cũng lên TV cùng với ban bệ chống dịch để cập nhật tin tức, và trấn an đồng bào. Trực tiếp thông báo những bước đi cũng như sự chuẩn bị kế tiếp. Lãnh đạo các quốc gia Canada, Anh, Pháp, Ấn ..... đều làm tương tự như vậy. Riêng ở Mỹ, thời gian đó cũng là thời gian cao điểm của cuộc tranh cử, nhưng ông Trump hầu như không bỏ sót một ngày nào. Tất nhiên không phải chỉ là ông Trump, mà bất kỳ một tổng thống tại vị nào khác, cũng đều sẽ làm như vậy. Vì chỉ có chính họ nhìn thẳng vào mắt người dân của họ, tuyên bố những điều có thực như trợ cấp đói nghèo, trợ cấp thất nghiệp, kế hoạch ngăn chận, phương án thuốc ngừa, bịnh bao nhiêu, chết bao nhiêu ..v.v... thì mới làm cho người dân yên tâm, bớt lo lắng sợ hãi. Mặc khác người dân cảm nhận được những người chủ quản quốc gia đang đồng hành và chia sẻ với họ, cho dù biết đó chỉ là những công thức chính trị. Người ta thường nói tin đồn gây ra hoang mang. Quả nhiên là đúng. Trong thời buổi cách ly chống dịch, ai cũng dựa vào cái phone, cái đài, cái TV, cái máy tính để biết tin tức phía ngoài. Nếu tin tức loạn xạ, nay nói này mai nói khác, không ai chịu trách nhiệm về những việc xảy ra, thì sự sợ hãi trong dân sẽ càng tăng thêm gấp bội !

Còn nói đến sự sợ hãi thì có nhiều thứ sợ. Sợ chết, sợ đói, sợ mất của, sợ bị lây, sợ lây cho người khác, sợ bị phạt, sợ bị giam, sợ bị chụp mũ, sợ nói thật, sợ liên lụy, sợ thuốc giả, sợ tin giả, sợ bị lừa ...v.v.. Có những thứ sợ mới nảy sinh trong mùa dịch bệnh, nhưng cũng có những thứ sợ đã ngấm sâu trong máu bao lâu nay. Có người thì biết mình đang sợ, biết mình đang ngậm miệng ăn tiền, nín thở qua sông. Nhưng cũng có người sợ mà không biết mình đang sợ vì đã quá quen thuôc, trở thành thuộc tính. Nên hôm trước có ông bạn kia nói chuyện với mình, nói về những điều anh sẽ làm cho người thân của anh ít lo sợ dịch bệnh hơn. Mình không dám có ý kiến, vì mỗi người có một góc nhìn khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nỗi sợ hãi cũng khác nhau. 

Tuy nhiên theo thiển ý của mình thì phần đông con người chúng ta, niềm vui hay nỗi buồn, cũng như sự hạnh phúc hay sợ hãi, đều có nguyên nhân hoặc xuất phát từ những hoàn cảnh hay tình huống bên ngoài. Còn đối với các bậc thiện tri thức, cao tăng trí huệ, hoặc những người thông hiểu đạo pháp, thì ngược lại, mọi thứ đến từ bên trong, nên sự nhiễu loạn bên ngoài chắc sẽ không làm ảnh hưởng đến sự an nhiên tự tại của họ.

Bởi vậy nói đến sự sợ hãi của đa số người dân trong thời kỳ dịch bệnh hiện nay chỉ có chính phủ mới giúp họ xoa dịu được. Một khi người dân cảm thấy hoàn toàn bất lực, không biết ngày mai ra sao, không biết kế hoạch tương lai như thế nào, thì chẳng có nỗi lo lắng nào lớn hơn. Không tự chủ được tình huống và không lo lắng được cho sự an nguy của người thân và gia đình. Cái ăn cái ở cũng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của họ, thì cho dù có tiền đống vàng bao cũng sợ, huống hồ chi là những người dân nghèo khổ, bữa đói bữa no, không nhà không cửa, tiến thoái lưỡng nan. Nói đến thì vừa thương vừa phục sự nhẫn nhịn, chịu đựng, của người dân SG nói riêng, dân VN nói chung.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong thời kỳ dịch bệnh, chính quyền bằng mọi cách nổ lực xoa dịu tình huống căng thẳng và nỗi sợ hãi lo lắng cho người dân. Họ thẳng thắn công bố số liệu dịch bệnh hàng ngày, công bố phương án kế hoạch và những thay đổi lên xuống rất là cụ thể để người dân đối diện với sự thật, không đóan già đóan non. Họ chi tiền, trích ngân sách khẩn cấp, để trợ giúp người nghèo, người thất nghiệp, gia đình hoặc doanh nghiệp khó khăn. Họ ký luật bảo vệ những người dân không đủ điều kiện trả tiền nhà, tiền mướn, tiền điện, tiền nước, để khỏi bị đuổi ra đường. Họ xây dựng những chương trình phúc lợi địa phương để giúp đỡ những hoàn cảnh ngặt nghèo, trường hợp khẩn cấp. Họ thành thật với người dân trong các kế hoạch tiêm chủng và mức độ hiệu quả của thuốc men (Tất nhiên sẽ không bao giờ có một số liệu chính xác, nhưng ít nhất là số liệu tối ưu đủ để tạo được niềm tin với người dân). Họ đưa ra lộ trình với những kế hoạch cụ thể, tránh tình trạng mục tiêu khống, gây thêm hoang mang. Họ luôn đưa giới chuyên môn, khoa học để phân tích hiện trạng dịch bệnh và dự đoán số liệu, chứ không đưa quan chức chính trị hoặc giới chức tuyên truyền phát ngôn, gây hiểu lầm nguy hiểm...v.v... Bên cạnh đó là các tổ chức dân sự vận động quyên góp giúp đỡ, hổ trợ tinh thần lẫn nhau. Đó là những cách thức ứng xử thường thấy ở một số nước trong thời gian dịch bệnh vừa qua, rất đáng học hỏi. (Tất nhiên ở đâu cũng không tránh khỏi những mặt trái tiêu cực, thành phần bất lương lợi dụng phá rối, nhưng đó chỉ là số ít). Mình nghĩ mỗi đất nước có hoàn cảnh khác nhau, nhưng chắc chắn là chính phủ nào rồi cũng sẽ quan tâm và lo lắng cho người dân của họ như vậy thôi. VN vốn có ưu thế rất lớn vì gần năm rưỡi qua không có dịch bệnh nặng, nên có nhiều thời gian để chuẩn bị cơ sở y tế và thuốc men dự phòng. Nhưng không rõ các vị lãnh đạo VN đã xử dụng ưu thế đó như thế nào?

Thời gian qua, bản thân mình cũng như bao người khác, lúc nào cũng tôn quý các lực lượng y tá, bác sĩ, y tế, nhân viên ngày đêm ở tuyến đầu chống dịch. Cũng rất quý trọng những nhà hảo tâm, từ thiện, các anh chị em giao hàng, nhân viên siêu thị bán hàng, cung ứng, vệ sinh ... đã không ngại nguy hiểm khó khăn, xông pha giúp người. Tuy nhiên bên cạnh đó, trong cơn nguy biến hiểm nghèo, nhiều người cũng không khỏi thất vọng vì sự vắng mặt của một số trí thức, quan chức, đại biểu, biểu tượng tinh hoa, đã từng thường xuyên đóng góp ý kiến xây dựng xã hội đất nước. Đó là điều đáng tiếc cho nước nhà, nhất là trong giai đoạn này. Cũng có thể họ còn phải bận rộn với những nhiệm vụ cấp bách mà tổ quốc giao phó ? Tất nhiên là nước nhà còn lắm việc quan trọng hơn chuyện đi khám điền thổ giữa mùa dịch bệnh :-)

Thực tế trong một cuộc chiến có tầm cỡ ảnh hưởng đến hàng ngàn sinh mạng vô tội, tai ương đổ xuống hàng vạn gia đình, liên quan đến sự tồn vong sống còn của nền kinh tế quốc dân, thì vai trò quyết định đúng đắn của nhà nước và chính quyền là vô cùng thiết yếu. Hơn bao giờ hết, nỗi sợ hãi lo lắng của người dân đang cần một sự trấn an, bảo vệ. Và đương nhiên là sự an ủi quan tâm khác với sự đe dọa gây khó. Đó cũng chính là hành động "vô úy thí" tối thiểu mà một chính phủ có thể làm được cho người dân của họ !

Trong hoàn cảnh khốn đốn như thế, cũng không hiếm những người mất phương hướng, tìm đến tôn giáo hoặc các chùa chiền, nhà thờ, nhà nguyện, để cầu an cầu phúc và thỏa nguyện nhu cầu tâm linh trong giai đoạn này. Xưa nay đức tin vẫn thường giúp đỡ con người vượt qua những thời khắc khó khăn nhất. Đức tin càng mạnh mẽ, khả năng chịu đựng càng cao, sự sợ hãi càng thu nhỏ lại. Tất nhiên có những đức tin chỉ mang tính giai đoạn, có những đức tin tồn tại lâu dài, và cũng có những đức tin phản bội lại sự thật. Cũng không hiếm những nơi lợi dụng đức tin sai lệch để dẫn dắt con người vào chỗ mê tín, ru ngủ sự tỉnh thức và khả năng phân tích vấn đề của họ. Đó cũng là chuyện thường thấy trong xã hội. Mình không muốn bàn sâu vào lãnh vực này !

Tuy nhiên, theo thiển ý của mình thì một người sợ hãi sẽ khó giúp được người khác không sợ hãi. Một người ham muốn nhiều quá thì khó có thể truyền đạt được ý nghĩa buông bỏ cho người khác. Một người bảo thủ, định kiến cố chấp thì khó có thể thực chứng được đạo lý “vô thường”. Một người đề cao "cái tôi, cái tớ" nhiều quá, thì cũng khó giảng giải được cái "vô ngã" cho kẻ khác. Một người sở hữu quá nhiều sổ đỏ, chức tước, chùa to, xe đẹp thì cũng khó thuyết giảng được cái "không" cái “có” trong kinh điển nhà Phật. Đơn giản là vậy. Nhưng chuyện đời cái gì cũng có thể thay đổi. Đâu có gì là bất biến !

Bỗng nhớ đến một câu chuyện nổi tiếng của thiền sư người Nhật, Suzuki Roshi, một trong những người đặt nền tảng Thiền học ở Mỹ vào những thập niên trước. Ông có người học trò theo học đạo khá lâu, một hôm chịu đựng hết nỗi, giữa thiền đường đông đúc, đứng lên hỏi : "Suzuki Roshi, I've been listening to your lectures for years, but I just don't understand. Could you just please put it in a nutshell? Can you reduce Buddhism to one phrase?" (Tạm dịch: Ngài Suzuki Roshi, tôi theo học đạo của Ngài nhiều năm rồi, nhưng tôi vẫn không hiểu. Ngài có thể nói thẳng vào trọng tâm vấn đề không ? Có thể tóm gọn đạo Phật trong một câu được không ? 

Ai nghe câu hỏi cũng cười. Ngài Roshi cũng cười và trả lời:

"Everything changes" (Tạm dịch: Mọi thứ đều thay đổi)

Quả nhiên là vậy. Mọi thứ đều thay đổi, và không ai có thể ngoại lệ. Dịch bệnh, tuổi tác, tài sản, gia đình, con cái, chức tước ....đều sẽ phải thay đổi, không thể cưỡng cầu. Mỗi con người cho dù tài giỏi hoặc vùng vẫy tới đâu, thì cũng chỉ có thể làm tốt nhất trong khả năng hiểu biết của họ, và cũng chỉ có thể tồn tại trong một giai đoạn nào đó. Mọi chuyện có thể không xấu như mình đang nghĩ, và luôn luôn thay đổi. Chính sự cưỡng cầu làm cho mọi chuyện rối ren hơn. Hiểu thấu được quy luật này, cuộc sống cũng sẽ nhẹ nhàng hơn, hy vọng mỗi ngày bớt sợ hãi hơn .... 

PN



Tuesday, August 03, 2021

Phiếm: Cổ Loa lông ngỗng !


Nhớ ngày xưa còn nhỏ, đọc sách lịch sử có hình, mê lắm. Thưở đó, chưa phân biệt được đâu là chính sử, dã sử, điển tích, thần thoại, hư cấu, truyền thuyết... Cứ thương ghét dựa vào thiện ác. Sách nói sao tin vậy, từ thời dựng nước, chuyện con Rồng cháu Tiên, Sơn tinh Thuỷ tinh, Trọng Thuỷ Mỵ Châu, Thánh Gióng ...cho đến thời giữ nước, dời đô Thăng Long, Kim Quy mượn kiếm, Lý Công Uẩn "sơn hà xã tắc" ...v.v.. Nói chung lịch sử nước ta kéo dài đến mấy ngàn năm, thì có biết bao nhiêu chuyện để kể, để tự hào. Có những câu chuyện chỉ mang tính hư cấu, truyền thuyết, nhưng lại dựa vào một số sử kiện trùng hợp, nên cũng dễ làm cho người ta hiểu lầm về tính hư thực của nó. Lâu nay, thỉnh thoảng cũng gặp một số trường hợp tranh cãi gây ra do ngộ nhận lịch sử. Một trong những câu chuyện gây hiểu lầm nhiều nhất đó là chuyện Trọng Thuỷ - Mỵ Châu.

Thực ra, cho đến ngày nay thì tài liệu lịch sử cũng nhiều, kỹ thuật kiểm tra niên đại và phương pháp đối chiếu dữ kiện cũng chính xác hơn, nên khả năng phân tích vấn đề cũng hợp lý hơn. Theo nhiều tài liệu đối chiếu và nghiên cứu của các nhà sử học thì hoàn toàn không có câu chuyện Trọng Thuỷ Mỵ Châu, và tất nhiên ông Triệu Đà là người chịu nhiều oan ức trong lịch sử. 

Thứ nhất, chẳng có ông Triệu Đà nào đánh Lạc Việt cả, mà vào thời điểm đó phải là nước Tần (TQ) đánh Lạc Việt mới đúng. Ông Triệu Đà là người Việt chính gốc, sinh ra ở đất Thái Bình chứ không hề ở Hà Bắc, Trung Quốc. Triệu Đà (Triệu Vũ Đế) cũng lấy vợ (hoàng hậu Trình Thị) và sinh con ở Đồng Xâm, Thái Bình. Đền thờ của ông ngày nay vẫn còn ở đó. Cho nên ông không thể nào là người Tàu dẫn quân Tần đánh Lạc Việt được.
Thứ hai, nhiều sử gia VN dựa vào sách sử của TQ (Tư Mã Thiên) quá nhiều, và tin tưởng tuyệt đối vào điều đó thì cũng có khi nhầm lẫn. Có nhiều sách ghi lại, tính theo niên kỷ thì ông Triệu Đà sống tới 121 tuổi. Đại loại như ngày xưa nhiều sách sử ghi là 18 ông vua Hùng chứ không phải 18 đời vua Hùng, thành ra ông nào cũng sống cũng thọ vài trăm năm. Bởi vậy, đọc lịch sử mà không cầu thị, thu thập và phân tích dữ kiện tài liệu một cách logic, thì chuyện cãi nhau dài dài cũng không có gì là lạ. Đặc biệt ông nào càng cho mình là cái rốn của vũ trụ, thì cãi càng dữ hơn :-). Cuối cùng, chuyện nõ thần là yếu tố thần thoại hư cấu thôi. Chứ nếu chuyện nõ thần có thực, mình nghĩ chắc các vị Thần linh đã cho VN một cái đem ra biển Đông bảo vệ ngư dân, và lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa (một số đảo) bị TC cưỡng chiếm !

Thế nhưng câu chuyện Nõ thần và Trọng Thuỷ Mỵ Châu lại là một trong những giai thoại lịch sử mà mình yêu thích nhất. Mình nghĩ các vị tiền nhân đất Việt đã rất tâm huyết và trí tuệ khi để lại một di sản quý báu như vậy cho con cháu của họ. Quả nhiên là vậy. Có lẽ tổ tiên ta cũng chỉ mượn hình tượng của Trọng Thuỷ Mỵ Châu để dạy dỗ con cháu rằng kẻ thù thực sự của ta là chính mình. Kẻ thù lớn nhất đang ở đằng sau lưng, ngồi sẵn tự bao giờ, chứ tìm đâu xa :-).

Lâu nay chắc có nhiều người từng nghe qua câu nói "Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình". Nhiều sách vở cũng phân tích và giảng dạy về triết lý sống này, nên chắc cũng không lạ lẫm gì. Friedrich Nietzsche cũng nói "the worst enemy you can meet will always be yourself". (Tạm dịch: Kẻ thù lớn nhất mà anh gặp luôn chính là bản thân anh). Còn trong kinh điển PG thì cũng có quá nhiều câu chuyện và bài giảng về đề tài này, bởi đạo Phật quan niệm cái "Ngã" (cái tôi, cái tớ, cái tao, cái "bố mày", cái bản thân ...) luôn luôn tồn tại và là rào cản lớn nhất của mỗi con người trên con đường tìm đến sự tỉnh thức.

Nhìn lại trong cuộc sống, thì không ai có thể phủ nhận giá trị của câu nói trên được, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tuy nhiên chắc chắn là mỗi người sẽ có những cách hiểu khác nhau tuỳ theo khả năng nhận thức của họ. Một vị thiền sư có thể hiểu về câu nói đó khác hơn một nhà chính trị. Một nhà lãnh đạo có thể hiểu khác hơn một người nông dân. Một ông bác sĩ có thể hiểu khác với một kẻ giết người. Một nhà từ thiện có thể hiểu khác với một kẻ gian thương ... Nhưng chung cuộc thì có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra sự thất bại thường bắt đầu từ chính bản thân (ngoại trừ mấy ngài chuyên đổ thừa).

Nói cụ thể hơn, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ chuyện thành bại cá nhân đến quốc gia đại sự, kẻ thù sau lưng (nội hàm bản thân) bao giờ cũng đóng một vai trò quan trọng. Một cá nhân mà kiêu ngạo ảo tưởng, tham lam quyền lực tất sẽ gây ra bao hệ lụy cho người chung quanh. Một gia đình mà anh em mâu thuẫn, tranh giành xào xáo, tất sẽ dẫn đến tán gia bại sản. Một hội đoàn mà cứ hơn thua, đâm thọc, tất sẽ èo uột rã đám. Một cộng đồng mà cứ ganh ghét đố kị, chia rẽ đấu đá, hám danh, vu khống chụp mũ, làm sao mạnh mẽ và được tôn trọng ? Một đất nước mà cứ hận thù chia cắt, giết chóc lừa đảo, phe nhóm lợi ích, tham nhũng kiêu binh, bảo thủ lạm quyền, thì làm sao hạnh phúc và phồn thịnh ? Lịch sử thế giới lâu nay những nước giàu có nhất, hạnh phúc nhất, đáng sống nhất đều là những nước không có nội chiến triền miên, dân chúng họ không thù hận nhau, không dối gạt nhau, không nghi kỵ nhau .... Tất nhiên với thời đại internet ngày nay, thì không khó khăn lắm cho bất kỳ ai muốn kiểm chứng sự thật và hiểu đúng những vấn đề này. 

Nhớ hồi nhỏ đọc truyện Trọng Thuỷ Mỵ Châu, rất thương cho 2 cha con An Dương Vương. Thương cả Trọng Thuỷ yếu đuối, vì phải nghe lời cha mà bán đứng cả bản thân và người yêu. Chỉ có ghét Triệu Đà, vì là kẻ gian ác, tài hèn sức mọn, lợi dụng ngay cả người thân yêu con ruột của ông. Đúng là hồi nhỏ quan niệm ghét thương, thiện ác chỉ đơn giản đến thế. Bây giờ thì lại thấy thương Triệu Đà, vì chính ổng phải chịu oan khuất nhiều nhất, để cho đời sau có một điển tích giá trị "nõ thần" như thế này. Mà sự oan ức của ông, sự hy sinh của các bậc tiền nhân, hoặc những bài học lịch sử của dân tộc chắc gì đã được đời sau ghi nhớ và thực hành. Đôi khi vì một ít quyền lợi cá nhân, nhiều người sẵn sàng đem cái "nõ thần" vô tiệm cầm đồ ngay, chứ cần gì đến một Trọng Thuỷ lường gạt Mỵ Châu !

Nhớ năm ngoái bầu cử Mỹ, mấy ông bạn quen nói chính sự chia rẽ ở quốc hội và mâu thuẫn các đảng phái của Hoa kỳ làm cho đất nước ngày càng suy yếu, kẻ thù dễ lấn lướt. Mình thì nghĩ ở đâu lại chả thế, chỉ là lúc nọ lúc kia, lúc thịnh lúc suy. Hoa Kỳ là nước dân chủ minh bạch, người dân còn thấy đảng phái quốc hội tranh chấp, chứ nhiều quốc gia khác họ cứ im lìm mà đấu đá, thì còn khủng khiếp hơn nhiều. Lãnh đạo tài ba, nhìn xa, trung thực thì đất nước phát triển, dân chúng được nhờ. Còn lãnh đạo yếu kém, tham quyền, dối gạt, thì đất nước suy đồi. Vậy thôi, kẻ thù đâu xa !

Mới hôm vừa rồi, ngồi coi tin tức dịch bệnh ở quê nhà. Vừa lo lắng, vừa thương cảm, lại vừa cảm thấy bất lực. Từ chuyện "cách ly tập trung", chuyện phân bổ thuốc ngừa, chuyện xét nghiệm, chuyện ngăn đường cấm chợ ...cho đến hình ảnh từng đoàn người lũ lượt về quê mệt mỏi, thiểu não. Những đứa bé còn bồng bế trên tay, những cụ già mếu máo, với hành trình trăm dặm trở về cố hương. Để rồi gặm nhấm nỗi buồn sợ hãi và bế tắc "tiến thoái lưỡng nan" ngay chính trên quê hương mình. Thực ra VN đã có quá nhiều thời gian để chuẩn bị mua sắm các phương tiện dụng cụ y tế, và đặt mua các loại thuốc ngừa, mua thuốc đặc trị antiviral, monoclonal antibodies…v.v. Ngoài ra nước nhà cũng quá dư đủ thời gian để học hỏi kinh nghiệm cách chống dịch từ các nước khác. Thế nhưng vì quá bận rộn với những tung hô vô cớ và sự ngạo nghễ thiếu hiểu biết, nên đã không có được những chuẩn bị cần thiết khi dịch bệnh bùng phát. Còn hậu quả ra sao thì hôm nay ai cũng thấy rồi !

Nhớ lại ngày xưa thời còn mê chuyện Tàu. Có những mẫu chuyện nhỏ còn đọng mãi cho đến ngày hôm nay. Một Lưu Bị bỏ qua sống chết, cùng dân đi bộ rút về Giang Lăng, nhất định không bỏ dân chúng, vì cho rằng muốn làm việc lớn phải lấy dân làm gốc. Một Khổng Minh tài trí hơn người, lại dùng cách quan sát đối phương thua trận để biết tài năng và trí tuệ của đối phương. Nhìn cách quân địch thua trận mà không "vỡ trận", thất bại mà không bát nháo, rút lui mà không sợ hãi, thì có thể đoán biết tướng địch là kẻ đại trí hay kẻ tiểu nhân. Nhưng đó là những chuyện ngày xưa lắm rồi, so với thế giới ngày nay chắc đã lạc hậu !

Gần đây hơn, thời mình còn là sinh viên, mê lắm những tác phẩm của Eric M. Remarque và Mikhail Sholokhov. Những cuốn sách cũ nát còn sót lại, lén lút chuyền tay nhau, đọc để biết những nỗi bất hạnh của đất nước và con người vào những thời kỳ biến động khó khăn, dịch bệnh. Những "Chiến Hữu", "Bia mộ đen và bầy diều hâu gãy cánh", "Sông Đông êm đềm", "Đất vỡ hoang", "Số phận một con người"  ..v.v.. nghiệt ngã và thực tế. Nghĩ đến vẫn còn như mới hôm qua !

Lan man quá rồi, từ đông sang tây. Nhưng cuộc sống vốn có những lúc cảm xúc như thế. Túm lại, mình nghĩ mọi chuyện rồi cũng sẽ qua đi, dịch bệnh cũng thế. Mọi việc rồi sẽ được thay thế bằng một điều gì đó mới hơn, tốt hơn hoặc xấu hơn, hoặc là một sự bình thường mới (new normal). Từ biến cố của bản thân hoặc gia đình, cho đến biến động của xã hội đất nước, đều có lúc phải trãi qua những giai đoạn rất khó khăn. Mỗi tình huống sẽ có những ứng xử khác nhau, nhưng cái triết lý "kẻ thù lớn nhất là chính mình" thì bao giờ cũng đúng. Những "rào cản tư duy" sẽ càng được thể hiện rõ nhất trong những lúc nguy biến, mà không ai có thể che dấu được. Mấy hôm trước đọc tin tức quê nhà, nghe câu "Diệt dịch cũng như diệt giặc". Tự nhiên, mình liên tuởng đến câu chuyện nỏ thần diệt giặc năm xưa. Ước gì ông thần ngày xưa lại cho VN quê ta một chiếc nõ thần chống dịch. 

Nghĩ đến mấy câu thơ của Tố Hữu:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu...

Chuyện cô du kích xóm Lai Vu
Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù:
“Mỹ hại trăm nhà, lo diệt trước
Rắn, mình em chịu, có sao đâu ”

Giặc thời nay chắc khác giặc ngày xưa. Và cũng không hiểu chuyện Mỵ Châu Trọng Thủy lại có liên quan gì đến cô du kích không sợ rắn xóm Lai Vu. Tiếc là ông TH đã mất. Nếu không, mình sẽ xin ông đổi lại là "Dịch hại trăm nhà, lo diệt trước. Thiệt, mình em chịu, có sao đâu". Nhưng đó lại là một câu chuyện không có thực, chưa bao giờ xảy ra !

Thôi lan man chút, chúc mọi người bình an may mắn. Cầu mong dịch bệnh sớm kiểm soát được, và tất cả bà con đồng bào có được miếng ăn, chỗ ngủ an toàn.

PN




Saturday, July 24, 2021

Tản mạn về dịch thuật kinh sách

 


Nói đến chuyện dịch thuật, mình nghĩ một trong những lãnh vực khó nhất là dịch kinh sách. Tôn giáo nào cũng thế, cho nên ngày xưa nhiều nhà truyền giáo phải ráng học cho rành rẽ tiếng địa phương. Thậm chí nhiều vị còn góp phần tạo ra hoặc hoàn chỉnh một số ngôn ngữ để dễ dàng diễn giải hơn. Trong tiếng Anh có cụm từ "Lost in Translation" mang tính hài hước để nói đến sự sai lệch ý nghĩa trong dịch thuật, dịch gà ra cuốc. Nhưng đó chỉ là nói đến chuyện thông dịch, thông ngôn hàng ngày. Dịch kinh sách còn khó hơn nhiều, vì để dịch được sát nghĩa, người dịch phải hiểu đúng ý nghĩa bao hàm của từ ngừ đó. Nếu không rất dễ gây ra ngộ nhận, và dẫn đến nhiều hệ lụy phiền phức. Đó là còn chưa nói đến nhiều người vô tình hoặc cố ý lợi dụng sự lệch lạc trong dịch thuật, dẫn dắt bản thân họ và người khác vào con đường mê tín, dị đoan.

Ví dụ như câu kinh 6 âm trong PG (The Six syllables) "Om Mani Padme Hum", rất ngắn gọn và sâu sắc, tán dương khả năng tự tỉnh thức và tự giác ngộ của tất cả chúng sinh như đóa sen vượt lên từ chốn bùn dơ. Câu kinh còn mang hàm ý sâu sắc hơn là không nên tìm kiếm "ông Phật" ở bên ngoài, mà là từ “Phật tánh” sẵn có bên trong. (Mỗi chữ Om, Mani, Padme, Hum đều mang hàm ý sâu sắc khác nhau. Có rất nhiều tài liệu về câu kinh này từ nhiều ngôn ngữ khác nhau kể cả tiếng Việt trên mạng, nếu ai muốn tìm hiểu).

Thế nhưng phiên âm (chứ không phải phiên dịch) tới lui một hồi, sao lại thành ra câu tiếng Việt "Án ma ni bát rị hồng". Rồi một số ông thầy bùa, thầy chú, thầy cúng, thầy làng, bắt ma bắt hồn, oan gia trái chủ ...lại đem ra xử dụng với đầy màu sắc mê tín !

Giờ trở lại câu chuyện chữ "Bát Nhã" trong kinh sách nhà Phật. Lâu nay ai ở VN cũng ít nhiều nghe qua chữ này, đặc biệt là những người có đọc qua kinh sách PG hoặc có đi chùa chiền. Thỉnh thoảng mình còn thấy mấy ông làm thơ, viết truyện, và cả mấy ông "nhậu sĩ", đem "Bát Nhã" lên thớt của họ hoặc cho vào quán nhậu để mổ xẻ nữa, nên chắc chữ này thì cũng không lạ lẫm gì với nhiều người VN.

Thực ra chữ Bát Nhã có nguồn gốc từ tiếng Phạn, đó là chữ Prajna, được kết hợp bởi 2 chữ Pra- và -jna. Để giải thích chi tiết của 2 từ này thì hơi dài và trừu tượng. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trên mạng nhé. Theo Wiki thì "Prajna" được nói đến như thế này (is used to refer to the highest and purest form of wisdom, intelligence and understanding. Prajna is the state of wisdom which is higher than the knowledge obtained by reasoning and inference). Nôm na là một trạng thái trí tuệ cao nhất bao gồm nhiều góc cạnh khác nhau, vượt qua các ngưỡng cửa của sự thông minh, hiểu biết, và kiến thức thông thường. Ví dụ như trí tuệ của một ông giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, na sa na séo, ha va ha viếc, chủ tịch, giám đốc, nhà phát minh ra đèn đom đóm, keo dính chuột..v.v.. đều là nhừng kiến thức chuyên môn, trí óc thông minh, kiến thức rộng rãi, nhưng đó không phải là trí tuệ "bát nhã". Bởi thế để dịch được chữ "Prajna" ra một ngôn ngữ khác cho đúng nghĩa thì quả là vô vàn khó khăn, mà có khi chẳng bao giờ diễn đạt cho trọn vẹn, thế nào cũng thiếu đầu thiếu đuôi. Thực tế là trong cuộc sống có những từ ngữ chỉ hiểu, “ngộ”, nhưng rất khó diễn đạt. Đặc biệt là trong các lãnh vực triết học, tôn giáo,  hoặc tâm linh. Cho nên các Ngài ngày xưa đã để nguyên chữ "Prajna" không dịch. Khi những tạng kinh này đến Trung quốc, cũng chỉ phiên âm ra tiếng địa phương na ná như “Pra-jna”, rồi qua đến Việt Nam thì trở thành “bát nhã" như ngày hôm nay.

Rồi cũng chính vì ý nghĩa bao la của chữ "bát nhã", mà lôi cuốn không biết bao nhiêu vị tu sĩ, triết gia, trí thức, nhân sĩ  ...vào cuộc, tìm tòi, mổ xẻ, phân tích ra nhiều tầng, nhiều lớp khác nhau. Cuối cùng có nhiều người bị lạc vô cái mê hồn trận chữ nghĩa đó, thành ra vô tình đi ngược lại với cái mục đích giải thoát mà họ đã tìm kiếm ban đầu. Tất nhiên cũng không hiếm những người hiểu biết và nhận ra được giá trị cốt lõi của cuộc sống và sự giác ngộ, nên lựa chọn con đường đi riêng cho họ. Bên cạnh đó, cũng có nhiều người tuy nhận thức được vấn đề, nhưng lại bị những hệ lụy chằng chịt trong cuộc sống, những rào cản trói buộc của đời thường, nghiệp cơm áo gạo tiền quá nặng, hoặc tham vọng thành tựu quá lớn, mà không thoát ra nỗi. Rồi cuộc sống ngắn ngủi chóng qua đi, tháng ngày cứ quanh quẩn với những trách nhiệm và “thành tựu”, đầy rẫy những vướng mắc. Vướng vào hình thức thay vì nội dung, vướng vào lý thuyết suông thay vì thực hành, vướng vào ảo tưởng thay vì thực chứng, ráng kiếm thêm cho nặng chứ không phải bỏ đi cho nhẹ, ráng hiểu biết để hơn thua chứ không phải để nhẫn nhịn …v.v. Ham muốn (desires) và gắn bó (attachments) ngày càng nhiều, đời này chưa hết đã muốn lôi kéo đời khác. Cho nên cuối cùng là thuyền "bát nhã" của họ cứ quay vòng vòng trong bờ, hết xăng bao nhiêu lần rồi, mà vẫn còn chưa định hướng đi đuợc, chứ đừng nói tới chuyện bến bờ bên kia. Tất nhiên trong đám phàm phu đó có bản thân mình :-).

Và dĩ nhiên là mình không muốn bàn luận xa hơn về ý nghĩa và nội dung của chữ "Bát Nhã" trong phạm vi ngắn ngủi của bài viết này, mà chỉ muốn nói đến vấn đề dịch thuật kinh sách. Vì nếu không cẩn thận, đôi lúc sẽ làm mất đi cái ý nghĩa thâm diệu của chữ nghĩa, mà thậm chí còn dẫn đến những hiểm lầm đáng tiếc !

Ví dụ như bản kinh "Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh" ở VN. Theo mình, khi dịch cái tựa của kinh "Prajna-paramita Hrdaya Sutra" (The Heart Sutra of Perfect Wisdom) ra thành "Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh", mà không giải thích rõ ràng, là đã vô tình làm mất đi một số ý nghĩa vô cùng quan trọng của bản kinh ! 

(Còn tại sao như thế ? Trước hết xin nói rõ, đây chỉ là ý nghĩ cá nhân của mình. Tất nhiên đây là một vấn đề rất quan trọng, mà đã có biết bao nhiêu vị cao tăng tu sĩ VN, đức độ trí huệ cao cả, từng nghiên cứu dịch thuật trong bao nhiêu năm qua, nên mình không hề có ý dám xúc phạm hoặc phê phán.)

Trước hết nói sơ qua về ý nghĩa của kinh Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh. Là một trong những kinh căn bản và phổ thông nhất trong đạo Phật, thường dùng để đọc tụng. Nguyên gốc từ tiếng Phạn là "Prajna-paramita Hrdaya Sutra", dịch sang tiếng Anh là "The Heart Sutra of Perfect Wisdom". Gọi cho đơn giản là Tâm kinh. Kinh này ngắn, có khoảng chừng 260 chữ (bản ngắn tiếng TQ), hiện nay được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Có nhiều giả thiết khác nhau về nguồn gốc và thời điểm ra đời của Tâm Kinh, không đồng nhất. Và toàn bộ bản gốc của bộ kinh lớn Đại Bát Nhã (Maha Prajna Paramita) cũng đã bị quân Hồi giáo tiêu hủy khi họ đánh chiếm Đại học PG Nalanda Ấn độ vào thế kỷ 12.

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh đọc tắt là Tâm kinh (The Heart Sutra), là tóm lược của bộ kinh Đại Bát Nhã Ba la Mật (Great Perfecton of Wisdom Sutra, tiếng Phạn gọi là Maha-prajna-paramita-sutra), gồm có 600 quyển. Tâm Kinh có nhiều bản dịch từ tiếng Phạn ra tiếng TQ. Trong đó bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập (402-412) và Ngài Huyền Trang (Tam Tạng) vào thế kỷ thứ 7 sau CN, là thông dụng nhất, được truyền qua VN và lưu hành cho đến ngày nay. Còn phiên bản tiếng Anh thì đến thế kỷ 19,  mới được Samuel Beal dịch ra. Ngày nay có rất nhiều sách vở tài liệu nói về Tâm Kinh của nhiều tác giả, nhiều tu sĩ khắp nơi trên thế giới . Tất nhiên là cũng không hiếm những tranh luận đối đáp gay gắt, bất đồng quan điểm, như bao vấn đề khác của tôn giáo và xã hội lâu nay. Có người đọc kinh sách để gom hết về một mối, rồi buông bỏ hết coi như không đọc chữ nào. Thì bên cạnh đó cũng có những người càng đọc, càng ôm, càng rối, càng lụy, sợi tóc chẻ làm năm làm bảy. Đọc để tranh luận hơn thua, đọc để trói chứ không phải để mở, đọc để chứng tỏ chứ không phải để thực hành, nên càng đọc càng nặng nề. Âu cũng là chuyện bình thường thôi. Như trong Tâm kinh có một câu rất nổi tiếng "Form is emptiness (śūnyatā), emptiness is form", mà nhiều nhà nghiên cứu, học giả phương Tây cũng thường nhắc đến. (Tạm dịch là: Sắc tức là không, không tức là sắc). Ai cũng nói được nhưng mấy ai thực chứng được điều này ?

Mở ngoặc chút, ngài Huyền Trang (Xuanzang), tức là ngài Đường Tăng Tam Tạng trong truyện hư cấu Tề thiên đại thánh của Ngô thừa Ân, đã tốn 3 năm đi bộ từ TQ qua Ấn độ để tìm học kinh Phật và thỉnh kinh đem về cho TQ. Rất nhiều người cũng đã từng đi như thế và bị chết trên đường vào thời kỳ đó. Tất nhiên là thực tế thì chẳng có Tề thiên, Trư bát giới .. nào đi theo cả, mà Ngài chỉ đi một mình. Sau khi đến nơi, ngài lưu lại Ấn độ 17 năm để học tiếng Phạn tiếng Ấn, rồi được vua Ấn độ mời làm "quốc sư" hiệu trưởng trường đại học Nalanda. Nhưng sau đó ngài xin hồi hương đem kinh sách về cho TQ. Về đến TQ, vua Đường cho lập khu dịch thuật rất lớn, tuyển dụng nhiều người phụ giúp Ngài. Với lực lượng hùng hậu như thế, mà phải tốn gần 5 năm sau, Ngài Huyền Trang mới dịch xong bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 cuốn. Thế mà kinh Bát Nhã Ba la mật Tâm kinh, nói gọn là (Heart Sutra) tóm lược được ý nghĩa của bộ Đại Bát Nhã đó, thì cũng tưởng tượng ra ý nghĩa súc tích của Tâm Kinh đến mức độ nào. Tuy nhiên cho dù là thâm thuý và uy lực đến đâu, thì cũng không phải chỉ cần ngồi đó đọc tụng mà giác ngộ được !

Giờ trở lại nói về chuyện phiên âm dịch thuật cái tựa "Prajna paramita Hridaya Sutra" ra tiếng VN, vô tình làm mất đi một số ý nghĩa quan trọng. Khi phiên âm chữ Prajna thành ra "Bát Nhã", paramita phiên âm thành ra "Ba la mật” hoặc “ba la mật đa", Hrdaya (dịch ra thành"Tâm"), Sutra (dịch ra thành “Kinh"). Thì người VN đọc câu "Bát Nhã Ba la Mật tâm kinh" không có ý nghĩa gì đặc biệt, mà chỉ đơn giản là một cái tựa đề của 1 bài kinh, như bao nhiêu kinh sách khác, kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Cú, kinh Hoa Nghiêm ...v.v..Thậm chí một số ít người nghe đến chữ ba-la-mật còn tưởng có liên quan gì đến mật tông mật pháp hoặc phương pháp bí mật nào đó. Điều này quả nhiên là không chính xác, và làm mất đi những ý nghĩa rất quan trọng của câu chữ "Prajna paramita Hridaya Sutra". Cũng tương tự như trường hợp đọc "Om mani padme hum" thành ra "Án ma ni bát rị hồng", không hiểu được hàm ý sâu sắc bên trong, mà chỉ mơ hồ hiểu được cái ý nghĩa “tâm linh” của nó !

1. Prajna (bát nhã) được ghép từ 2 chữ : Pra-jna ; Pra là Tối thượng và duy nhất, Jna là hiểu biết, là trí tuệ 

2. Paramita (sự hoàn hảo) được ghép lại từ Parama (the other shore, tức là bờ bên kia) , và Ita (that which has arrived tức là đến, sẽ đến, hoặc đã đến ...)

3. Hrdaya (là tâm, là chính yếu, trọng tâm, điểm chính), chứ không phải nghĩa đen của trái tim, nhịp đập trong cơ thể.

Có những vị cao tăng, thiện tri thức ngày xưa chỉ giảng giải câu "Prajna paramita Hrdaya Sutra" mà tốn tới hàng tháng, hàng năm mới nói hết ý nghĩa của nó. Trong khi đó chúng ta chỉ đọc lướt qua câu "Bát nhã ba-la-mật tâm kinh" như một cái tựa đề thì uổng phí quá.

Chỉ cần qua cái tựa đề, Tâm Kinh đã giải thích cho người ta thấy được cái ý nghĩa quan trọng tối thượng của trí huệ Bát Nhã trong việc tìm đến sự tỉnh thức & giác ngộ. Đó là phải tự mình học hiểu và thực chứng mới đi đến được bờ bên kia. Không nên chờ đợi ở bất cứ ai và cũng không ai có thể ban bố sự giác ngộ được cho mình. Những đạo lý vô thường, vô ngã, có, không, được, mất ....trong bản kinh là những diễn giải, chỉ ra cho con người hiểu thấu và thực hành để thực chứng, để đạt được trí huệ Bát Nhã, chứ không chỉ để đọc và cầu nguyện. Các vị Bồ Tát xưa nay cũng đã phải đi theo con đường đó mà tìm đến giác ngộ, chứ không hề có ngoại lệ hoặc phải nhờ đến thân thế, quen biết, hay lý lịch tốt :-).
Thực tế, thì cũng có rất nhiều người loay hoay nhầm nhẫn giữa các phương pháp tu tập, cũng như các loại trí tuệ và kiến thức thông thường trong cuộc sống với cái trí tuệ "bát nhã" được nhắc đến trong kinh sách. Nên xã hội vẫn thường xảy ra ngộ nhận về những giá trị có liên quan đến địa vị, bằng cấp, chức tước, giàu nghèo, sang hèn, hình thức (tu sĩ, trí thức..) ..v.v.. trong đời sống tâm linh, và trên con đường tìm kiếm những giải đáp cho bản thân của họ. Ví dụ: Một nhà khoa học sáng chế ra bom nguyên tử, ra vũ khí sinh học ...có thể rất thông minh, kiến thức chuyên môn tuyệt đỉnh, tuy nhiên đó không phải là loại trí tuệ Bát Nhã, mà có thể là một dạng u mê. Một nhà độc tài đi tới đâu người ta cũng vỗ tay, chào đón khóc lóc như điên dại, cũng có thể là một dang thông minh biết cách mị dân, trấn áp xã hội. Nhưng chắc chắn đó không phải là trí tuệ Bát Nhã mà trong Tâm kinh nói đến…(Cho nên cũng không nên mù quáng tin vào lý thuyết hoặc danh xưng của bất kỳ ai, cho dù họ có quyền lực, chức tước, hình thức, ông này bà nọ, hoặc chùa to chùa lớn, mà phải tự thực chứng đạo lý đó với chính bản thân. Đạo Phật không chủ trương “blind faith”, tức là tin một cách mù quáng, tin mà không hiểu. Đức Phật thời còn tại thế cũng đã dạy dỗ như vậy).

Bởi thế, mới có một Huệ Năng nhà nghèo, không biết chữ, chỉ cần một câu "Ưng vô sở trụ, sinh nhi kỳ tâm" mà trở nên tỉnh thức. Trong khi đó, một Thần Tú, tu sĩ, con nhà giòng dõi, kiến thức uyên bác, học sâu hiểu rộng, tên tuổi vang lừng, nhưng vẫn chưa đạt đến cái trí tuệ “bát nhã” của sự giác ngộ. Cho nên bài thơ rất hay của Ngài Thần Tú vẫn chưa "thấy” ra được cái "có" và cái "không" trong việc tu học. (Tất nhiên là còn nhiều yếu tố duyên nghiệp trong đây nữa. Câu chuyện này cũng nói đến khái niệm tiện ngộ và đốn ngộ trong PG).

Thân thị bồ đề thọ             
Tâm như minh cảnh đài     
Thời thời cần phất thức     
Vật sử nhạ trần ai.             

Tạm dịch:

Thân là cây bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn siêng lau chùi
Chớ để bụi trần bám.

Thôi, cuối tuần, tản mạn một chút về cái tựa đề của một bài kinh quen thuộc. Chỉ là ý kiến cá nhân, không có ý dám múa rìu qua mắt thợ. Tất nhiên thời này thông tin tin tức không thiếu, quý vị nào muốn kiểm chứng hoặc nghiên cứu sâu hơn đều có thể tìm đọc dễ dàng. Mình thì luôn quan niệm rằng, ai cũng có thể sai lầm, cho dù là người tài giỏi hoặc là tiền nhân đi trước. Mạnh dạn trao đổi trong khiêm tốn cũng là một đức hạnh của "kiến hoà đồng giải" vậy. Còn nếu cứ khư khư quan niệm "áo mặc không qua khỏi đầu", cái biết của mình là luôn luôn đúng, chủ nghĩa của mình là luôn luôn vô địch, thì có thể là đang đi ngược lại với đạo lý vô thường của vũ trụ. Và cũng coi chừng là đang đi ngược lại với cái đạo lý vô ngã, cái tánh không “emptiness" thâm diệu mà Bát Nhã Ba la Mật đa Tâm kinh (Prajna paramita Hrdaya Sutra) đang nói đến.

Chúc tất cả bình an mùa dịch bệnh !

PN 

p.s: Nếu quý vị nào nghe được tiếng Anh, mình trích dẫn đường link dưới đây của tu sĩ Guan Cheng bên Canada giảng về "Tâm Kinh". Vị này giảng tương đối đơn giản, dễ hiểu, dễ theo dõi đối với những người mới bắt đầu tìm tòi. Thực ra thời nay có rất nhiều chư vị tăng ni, cư sĩ trí thức nói về Tâm Kinh, hoặc thuyết giảng trên mạng. Quý vị nào rảnh rang muốn tìm hiểu, nên tìm kiếm những ai có cách diễn giải phù hợp với mình, thì sẽ dễ dàng theo dõi hơn .



Sunday, July 18, 2021

Vài ý nghĩ vụn … về dịch cúm Vũ hán

 (Chú Đại Bi, do Ani Choying Drolma trình bày)


Năm ngoái nước Mỹ dịch bệnh nặng về, anh em bạn bè bên VN quan tâm thăm hỏi, mình cảm ơn rất nhiều. Nay nghe tin VN, nhất là SG ngã bệnh, không biết làm gì hơn, mạn phép tóm tắt vài điều đã biết, hy vọng là hữu ích (mặc dù rất nhiều người đã biết rồi).

1. Covid có đáng ngại không ?

Có !
Tuy nhiên không phải tới mức ghê gớm như người ta đồn đoán. Thực tế, rất nhiều quốc gia khốn đốn là vì quá tải các cơ sở phương tiện tiếp nhận bệnh nhân như bệnh viện, khu cách ly, cấp cứu (ICU) …và thiếu thốn các công cụ y tế như máy trợ thở, giường bệnh, dịch truyền, oxy ..v.v.. Bên cạnh đó là sự bối rối, vụng về, thiếu kinh nghiệm trong các phương thức dự phòng, cung ứng, và cách ứng xử đối phó với dịch bệnh cỡ lớn như đại dịch lần này. Kể cả những quốc gia lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ý, Ấn ..... đều bị vướng mắc những sai lầm như thế trong giai đoạn đầu, dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng. Ví dụ như dịch bệnh kéo dài gần 2 năm, mà số lượng máy thở dự phòng cho cả nước với dân số gần trăm triệu dân chỉ dừng lại ở mức dưới 5 ngàn cái, thì quá nguy hiểm !

2. Phòng bị như thế nào ?

- Cho tới nay cách phòng bị hữu hiệu nhất vẫn là dựa vào từng cá nhân, và ý thức tự giác giữ gìn chung cho cộng đồng như giãn cách xã hội, cách ly, tuân thủ các quy cách phòng bị cá nhân, khẩu trang, bao tay .v.v. Thường xuyên tẩy rửa, rửa tay rửa mặt, tránh va chạm, tập thể dục thể thao, ăn uống điều độ, tránh hao tâm tổn lực, giữ gìn vệ sinh chung. Đừng ứng xử kiểu "điếc không sợ súng, hoặc anh hùng rơm" rồi đi lung tung, gây nhiễm cho người khác. Đặc biệt là giới trẻ, những người trẻ tuổi, sức khoẻ tốt, hệ miễn dịch tốt, bị nhiễm bệnh nhưng không biết, hoặc có thể lướt qua, hoặc không có triệu chứng, gọi là (asymptomatic). Tuy nhiên những người bị nhiễm bịnh không có dấu hiệu (asymptomatic) vẫn có thể lây lan cho người khác. Nên nếu chủ quan hoặc không hiểu biết để cẩn thận, thì thành phần này có thể trở thành lực lượng phát tán dịch mạnh nhất !

3. Bị nhiễm rồi thì sao ?

Bình tĩnh đối phó thôi. Không phải ai bị nhiễm bịnh covid thì cũng trở bịnh nặng, hoặc chết đi. Tỉ lệ tử vong rất thấp, dĩ nhiên là tuỳ thuộc vào các yếu tố khác của xã hội, trong đó có yếu tố phòng bị và chiến lược đối phó, ứng xử của chính quyền và sự hợp tác của người dân cũng rất là quan trọng. Ở nhiều nơi trên thế giới trong thời gian qua, có rất nhiều trường hợp tử vong không phải trực tiếp bởi covid-19 mà là những người có bệnh nền nặng hoặc các bệnh khác, nhưng đã không được chữa trị đúng mức, kịp thời, vì bị quá tải nguồn lực và nhân lực do dịch bệnh, cộng với tiêu chí ưu tiên dành cho các bịnh nhân covid, nên dẫn đến các biến chứng phức tạp.

- Thực tế thì có rất nhiều người bị nhiễm bịnh vẫn chữa trị tại nhà, ăn uống, nghĩ dưỡng, xài thuốc cảm cúm hạ sốt như tylenol, motrin, patadol, paracetamol.... rồi vài tuần sau đó bình phục hoàn toàn. Chỉ có những trường hợp bị trở bịnh nặng mới được chuyển vào bệnh viện để trợ giúp bằng các biện pháp hổ trợ nặng đô hơn như máy trợ thở, truyền dịch, kháng sinh, huyết tương ...v.v. Số lượng người tự chữa trị tại nhà và khỏi bịnh sau một thời gian ngắn là rất cao so với số lượng người trở bịnh nặng phải nhập viện. Tuy nhiên báo đài thì ít nói đến số liệu này, làm bà con không nắm bắt được thực trạng càng hoang mang, lo lắng.

- Các chuyên gia khuyên rằng nên cố gắng bình tĩnh, và ráng giữ tinh thần mạnh mẽ, đừng lo lắng thái quá trong trường hợp nhiễm bệnh. Ăn uống bình thường, uống nhiều nước, nghỉ ngơi nhiều, xử dụng các loại thuốc hạ sốt, hổ trợ cảm cúm sẵn có. Nếu có điều kiện, nên uống thêm nguồn vitamin trợ giúp. Hỏi thăm bác sĩ tư vấn những loại vitamin nào phù hợp với bản thân và cách ứng phó tại nhà. Đừng nghe theo lời mấy ông lang băm, thầy cúng, thầy đề, mê tín, cúng tế oan gia trái chủ, uống bùa chú bậy bạ .... mà bị mạng mất tật mang ! 

4. Thuốc men như thế nào ?

- Cho đến thời điểm hiện nay, thì thế giới vẫn chưa có thuốc nào trị bịnh cúm hiệu quả hoàn toàn. Đó là mới nói về những bệnh cảm cúm thông thường chứ chưa nói đến covid-19. Nhiều người lâu nay vẫn hiểu lầm nhừng thuốc như tylenol, motrin, aspirin, patadol ..... là "thuốc cảm cúm". Không phải vậy, đó chỉ là thuốc làm giảm nhẹ các triệu chứng của cảm cúm như nóng, sốt, ho hen, nhức mỏi thôi. Đây là một hiểu lầm rất thường gặp, nên nhiều người cứ nghĩ là thuốc "cảm cúm" có thể “giết” được con vi rút cúm. Ở Mỹ và nhiều nước khác, hàng năm thiên hạ vẫn phải đi chích ngừa cúm mùa, vì chưa có thuốc nào "giết" được nó cả. Có một số loại thuốc chuyên trị các bịnh do virus gây ra, gọi là "antiviral" như Tamiflu (oseltamivir phosphate), Relenza (zanamivir), Rapivab (peramivir), Xofluza (baloxavir marboxil) v.v... Các loại thuốc này bên Mỹ muốn mua phải có toa bác sĩ, thế nhưng đối với covid-19 thì những em này không xi nhê (signal) lắm. Từ lúc dịch cúm Vũ Hán (covid-19), có một số thuốc “antiviral” nổi bật lên như Remdesivir được dùng để trị bịnh theo cách truyền dịch. Bên cạnh đó cơ quan FDA cũng cho phép xử dụng một số thuốc antiviral khác trong những trường hợp khẩn cấp như loại Sotrovimab (monoclonal antibodies). Dưới đây là tên một số loại thuốc “antiviral” khác đang được các cơ quan chức năng như NIH, CDC, FDA theo dõi và thẩm định để điều trị cho những người bị nhiễm covid nặng. Ví dụ như Ivermectin, Nitazoxanide, Lopinavir, Hydroxychloroquine, Chloroquine, Azithromycin…v.v. Mình sẽ đính kèm đường link phía dưới cho bạn nào rành tiếng Anh theo dõi nhé. Vì các loại thông tin này thường xuyên được cập nhật trên các trang mạng của chính phủ như FDA hoặc NIH.

Bấm vào đây coi hướng dẫn điều trị COVID-19 của cơ quan y tế NIH Hoa Kỳ

(Cho đến nay thì những loại thuốc trên vẫn nằm trong danh sách để xử dụng khẩn cấp điều trị cho các bệnh nhân covid nhập viện. Tất nhiên về khoảng này các bạn trong ngành y dược chắc chắn sẽ biết nhiều hơn. Ở đây mình chỉ tóm tắt cho các bạn tham khảo thôi. Ai muốn biết sâu hơn, tốt nhất nên hỏi thăm bác sĩ của các bạn, thông tin sẽ được cập nhật hơn)

Hiện nay, có nhiều hãng thuốc tại Mỹ được sự ủng hộ của chính phủ, chạy đua nghiên cứu dạng thuốc viên uống, dành cho những ngừời mới bị covid-19, hoặc mức độ bịnh nhẹ đến bịnh vừa. Có vài loại dự kiến sẽ được ra đời vào cuối năm nay hoặc đầu năm sau. Ứng cử viên nặng ký nhất hiện nay là thuốc Molnupiravir của hãng Merck và Ridgeback Biotherapeutics. Hiện đang ở giai đoạn thử cuối cùng. Nếu thành công thì đó sẽ là loại thuốc uống “antiviral” đầu tiên trị được bịnh cúm Vũ Hán. Và chắc chắn là sau đó sẽ còn nhiều loại thuốc uống trị covid khác ra đời.

Xin lưu ý là thuốc antiviral khác với thuốc antibiotics (trụ sinh) nghen. Thuốc trụ sinh thì không trị được các bịnh gây ra bởi "viral infection" như cúm, ban trái, rubella, measles, rhinovirus, coronavirus (tổ tiên của covid-19), adenovirus ..v.v.  Mặc dù ra tiệm thuốc tây ở VN thì các vị cứ phán, cứ trụ sinh mà chơi tới bến. Kệ, trật gà thì cũng trúng chim. Xin lỗi mấy cô bạn dược sĩ nghen. Chỉ nói đến một số ít "cược sĩ" bán thuốc liều thôi :-) . 

- Còn nói đến thuốc ngừa (vaccin) cho dịch cúm Vũ Hán thì hiện nay trên thế giới cũng có nhiều loại. Công nghệ khác nhau, hiệu quả khác nhau, ảnh hưởng phụ cũng khác nhau. Cho nên cũng cần tìm hiểu trước khi chích, để không bị hoang mang vì các tin đồn thất thiệt. Đương nhiên là lâu nay ai cũng biết chích ngừa vaccin là phương pháp hiệu quả nhất dành cho tất cả các căn bịnh gây ra do "virus". Tuy nhiên tính hiệu quả của mỗi loại thuốc tiêm chủng và các ảnh hưởng phụ do nó gây ra, là những điều cần thiết phải biết vì không phải loại thuốc nào cũng giống nhau. Một số loại thuốc ngừa có hiệu quả rất thấp hoặc có những ảnh hưởng phụ phức tạp, nhưng do nhu cầu cấp thiết, nên vẫn được đem ra xử dụng. Trong khi đó có một số người đã được chích ngừa, chủ quan không bị mắc bệnh hoặc ỷ y tiếp xúc với nhiều người khác, nên có thể vô tình trở thành nguồn dịch lây lan.

Thứ tự hiệu quả của các loại thuốc ngừa hiện nay trên thế giới là Pfizer, Moderna, J&J, AstraZeneca, Sputnik, Sinovac ...v.v.. Tuy nhiên đây chỉ là đánh giá dựa trên số liệu thu thập được của một số cơ quan chuyên môn. Số liệu có tính tương đối của nó. Còn đối với thuốc ngừa của Nga (Sputnik) và Trung quốc (Sinovac) thì cũng như những vấn đề thường lệ khác của họ lâu nay, có thể sẽ không bao giờ có một số liệu minh bạch và chính xác được. Cho nên tuỳ vào cảm tính và vận may của đất nước vậy !

==> Có hai loại thuốc vaccin nữa sắp ra mắt, cần lưu ý:

* Novavax của Mỹ (mã số cổ phiếu là NVAX), rất tiềm năng, đang ở những bước cuối cùng để xuất xưởng trong quý tới.

* Thuốc thứ hai đặc biệt có tên gần giống Novavax của Mỹ, đó là Nano Covax của Vietnam. Hôm trước có đăng báo là sắp ra đời, tính hiệu quả trên 99%, và chi phí chỉ tốn $120,000 đồng VN cho một liều, tương đương với usd $5.2. Nghĩa là khi ra mắt sẽ trở thành loại thuốc chống covid hiệu quả nhất thế giới và rẻ nhất ! (Xin lỗi, thông tin này là mình đọc trên báo Vietnam News chính thống nghen. Hy vọng không phải nói cho vui kiểu kéo đám mây điện tử về VN)

- Cũng xin nhắc lại, chích ngừa xong không có nghĩa là sẽ không bị dịch và không lây lan cho người khác. Cho nên những người đã được chích ngừa vẫn cần phải giữ gìn, quan tâm dùm cho người chưa được chích ngừa. Nhiều người chích ngừa xong, vẫn có khả năng bị nhiễm bịnh, nhưng có thể không có triệu chứng rõ rệt, nên thường chủ quan, vô tình lây lan cho người khác. Nên biết thêm là những người đã chích ngừa thì vẫn có khả năng mắc bệnh nhưng thấp hơn, và nếu có mắc bịnh thì khả năng bịnh nặng, hoặc nguy hiểm đến tính mạng cũng thấp hơn. Còn các bác theo thuyết âm mưu hoặc theo quan điểm không chích ngừa covid, thì mình cũng rất tôn trọng, và không dám nói đến ở đây.

Tuy nhiên để đạt đến mức độ "miễn dịch cộng đồng" (Herd immunity) thì cần phải đạt đến một số lượng tiêm chủng nhất định. Nhiều người cho rằng cần khoảng 70% tổng dân số cộng đồng có tiêm chủng mới tạo ra được tình trạng miễn dịch công đồng. Nhưng đó cũng chỉ là lý thuyết thôi, không phải là tuyệt đối, đặc biệt trong các biến chủng sinh học phức tạp. Bên cạnh đó, ý thức con người, trình độ dân trí, cũng như điều kiện kinh tế xã hội của từng quốc gia, cũng là những biến số rất quan trọng trong việc dập tắt dịch bệnh. Cho nên không ai bảo đảm được điều gì. Hy vọng các loại thuốc ngừa kết hợp cùng với các loại thuốc uống đang nghiên cứu hiện nay, sẽ dẫn đến những kết quả khả quan hơn. Và cũng hy vọng qua kinh nghiệm lần đại dịch này, giúp cho giới khoa học đi gần hơn với những phương cách đối phó dịch bệnh phù hợp và hữu hiệu hơn trong tương lai. 

5. Truyền thông mùa dịch ?

- Đây là một vấn đề rất quan trọng trong mùa dịch bệnh, vì ai cũng hoang mang, lo lắng vì bối cảnh mới mẻ và tin tức loạn xạ. Đám tin vịt thừa cơ thả vịt câu view, rồi nhiều người đọc tin không kiểm chứng, không phân tích, cứ thế gởi ra, truyền tải, càng làm rối loạn xã hội, gây hoang mang cho bà con anh em bạn bè. Dạo trước bên Trung đông có kẻ còn sợ quá, uống cả thuốc rầy vào để diệt covid. Phải cảnh giác chứ nghe tin vịt, rồi uống cả lá ngón, thuốc sâu, ngọc linh, ngầu pín… trị bệnh thì không tốt chút nào !

- Thông thường ở các nước phát triển đều lập ra một ban chỉ đạo toàn quốc (tập trung và duy nhất, cập nhật tin tức hàng ngày). Mọi thông tin chính thống đều do ban này thông báo. Ban bệ đó sẽ bao gồm các vị lãnh đạo đứng đầu quốc gia và những vị đại diện các ngành chính liên quan mật thiết đến tình hình đất nước như là tài chánh, y tế, an ninh, lương thực, phòng bị, cứu hộ ...v.v... Bên Mỹ bên Châu Âu, thời kỳ cao điểm, tổng thống thủ tướng ngày nào cũng lên TV họp báo cùng với ban chỉ đạo chống dịch, cập nhật tin tức trong ngày và trực tiếp thông báo các kế hoạch cụ thể, để cho người dân không bị bối rối hoặc hiểu lầm.

Còn nếu không tuân theo nguyên tắc tập trung và duy nhất, mạnh ai nấy phán, hoặc chuyện gì cũng đợi ý kiến từ một vài người không chuyên môn, e rằng trống đánh xuôi kèn thổi ngược, khó đồng nhất, tạo điều kiện cho bọn xấu tung tin giả. Cũng dễ bị đám gian thương, tham quan lợi dụng cơ hội để trục lợi, hoặc làm phiền phức rối loạn lòng dân, thực giả khó phân. Ở đất nước nào thì vấn nạn này cũng có thể xảy ra !

- Nên lưu ý chính những người thừa hành chống dịch kém hiểu biết, hoặc các kế hoạch phân bổ và cách triển khai thực hiện không đồng bộ là những nguyên nhân góp phần làm nhiễu loạn trật tự xã hội. Cho nên có một phương án truyền thông hợp lý và đồng nhất trong thời kỳ đại dịch là tối quan trọng. 

6. Ăn uống gì, làm sao sống, tiền đâu ?

- Phần này thì hoàn toàn dựa vào chính phủ nước sở tại, mình không biết và cũng không dám ý kiến. Chỉ là rất quan tâm vì hoàn cảnh kinh tế đất nước VN khác với nhiều nước khác. Số lượng lao động hè phố, buôn gánh bán bưng, công nhân, nông dân nghèo ... lượng người dân kiếm sống từng bữa ở VN rất nhiều. Không biết nhà nước VN có phương cách nào giúp đỡ cho họ vượt qua kiếp nạn này không ?

(Mở ngoặc chút, trong đợt dịch bệnh vừa qua, chính phủ Mỹ sẵn sàng hổ trợ cho người dân của họ bằng mọi cách, không phải chỉ vì họ giàu có, mà là họ quan niệm rằng đó là những  kiếp nạn "không phải do người dân gây ra". Người dân đen là nạn nhân đáng thương của cơn dịch bệnh quái ác, mà nguyên nhân còn chưa biết là do con người cố ý hay do tự nhiên gây ra.)

Tóm lại, xin có vài ý kiến vụn dựa vào cái hiểu biết hạn hẹp của mình. Các bạn nào muốn có thông tin cập nhật hơn nên tham khảo với các bác sĩ dược sĩ chuyên môn nhé. Phần còn lại, chính yếu vẫn là do các bạn, tự tìm hiểm & ứng biến dựa vào hoàn cảnh của từng người. Mỗi người mỗi cảnh. Xin cầu chúc tất cả các bạn cùng gia đình nhiều may mắn, thân tâm an lạc. Mong kiếp nạn sớm qua đi và cuộc sống bình an sớm trở lại !

PN

Wednesday, June 30, 2021

Trở về trường cũ



Ngày ấy đã qua

thầy cô người già người mất

bạn bè biền biệt 

đứa ngược đứa xuôi

Long não cứ đến mùa thay lá

hàng phượng vĩ cỗi dần trên lối xưa 

vẫn cánh rụng rơi 

như tuổi thơ của một thời nuối tiếc


Anh trở lại,

dẫu chỉ là đứng đợi

một buổi nào 

của ngày ấy xa xưa

những vô lý của thời trai trẻ

chưa nắm tay đã mộng mị tơ hồng

môi mới khẽ đã chim lồng cá chậu


Anh trở lại,

chỉ bởi lòng tơ tưởng

nhớ một thời hoa bướm qua đi 

những ước mơ đội đá vá trời

những cổ tích của thời cơm gế củ

rưng rưng buồn chuyện kẻ ở người đi

"trèo lên cây bưởi hái hoa,

bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân"

nên u uẩn đời lưu lạc 

có nỗi buồn của người con gái 


Anh trở lại,

rồi một mình đứng lặng

giữa sân trường ngoài đám lá lao xao

tất cả đều xa lạ 

con đường hai buổi ngày xưa 

nay Từ Thức,

chân lạc loài từ những bước loanh quanh

khung cửa hẹp mái đầu xanh ngơ ngác

"Dạ, có nghe Mẹ kể chuyện ngày xưa

ngôi trường cháu cũng một thời như thế ...."


Hạt bụi vô tình 

rơi vào khoé mắt 

nhoè nhoẹt chân chim

lấm sân trường cũ

Anh trở lại, 

hay ngày xưa trở lại ?

thềm cũ ai ngồi 

vạt nắng miên man …


PN


Saturday, June 26, 2021

Thơ của bạn,


Năm đó, lần đầu tiên về quê họp mặt với bạn bè cùng khoá sau mấy chục năm ra trường. Thực ra trường to nhiều lớp, có rất nhiều người ngày xưa mình chưa bao giờ biết, hoặc chưa bao giờ gặp mặt, hoặc chỉ nghe tên. Mà dẫu ngày xưa có biết nhau thì mấy chục năm cũng nhìn không ra. (Mấy ông tập kết xa quê nhà thời gian ngắn hơn mình, mà năm 75 về còn nhận vợ con không ra, huống chi mình :-)). Nhưng về trường cũ rồi thì gặp ai cũng tay bắt mặt mừng, như đã thân nhau từ muôn kiếp nào ....

Có thằng bạn rủ về dưới Thu Xà nhậu đặc sản cá bống kho, mực cơm nướng, cá cồi hấp ... Trời mưa, ngồi bên hiên quán lá dột nước, nghe nó kể chuyện "ôn tập" cả đêm, vừa mày tao, vừa tiếng đệm, tiếng lóng, tiếng Đan Mạch ... nghe đã tai lâu ngày. Viết bài này tặng bạn bè năm đó. Năm nay, đúng mười năm sau, lẽ ra đến hẹn lại lên, nhưng dịch bệnh lây lan, thôi đành hẹn bạn bè khi hết dịch nhé :-).

PN

Thơ của bạn,


Có những bài thơ
không bắt đầu bằng chữ nghĩa
mà tiếng "mày, tao" bên vỉa hè xưa

Bao nhiêu năm,
trời mưa bỗng dột
rớt vô tình như một lời ru
Trong góc tối tao thu mình rất khẽ
chợt vỡ òa ngày rất trẻ đầu xanh

Ở nơi đó,
tao đã từng lỗi hẹn
Nợ tình ai ngày hôn lén bờ môi
Nay trở lại bâng khuâng chiều chửa tối
Giữa quê mình lạc lối chạy loanh quanh

Nên cứ rót,
tao không đành để cạn
say ngọt ngào,
con bống sạn nằm queo,
Ðêm sao đủ cho nửa đời ấp ủ
Thế là thơ, cần giấy bút làm chi ?

Hôm nay,
còn lại tiếng ve
không xác phượng đỏ, không tre đằng ngà 
Một mình ngồi ở phương xa
bỗng dưng lại nhớ
hôm qua
.... thơ mày !

PN (2011)



Thursday, June 17, 2021

Tản mạn về "Từ thiện" ...

 


Gần đây trên mạng xã hội VN rầm rộ những câu chuyện đấu tố "từ thiện". Xấu có tốt có, đem ra khai tội lẫn nhau dưới nhiều hình thức trần trụi. Đó là thói quen thường gặp. Tất nhiên đại đa số những người tham gia trên mạng cũng chỉ là nghe đi nói lại, chẳng ai là quan toà có đầy đủ chứng cớ, nên chỉ biết được một phần của vấn đề. Và cũng chẳng ai có quyền bào chữa hoặc khả năng lý luận trước một đám đông hùng hậu đến thế. Chợt nhớ đến câu chuyện người đàn bà bị ném đá trong kinh Thánh. Cuối cùng thì đúng sai không rõ, nhưng chắc chắn sẽ làm cho nhiều người ngán ngẩm sự tình và ít nhiều có những ảnh hưởng đến các hoạt động "từ thiện" về sau, đặc biệt là trong giới văn nghệ sĩ. Mình thì nghĩ rằng người hiểu biết đúng đắn về đạo lý của "từ thiện" chắc chắn sẽ không có những ứng xử như vậy !

Nhân đây mình cũng muốn chia xẻ một vài ý nghĩ cá nhân về việc "làm thiện". Tất nhiên chỉ là những suy nghĩ tản mạn, đúng sai tuỳ người cảm nhận. Đọc cho vui thôi :-)

Lâu nay có một số người cho rằng nguồn gốc của các hoạt động từ thiện xuất phát từ tôn giáo, và những quan niệm nhân quả báo ứng hoặc phúc đức công đức .v.v.. Điều này thì mình không rõ lắm, nhưng có một điểm chắc chắn là tôn giáo nào cũng dạy tín đồ của họ sống tử tế, làm thiện làm lành. Và cũng chính vì quy luật nhân quả, nên bao giờ những người sống thiện lành cũng chính là người đầu tiên được hưởng những kết quả tốt đẹp từ công việc làm của họ. Còn quy luật nhân quả là của vũ trụ, không phải do ai tạo ra mà cũng không thuộc sở hữu của bất kỳ một tôn giáo nào.

Tuy nhiên, không phải ai cũng quan niệm vấn đề như vậy và có tư duy hiểu biết giống nhau, nên mới xảy ra nhiều thứ ngộ nhận trong cuộc sống và các mâu thuẩn từ đó hình thành. Đại đa số những cá nhân và tổ chức từ thiện đều hoạt động rất tốt, và ngày càng có nhiều ảnh hưởng tich cực đối với đời sống xã hội. Nhưng bên cạnh đó cũng có một số vấn đề làm ảnh hưởng đến tình trạng chung. Có một số người quan niệm làm thiện như một sự ban phát, khai ân, nên chờ đợi những quyền lực, đặc ân hoặc sự tôn vinh kính trọng, thậm chí sự tôn sùng từ những người nhận hoặc xã hội chung quanh. Khi không được như ý, sinh ra bức xúc, bất mãn, thậm chí còn cắt đứt dây chuông, hoặc chửi bới doạ nạt đòi lại… Một số người khác có quan niệm giá trị của việc từ thiện là được quy ra "thóc", nên tính toán hơn thua, so đo những giá trị đóng góp làm tổn thương người khác. Thậm chí có một số ít chờ đợi thiên hạ (hoặc Phật, Chúa, Trời, Diêm vương ...) ghi nhận công đức của họ theo cách nghĩ như thế. Không được như ý, thì cũng sinh ra lắm phiền toái cho bản thân họ và cho người khác. Trong khi đó thì những người chung quanh không phải ai cũng có đủ dũng khí và khả năng để nói lên những sự thật hoặc lời góp ý chân thành về những ứng xử lệch lạc của họ. Bên cạnh đó thì cũng có những hiện tượng xưng tụng thái quá, hoặc một số vấn đề tiêu cực dẫn đến việc con sâu làm rầu nồi canh….v.v..Và cứ thế lần hồi những công việc từ thiện cao cả lại trở nên phức tạp hơn vì sự lẫn lộn giữa những chờ đợi và ứng xử khác nhau của nhiều cá nhân hoặc tổ chức. Điều đó đôi lúc làm khó khăn hơn cho những người có lòng làm thiện chân chính. Mặt khác, do những yếu tố văn hoá đặc thù của từng địa phương mà người dân mỗi nơi có những quan niệm khác nhau về hoạt động từ thiện và giá trị cống hiến của nó đối với con người và xã hội. Nên không phải chỗ nào cũng có ứng xử như nhau.

Nói đến việc làm thiện làm lành, trong PG có một khái niệm rất quan trọng, đặc biệt là đối với những người nghiên cứu đi sâu vào con đường thực hành đạo pháp. Tiếng Anh gọi đó là "Six Paramitas", hoặc "Transcendent perfections", tiếng Việt dịch ra là Lục Ba la mật (có một số sách dịch là Lục độ Ba la mật). Chữ mật ở đây không liên quan gì đến bí mật hoặc phù phép pháp thuật nào cả. Có thể chỉ là cách phiên âm từ tiếng Phạn ra TQ, rồi TQ sang VN từ thời xa xưa. Dĩ nhiên ở các nước Á đông, vốn có truyền thống PG lâu đời, nên được thuyết giảng về nhiều phương tiện tu tập khác nhau. Ngôn từ cũng đa dạng phong phú, và khó hiểu hơn, vì được diễn giải theo nhiều cách riêng khác nhau. Còn bên Tây phương, thì kinh sách viết theo tiếng Anh (English) nên chữ nghĩa trực tiếp hơn, đơn giản hơn, phù hợp với những người có ít vốn liếng kiến thức PG như mình. Tóm lại, Lục Ba la Mật (Six paramitas) là 6 tiêu chí tu tập cần thiết nhất cho một người muốn tìm đến sự giác ngộ của bản thân. Bên PG Nam truyền (Theravada) quan niệm là có 10 paramitas, thay vì là 6. Thực ra thì cuối ngày cũng là những phương pháp thực hành giống nhau. Đây là những lý thuyết căn bản của PG, mặc dù đơn giản nhưng là mấu chốt trọng tâm nhất của việc tu tập. Bạn nào muốn đọc thêm, thì có rất nhiều tài liệu trên mạng. Các trường đại học lớn trên thế giới đều có nhiều tài liệu về lý thuyết PG này. Ví dụ như đại học lâu đời nhất của Anh, Oxford, trong thư khố Oxford Bibliographies, luôn có những tài liệu hoặc bài viết về "Six Paramitas". 

Trong phạm vi bài viết này, mình chỉ muốn nói đến cái ba-la-mật đầu tiên (1st paramita), đó là nói về Bố thí ba-la-mật-đa (tiếng Sankrit là danaparamita; tiếng Anh tạm dịch là perfection of giving, hoặc là generosity). 

Nôm na thì bố thí được định nghĩa là khả năng mở lòng để cho đi hoặc thiện chí để dâng hiến, mà không chờ đợi sự hồi báo. Bố thí được chia ra thành 3 loại:

1. Tài thí: là cho đi bằng tiền của, hiện vật, công sức... (như đại đa số các vị làm từ thiện ngày nay)

2. Pháp thí: là đem sở học sở đắc của mình mà hướng dẩn, giáo dục, thuyết pháp, truyền giáo, giảng giải đạo pháp, đạo làm người…cho kẻ khác.

3. Vô uý thí: là che chở hoặc bảo vệ trực tiếp hoặc gián tiếp các sinh linh yếu đuối, khờ khạo, ngây ngô, bất lực ... trước những bạo lực, cường quyền, sự sợ hãi và những chết chóc tai ương. Hy sinh và sẵn sàng cam chịu thiệt thòi bản thân để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa, giúp sinh linh thoát cảnh sợ hải, lo âu ...

Một số kinh sách cho rằng đó là 3 cấp bậc bố thí từ thấp đến cao. Mình thì không nghĩ vậy. Chắc là không có sự đo lường về công đức cao thấp, nhưng có thể có nói đến mức độ khó dễ trong việc thực hành mỗi kiểu bố thí. Nhiều người thường giảng giải Bố thí Ba-la-mật-đa vừa làm lợi ích cho người, vừa làm lợi ích cho mình. Theo mình thì chuyện làm thiện đem lại lợi ích cho người, cho xã hội, cho nhân loại ... thì dĩ nhiên ai cũng dễ dàng nhìn thấy được. Thế nhưng chuyện làm thiện đem lại lợi ích cho chính bản thân thì khó nhận ra hơn, mặc dù đây mới là điều quan trọng mà những người tu học chân chính muốn hướng tới. Bởi vì chính sự bố thí đúng nghĩa mới là liều thuốc hoá giải mọi sự chiếm hữu và tham lam, bủn xỉn và bần tiện, kiêu ngạo và ích kỷ ...Đưa họ từng bước tiến đến gần hơn với sự giác ngộ và tỉnh thức !

Tuy nhiên là trong mọi vấn đề, mọi lý thuyết đều có tính hai mặt của nó. Tỉnh hay mê, thiện hay ác, nặng hay nhẹ, có khi cũng chỉ là những đường ranh rất mỏng. Vượt quá giới hạn đó lại trở thành một ý nghĩa khác. Mình không phải là những nhà tu hành, càng không phải là các nhà nghiên cứu đạo pháp, hoặc các bậc cao nhân tri thức ... nên một lần nữa, đây chỉ là những hiểu biết trong giới hạn hiểu biết nhỏ bé của mình.

Thứ nhất nói về "Tài thí", quả nhiên là đơn giản nhất. Có công, có của, có lòng ... cho đi. Làm từ thiện, đi cứu trợ, quỹ tình thương, quỹ hổ trợ, quỹ học bổng, làm nhà tình thương, làm cầu, làm trường, bữa cơm có thịt, cái mền, cái áo, xây chùa, xây miểu ...v.v.. Tuy nhiên, đối với hạnh bố thí, thì sự "giàu có" không chỉ là dựa trên phương diện vật chất và tiền bạc, mà còn dựa trên khía cạnh tinh thần, thiện chí, sự khiêm cung, và quan trọng nhất là lòng yêu thương. Vì thế, mỗi người chúng ta đều có những thứ để cho, để hiến dâng cho kẻ khác. Bố thí Ba-la-mật không tùy thuộc vào giá trị vật chất quy ra "thóc”, mà chính là khả năng mở lòng cho đi, sự thấu hiểu và đồng cảm, lòng thương yêu chia xẻ với những kẻ khốn cùng hoặc nỗi đau lâm nạn. Vài chục tỉ của một đại gia (làm giàu chính đáng hoặc không chính đáng) so với vài ổ bánh mì của người nghèo hoặc bữa ăn cuối cùng của người ăn xin, chưa biết giá trị nào thực sự lớn hơn. Mà chắc cũng chẳng có Phật Chúa nào đo lường chuyện đó, chỉ có bản thân họ cảm thấy an lạc và hạnh phúc như thế nào mới là quan trọng. Đó là giá trị lớn nhất và cũng là những hạt giống karma seeds quý báu mà họ vừa gieo trồng trong mảnh vườn A-lại-da-thức của họ. Còn dẫu có lên đài, lên TV, lên youtube khoe khoang, thì chắc cũng không đem lại cho họ lợi ích gì, ngoài những phiền toái thị phi, hoặc những xưng tụng có tính chất tạm thời, phe phái. Có những người rất nghèo khó, buôn gánh bán bưng, chạy xe ôm, khuân vác hàng ngày, không có vốn liếng, không học thức, nhưng họ có thể bật khóc thông cảm trước cảnh khổ đau và cơ hàn của kẻ khác. Ngoài tình thương ra, họ chỉ có gói mì, ly nước, hoặc thậm chí không có tài vật gì để hiến dâng, nhưng chính lòng yêu thương đó cũng là sự bố thí đáng kính vậy.

Tuy nhiên, thực tế cuộc sống thì bố thí không phải chỉ đơn giản cho đi là xong việc. Nhiều người phát tâm " tài thí" đôi khi còn phải chịu đựng những thị phi, đố kị, ganh ghét, của thiên hạ chung quanh. Cũng là lẽ thường, thậm chí có lúc còn phải bị mang họa vào thân, hoặc nhận lãnh cả sự thù hận, mới hoàn thành được ý nguyện thiện lành của họ. Chưa hết, nhiều người làm từ thiện mà phải dấu diếm vì sợ người đời đánh đồng cá mè một lứa, nghi kị hiểu lầm động cơ từ thiện của họ. Bởi vậy cũng không hiếm những trường hợp có người chịu đựng không nổi những áp lực nghịch lý, hoặc không vượt qua được ải "thị phi" của thiên hạ chung quanh, đành ngậm ngùi gác kiếm không làm từ thiện nữa. Tức là chính họ đã thua cuộc trước cái mục đích hạnh trì cao cả của họ. Rớt từ vòng gởi xe :-). Bên cạnh đó, cũng có một số người động cơ chính của việc làm từ thiện là mong được hồi báo phúc đức, cho con cho cháu, kiếp này hoặc kiếp sau. Vô tình họ lại làm giảm thiểu đi cái ý nghĩa thực sự của việc "cho đi", mong cầu một gắn bó mới (attachment) sẽ đến. Nói tới đây mới nhớ tới thời mình về VN đi làm, gặp những ông anh cùng quê, rất nặng lòng với quê hương. Bao nhiêu năm qua, không hề mệt mỏi, bền bĩ, thầm lặng giúp đỡ quê nhà, chẳng mong gì sự hồi báo. Cho gạo, cho tiền, lập quỹ hổ trợ, xây trạm xá, xây trường học, giúp đỡ đồng bào, ngư dân. Chắc hẳn cũng có những lúc họ phải trãi qua nhiều thị phi, khó nhọc, nhưng chưa hề dừng bước. Rất khâm phục tấm lòng của các anh ấy.

Ở một số quốc gia đang phát triển, có nhiều nhà tỉ phú nổi lên nhanh chóng do các khe hở của luật pháp và chính sách. Bên cạnh sự giàu có của họ, luôn tồn tại những thiệt hại và khổ đau của nhiều người dân lương thiện khác. Một số người khôn khéo trích khoản phần nhỏ ra để làm “từ thiện” xoa dịu lương tâm cho bản thân, bù đắp hoặc trấn an cho thiên hạ, hoặc đánh bóng tên tuổi. Đó không phải là ý nghĩa của bố thí trong paramitas. Ngoài ra cũng có nhiều sự bố thí khác cao cả hơn, như hiến dâng một phần thân thể, hay cả mạng sống của họ vì sự an vui và sinh tồn của kẻ khác gọi là Đại Bố thí. Trong lịch sử nhân loại, không hiếm những cá nhân, các chư vị tăng ni tu sĩ, hoặc các vị thánh tử đạo của Thiên chúa giáo ... đã từng hy sinh tự thiêu để đánh thức lương tâm của kẻ khác trước những ý đồ vô minh đen tối. Nhưng bên cạnh đó, thì cũng có những con người do xuất phát từ lòng hận thù, cuồng tín, vô minh, hoặc vì những mục đích chính trị khác, tự hy sinh hoặc xúi giục người khác hy sinh gây ra những hành vi bạo động làm thiệt hại sinh mạng kẻ vô tội khác, làm rối loạn xã hội, vụ lợi cho cá nhân hoặc cho tổ chức. Đó càng không phải là hạnh bố thí. Cho nên có nhiều hành vi hoặc hành động hoàn toàn giống nhau nhưng xuất phát từ những động lực khác nhau, thì lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó cũng là những khả năng thông hiểu của trí huệ con người được nói đến ở những phương pháp “ba-la-mật" (paramitas) kế tiếp.

Thứ hai, nói về Pháp thí. Nghĩa là nói đến sự cống hiến, tri thức cho đi của các bậc truyền giáo, thuyết pháp, giáo dục, khai ngộ cho kẻ khác. Đây là một việc làm khó khăn, đa dạng và phức tạp hơn nhiều. Đồng nghĩa với khái niệm nước có thể nâng thuyền thì cũng có thể đắm thuyền. Truyền bá đạo pháp không đúng có thể huỷ diệt đạo pháp, đưa xã hội vào thời kỳ mạt pháp. Cho nên nói về Pháp thí là nói về những mục đích và phương tiện khác nhau. Thuyết giảng và truyền bá đạo pháp hoàn toàn lệ thuộc vào trí tuệ, khả năng, và duyên nghiệp của người giảng và người nghe. Chữ "duyên nghiệp" ở đây nói cho đơn giản một chút là sự kết hợp của những điều kiện "cần và đủ" như trong toán học, bao gồm cả cái Ngã, cái vô minh của đôi bên. Mình không dám nói nhiều về phạm vi này, vì đây là một vấn đề tế nhị, khó diễn đạt. Nếu nói không đủ ý, nhất là trong phạm vi của một vài phiếm luận ngắn, dễ gây ra sự hiểu lầm và trịch thượng. Và đó cũng chính là một thứ duyên nghiệp của mình vậy :-) . 

Đại khái, nhiều người đến với tôn giáo, đặt hết niềm tin của họ vào đó. Nhưng đôi khi có sự nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích, nên bị lôi cuốn vào những giá trị ảo của hình thức nghi lễ bên ngoài mà lại ít chú trọng vào bản chất nội dung bên trong, dẫn đến những ngộ nhận đáng tiếc. Bên cạnh đó cũng có số ít trường hợp hiểu lầm về đạo pháp gây ra do sự giảng giải và hướng dẫn lệch lạc của một số chư vị tu tập dưới màu áo tu sĩ nhưng lại hiểu biết không thấu đáo hoặc có những mục đích riêng tư khác nhau. Có thể là do khả năng hoặc kiến thức, do ngã chấp nặng nề, hoặc do bị chỉ phối bởi các yếu tố đời thường … nên vô tình hay cố ý dẫn dắt đức tin của người khác đi vào chỗ mê tín dị đoan, bùa phép ma thuật, hối lộ thần thánh, oan gia trái chủ v.v. Và cũng vì ngộ nhận chánh pháp nên mưu cầu và hứa hẹn những điều không có thực. Thậm chí còn quay cuồng trong những chuyện hơn thua tên tuổi, vọng tưởng công đức, so đo công trạng .v.v..Vô tình ngày càng đưa mình đưa người vào những ngõ rẽ vọng tưởng, xa rời chánh pháp và sự giác ngộ. Tất nhiên trong cuộc sống này thì vẫn luôn có nhiều chư vị tăng ni, những bậc tri thức, cư sĩ, thiện nam tín nữ đầy đủ phẩm chất, trí huệ sáng ngời, đạo đức khiêm cung, kiến thức rộng lớn, sẵn sàng dạy dỗ và hướng dẫn kẻ khác đi theo con đường phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của mỗi người. Tuy nhiên, ai cũng vậy, thường sẽ không biết cái mà mình không biết. Ai cũng có những bộ lọc riêng cho mình, nên thường có xu hướng tìm nghe những gì mình thích nghe, tìm thấy những gì mình thích thấy. Không ai ngoại lệ cả, trừ khi sự hiểu biết và tu tập của họ đã thực chứng trải nghiệm và vượt qua những nấc thang trở ngại này rồi. Âu đó cũng là những câu chuyện dài trong cuộc sống!

Thứ ba, nói về "Vô úy thí" (abhayadana). Nghĩa là nói đến sự che chở và bảo vệ trực tiếp hoặc gián tiếp những sinh linh (người & vật) yếu đuối, khờ khạo, ngây ngô, không phương tiện tự vệ trước những bạo lực, lo âu, sợ hãi và chết chóc. Nhiều người dùng trí tuệ, tài lực, và ngôn ngữ của họ khuyên bảo an ủi động viên kẻ khác vượt qua những thời khắc khổ đau nhất hoặc khó khăn nhất. Đại khái là như thế, nhưng theo thiển ý của mình, đây là cấp bậc bố thí cao hơn và là sự kết hợp của hai dạng bố thí trước. Nhiều chùa chiền Bắc truyền ở VN đều thờ cúng Bồ Tát Quan Âm "cứu khổ cứu nạn". Có lẽ là biểu tượng của hình thức bố thí "vô úy thí" này. Để che chở hoặc bảo vệ cho sinh linh thoát khỏi cảnh khổ đau và sợ hãi cùng cực, có lẽ không còn ranh giới giữa "tài thí" hoặc "pháp thí" nữa, mà cần có một hành vi hoặc trạng thái tự nhiên hơn. Có thể phải đòi hỏi một khả năng kết hợp nhiều yếu tố khác nhau để thực hiện công việc hiệu quả. Mặt khác cho dù nhiều người rất có thiện tâm, nhưng “vô úy thí” đôi khi không phải là những việc làm dễ dàng như cho đi một món đồ. Thậm chí có thể phải hy sinh cả cuộc đời hoặc bị ảnh hưởng lâu dài đến nhiều thế hệ. Như trong đời sống hàng ngày, có lúc chúng ta nhìn thấy những nghịch lý gây ra biết bao nhiêu hệ lụy khổ đau phiền muộn cho người khác, nhưng không phải ai cũng có đủ dũng khí, bản lĩnh, và khả năng để thay đổi được những nghịch lý đó. Hoặc có lúc chỉ vì một ít quyền lợi riêng tư, hoặc sự yên ổn của bản thân và gia đình, mà nhiều người đành phải chọn lựa giải pháp quay lưng với một số sai phạm, mà đúng ra họ phải đấu tranh để bảo vệ cho kẻ yếu .v.v... Bản thân chữ Abhayadana có nhiều ý nghĩa sâu sắc trong các ngôn ngữ cổ xưa như Jainism, Prakrit, Hinduism, Sanskrit, Marathi. Bạn nào muốn tìm hiểu nên đọc thêm nghen. Thực ra, ngày càng già đi, mình mới hiểu ra rằng có nhiều thứ càng nói càng thiếu (hoặc càng sai). Chỉ có sự im lặng, suy gẫm, và tự nhiên cái hiểu sẽ đến !

Cũng không biết có phải vì lý do đó, mà nhiều vị thiền sư PG ngày xưa không chọn con đường thuyết giảng để truyền thừa đạo pháp cho các thế hệ sau. Nhiều vị còn chọn phương cách “vô ngôn”. Nhìn lại lịch sử PG VN hôm nay, rất nhiều tổ đình tên tuổi như Từ Hiếu, Từ Đàm, Thiên Ấn ..và các vị cao tăng thiền sư tên tuổi như Tịnh Khiết, Huyền Quang, Nhất Hạnh ... đều xuất phát từ tông Lâm Tế. Mà ngài tổ sư của tông Lâm Tế là Lâm tế Nghĩa Huyền có một câu nói rất nổi tiếng..."Đừng có bị lôi cuốn vì những cái áo. Có cái áo thanh tịnh, có cái áo vô sanh, áo bồ đề, áo niết bàn, áo Tổ, áo Phật. Các ông có biết cái người mặc áo không? ”. Tất nhiên ai cũng hiểu điều mà Ngài muốn nói đến là - Chúng ta thường chỉ nhìn thấy những cái áo mà không biết “người” mặc cái áo đó ra sao. Thấy được "người" mặc những cái áo đó mới chính là điều mà Ngài muốn chỉ cho chúng ta biết. Thế nhưng thời nay biết bao nhiêu người làm được chuyện đó. Và "từ thiện" lúc nào cũng là một chiếc áo đẹp !

Dông dài thêm một chút, VN mình lâu nay luôn cảm thấy may mắn và tự hào về tông thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thiền Trúc Lâm Yên tử đã trở thành một biểu tượng tôn giáo và văn hoá hàng đầu của PG VN. Còn Tết nhất lễ hội, cúng mâm cúng quả, cầu phúc cầu tài thì khỏi nói rồi. Cả nước hiện nay có biết bao nhiêu chùa chiền thuộc nhánh Trúc Lâm, và có rất nhiều chư vị tăng ni, thiền sư khả kính, trí tuệ uyên bác. Và khi nói đến dòng thiền Trúc Lâm, ai ai cũng nói đến công lao của vị vua khả kính Trần Nhân Tông sáng lập ra. Tuy nhiên ít người nhắc đến Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, anh cả của Đức Thánh Trần Trần Hưng Đạo, và là người đã dẫn dắt, dạy dỗ vua Trần Nhân tông vào con đường tu học đạo pháp. Ông có viết quyển "Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục", do chính vua Trần Nhân Tông đích thân ghi lại. Rất hay, nhưng sau này cũng ít khi nghe người ta nhắc đến !

Ngài Tuệ Trung Thượng sĩ là học trò của nhà sư Tiêu Dao. Trong cuốn "Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục", ông có kể lại rằng khi ngài Tiêu Dao (thầy của ông) đến nước ta để truyền giảng đạo pháp, Ngài ở trần không mặc áo, tay cầm cần câu không lưỡi, ngang nhiên đi vào kinh thành nhà vua. Hồi trước đọc tới đó, mình nghĩ cũng may mắn cho VN ta là Ngài Tiêu Dao sinh vào thời đó. Chứ nếu Ngài xuất hiện ở thời này mà không mặc áo, đi chân đất, lại không có chức danh, không trụ trì chùa nào, làm sao có cửa vào phủ chủ tịch ?

Biết ơn duyên lành !

PN

Friday, June 04, 2021

Giàn thiên lý đã xa .....


Mấy hôm nay nghe anh D kể lại thời thơ ấu, tự nhiên mình cũng đâm ra nhớ nhà. Hai thế hệ cách nhau khá xa, thời ảnh đi du học bên Tây thì mình mới vô mẫu giáo. Vậy mà vẫn còn đó
như in những địa danh, những con đường, và ngày tháng của một thời đã xa ...

Nào là Ngã Tư chính, nhà máy nước, phòng đọc sách, trường Mai Xưa, Tạ Từ đường, chợ Trời, cây xăng trong, cây xăng ngoài, tiệm giặt ủi, tiệm bán vé máy bay bà K, trường Chấn Hưng, Bồ đề, TQT .....cho đến những trò chơi xập xám, các-tê, bài cào ăn bao thuốc lá. Đúng là trí nhớ của anh giỏi thiệt. Chứng tỏ mấy cô gái châu Âu tóc vàng mắt xanh và "...chốn thành đô nhà cao cửa rộng" không đủ khả năng làm cho anh quên được hủ mắm cái quê nhà :-). Khâm phục !

Nhìn lại, quả nhiên thời gian qua nhanh thậtNhững câu chuyện anh kể nghe mới như hôm qua mà nay đã hơn nửa thế kỷ. Cũng nhân nhắc đến chuyện xa nhà nhớ quê, nhớ làng, nhớ bạn bè, nhớ người "em gái hậu phương", mình nhớ tới bài hát "Giàn thiên lý đã xa". 

Thời còn đi học, ở ký túc xá. Tối tối nhớ nhà, vài ba đứa rủ nhau ôm đàn ra ngoài hiên hoặc leo lên sân thượng, chuyền tay nhau từng điếu thuốc củi, ngồi đàn hát vu vơ .... Thời đó nhạc vàng thì phải nghe lén, nhưng nhạc tây 70+ thì vẫn còn thịnh hành. Vẫn còn Eagles, Abba, Bee Gees, Queen, Boney M, Carpenters, Lobo...v.v...Nhưng da diết và "nẫu ruột" nhất vẫn là bài "Giàn thiên lý đã xa" !

Mà nói tới thì phải ngã mũ khâm phục ông nhạc sĩ Phạm Duy. Từ một bài "Scarborough Fair" xa lơ xa lắc như vậy mà làm sao ông có thể đặt ra những lời nhạc "đốn tim" như thế ? Mình đã từng nghe đi nghe lại bao nhiêu lần Simon & Garfunkel hát Scarborough Fair. Hay thì có hay, nhưng đối với mình thì không thể "phê" bằng Thanh Lan hát "Giàn Thiên lý đã xa" được :-)....

Tội nghiệp thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà

Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa 

Đứa bé lỡ yêu, đã lỡ yêu cô em rồi 

Tình đã quên mỗi sớm mai lặng trôi ...

Còn chuyện "nhớ thương mãi quê nhà", thì có khi chưa hẳn là nhớ mẹ nhớ cha, mà chỉ nhớ vu vơ vài em nào đó. Thời đó ai rời trường trường trung học mà lại chẳng từng “yêu” một đôi lần ? Có thể chỉ là thương thầm trộm nhớ ai đó, có "đồ chơi mang đến lại mang về". Hoặc mỗi ngày lớ ngớ thấy nhau chút, đứng bên dãy lớp này mà ngóng dãy bên kia là hạnh phúc rồi. Ngon lành hơn thì rủ nhau hẹn hò đi ăn chè ăn sinh tố coi phin, ghé Thanh Hương ăn chè ỉ, lục tàu xá... :-). Còn ngon hơn nữa thì nắm tay nắm chưng, ôm eo ôm iếc, đèo nhau đi sông Vệ, Mỹ Khê, Phú thọ ... hoặc đâu đó. Còn mấy anh ngoại hạng hơn nữa thì chắc cũng có, nhưng mình không biết hoặc chưa được nghe kể. Nôm na chỉ là thế, nhưng đi xa chút thì ôi thôi ướt át lãng mạn vô cùng. Còn như anh D đi ra nước ngoài, xa hơn nửa vòng trái đất thì còn "tan nát lòng nhau" đến dường nào. Cũng may là hồi đó chưa có phone, facetime, viber, zalo ....như bây giờ :-) .

Nhưng phải cảm ơn âm nhạc, vì chỉ có âm nhạc mới đưa chúng ta trở về chốn cũ một cách nhanh chóng nhất. Không có phi thuyền, tên lửa, máy bay supersonic...nào mà nhanh bằng âm nhạc. Chỉ cần một bài hát cũ cất lên hay một điệu nhạc quen thuộc trỗi dậy, là đủ để kéo theo cả một vùng trời ký ức ! 

Và tất nhiên là trong mỗi chúng ta ai cũng có một ngăn kéo tuổi thơ riêng biệt. Cho dù mỗi người có trãi qua khác nhau những khổ cực nhọc nhằn vật chất hoặc bất công bất hạnh của gia đình & xã hội, thì trong ngăn kéo đó đều có những kỷ niệm ấm áp và trân quý dành riêng cho chính họ. Nhớ có ông nhà văn nào đó nói là "Ký ức tuổi thơ là những giấc mơ còn đọng lại sau khi thức giấc", cho nên mấy anh mơ nhiều thì ký ức tuổi thơ sẽ còn đọng lại nhiều hơn :-).

"It's never too late to have a happy childhood". Thôi chúc mấy anh chị luôn bình an hạnh phúc. Mong mùa dịch chóng qua, lại rủ nhau về quê ôn tập chuyện ngày xửa ngày xưa.

Ôi, giàn thiên lý đã xa, tội nghiệp (những) thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà.... 

PN


Thursday, May 27, 2021

Tâm và công đức ?


Lâu nay mình vẫn nghĩ có lẽ cái khó nhất trong cuộc sống này là làm sao để có được một cái bánh mà cắt ra ai ăn cũng thấy ngon giống nhau. Nhưng nói đùa vậy thôi, chứ chắc chắn là không ai có thể làm được điều đó. Mỗi người mỗi ý, ngộ tánh khác nhau. Chúa Phật cũng phải chào thua, bởi kinh điển hoặc bất kỳ một lý thuyết tôn giáo nào cũng không thể giúp cho thiên hạ có cùng một sự lãnh hội và hiểu biết giống nhau được.

Mấy hôm nay là mùa lễ Phật đản (đản sanh). Nhiều xứ, nhiều nơi tổ chức cúng lễ rầm rộ. Nhiều chùa tổ chức rất quy mô để cầu cho quốc thái dân an, đẩy lùi dịch bệnh. Dĩ nhiên là không phải đất nước PG nào cũng có ngày Phật đản giống nhau, mặc dù đa số đều tổ chức vào tháng 4 Âm lịch. Mình thì thường nói vui với bạn bè là.... "Chọn lựa ngày nào chắc cũng được, vì Phật không sinh ra vào tháng nào cả, mà đó chỉ là ông thái tử Tất đạt Đa ra đời thôi !"  :-) . 

Rằm tháng 4 năm nay, hôm qua, cũng là một ngày rất đặc biệt. Giới khoa học gọi là ngày nguyệt thực "trăng máu" (blood moon). Trái đất nằm ngay chính giữa mặt trời và mặt trăng. Khoa học thì giải thích đơn giản vậy, còn các ngài phi khoa học thì giải thích ác liệt hơn nhiều, điềm báo lung tung .... 

Nhân mùa Đản sanh, xin mạn phép gởi đến quý anh chị và bạn hữu một bài dịch của cố GS Phạm Công Thiện, dịch từ bản gốc tiếng Pháp của Léon Wieger. Léon Wieger là một nhà truyền giáo Thiên chúa giáo người Pháp, một bác sĩ y khoa nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Đông phương, Đạo giáo, Phật giáo ..v.v.. Đây là bài ông viết về buổi thuyết giảng đầu tiên của ngài Bồ Đề Đạt Ma tại TQ, giảng cho vua Lương Võ Đế và triều đình TQ thời bấy giờ. Rất hay, nên đọc !

Cũng xin nhắc lại một điển tích PG rất hay ngày xưa. Vua Lương Vũ Đế là một vị vua khai quốc của triều nhà Lương. Ông là người rất sùng đạo, chuyên xây chùa, luôn làm phước, làm thiện ... và là một trong những vị vua cai trị đất nước TQ thịnh vượng và hùng mạnh nhất. Khi gặp được ngài Đạt Ma, ông hỏi "Ta chuyên làm chuyện tốt nhiều như vậy, có công đức không ?". Ngài Đạt Ma trả lời : Không, không có công đức gì !

Còn thời nay ai mà dám nói "không" nhể ?  Hihihi...:-)

PN

-----------




(BÀI THUYẾT PHÁP CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA CHO VUA LƯƠNG VÕ ĐẾ)

(Bản dịch sang tiếng Việt của gs Phạm công Thiện)

Sau đây là bản dịch Bài Thuyết Pháp của Bồ Đề Đạt Ma trong Histoire des Croyances Religieuses et des Opinions Philosophiques en Chine (Depuis l’origine jusquà nos jusquà nos jours) của Léon Wieger (1922).

Đây là bài thuyết pháp đầu tiên của Bồ Đề Đạt Ma tại Trung Hoa. Ngài thuyết giảng ngay tại triều đình của Lương Võ Đế có sự hiện diện của nhà vua và toàn thể văn võ bá quan là những thành phần trí thức ưu tú trong nước. Lương Võ Đế tuy là một ông vua sùng đạo và các quan văn trong triều tuy là những bậc trí thức trong nước, những cũng không lãnh hội và chấp nhận nổi những ý chính trong bài thuyết pháp, một phần vì nhà vua và các quan còn chấp thủ, một phần vì lời thuyết pháp quá ư mạnh bạo, gần như sổ sàng tuy lý luận rất đanh thép, ngôn từ rỏ ràng và cô đọng. Bài thuyết pháp tuy rất ngắn gọn nhưng thật là đầy đủ ý nghĩa, bao gồm được tất cả tinh hoa của giáo pháp Phật và cốt lõi của thiền. Có thể nói cuốn Đạt Ma Huyết Mạch Luận chỉ triển khai những tư tưởng trong bài thuyết pháp nàỵ. Thất bại trong lần thuyết pháp đầu tiên ở Trung Hoa, Bồ Đề Đạt Ma bỏ ra đi. Ngài không thuyết pháp nữa mà ngồi thiền trước một bức tường (bích quán) trong suốt chín năm trời.

Phần thứ nhất: Bản Chất Của Tâm

Cả thế giới được nghĩ trong tâm. Tất cả chư Phật - quá khứ và vị lai - đã và sẽ được tạo thành trong tâm. Sự hiểu biết được truyền từ tâm sang tâm qua ngôn từ nên tất cả những kinh sách chẳng có ích lợi gì. Tâm của mỗi người đồng điệu và tương ứng với thực tại muôn đời, với thực tại muôn nơi. Tâm là Phật không có Phật ngoài tâm. Coi giác ngộ và niết bàn là những sự vật ở ngoài tâm là một điều sai lầm. Không có giác ngộ ở ngoài tâm linh động. Không có chỗ nào gọi là nơi chốn của những người đến niết bàn. Ngoài thực tại của tâm, tất cả đều là huyễn tượng. Chẳng có nhân, chẳng có duyên. Chẳng có lý do, chẳng có kết quả. Chỉ có một thực tại duy nhất. Đó là: Tư tưởng của tâm và sự an nghỉ của tâm chính là niết bàn. Đi tìm một sự vật ngoài tâm là đi tìm bắt hư không. Tâm là Phật và Phật chính là tâm. Tưởng tượng Phật ở ngoài tâm hay hình dung Phật ở ngoài tâm là mê sảng.

Phần Thứ Hai: Phương thức

Vậy phải nhìn vào trong chứ không nhìn ra ngoài. Phải tự lắng vào chính mình để thấy Phật tánh trong chính mình. Tất cả chúng sanh đều là Phật như mình nên mình chẳng cứu ai cả. Không có vị Phật nào hơn mình nên không phải van xin, cầu nguyện ai cả. Không có Phật nào hiểu mình hơn chính mình nên không phải học hỏi trong những kinh sách của các vị ấy. Không có luật pháp nào kiềm hãm được Phật. Một vị Phật không thể sa ngã nên ta không sợ phạm tội. Không có thiện, không có ác. Chỉ có những động tác của tâm. Mà tâm là Phật nên tự tánh không thể lầm lỗi được. Cúng kiến, hoằng pháp, nhiệt thành giữ giới, bố thí cầu kinh và tất cả những thứ khác đều không có ích lợi gì cả. Chỉ cần một điều duy nhất là nhìn thấy Phật nơi mình. Sự nhìn thấy Phật ở nơi mình đưa đến giải thoát, đến niết bàn.

Phần Thứ Ba: Phật Tánh

Không có bất cứ một cuốn kinh nào, không có bất cứ sự tu khổ hạnh nào có thể đưa ta ra khỏi luân hồi. Học kinh và tu khổ hạnh hoàn toàn vô ích, phù phiếm. Không có quyển sách nào đáng cho ta mở ra đọc. Trong sự an tĩnh, vô vi hoàn toàn hãy kiến tánh ở nơi mình, nơi chính tâm mình. Đó mới đúng là Phật. Chỉ học nhìn thấy Phật tánh thôi vì đó là điều duy nhất đáng học. Tất cả những hình tượng khác đều là sương mù, ảo ảnh. Hãy nhìn Phật nơi mình. Đó mới là cái nhìn trung thực duy nhất. Phật tánh ở trong mỗi người và trong tất cả mọi người, Phật tánh đều giống nhau. Khi quên tất cả mọi sự và chỉ giữ lại thực tại duy nhất đó là thoát khỏi vòng luân hồi và tới niết bàn. Tất cả những kẻ thuyết lý đều là trợ thủ của Mara và đưa con người đến chỗ huyễn tưởng. Mọi hệ thống triết học đều hoàn toàn sai lầm và có tính cách lường gạt. Nói đến sự tẩy uế, thiện nghiệp, chuyên tâm và tiến bộ là phỉnh lừa thiên hạ. Mỗi người là Vị Phật của chính mình và của tất cả. Điều ta phải làm cho tới cùng là nhận thức rằng thực tại và chân lý duy nhất ấy tiềm tàng trong mỗi người chúng ta. Không có tội hay đúng hơn chỉ có một tội duy nhất: Đó là tội vô minh, tội không nhận được ra Phật tánh ở chính nơi mình. Tội này rất nặng vì nó giam ta trong cõi vô thường. Thân xác là phù du. Cuộc đời trôi nhanh như một giấc mộng. Trong thời gian ngắn ngủi của cuộc đời ta phải tự giải thoát bằng cách tự khám phá chính hình bóng của mình. Trong giấc mộng đời, ta có thể thấy được thực chất của mình. Trong giấc mộng đời, chính Pháp thân tự hé mở trong bản thể. Đó là thực thể.

Phần Thứ Tư: Pháp Thân

Pháp thân này vĩnh cửu. Trải qua vòng luân hồi, thăng trầm qua vô lượng kiếp, pháp thân vẫn không sinh, không diệt, không thêm, không bớt, không nhơ nhớp, không bị tẩy sạch, không yêu, không ghét, không đến, không đi, không đàn ông, không đàn bà, không già, không trẻ, không tu, không tục, không có, không không. Pháp thân không một mà cũng không nhiều, không thánh mà cũng không phàm. Pháp thân đi vào tất cả không bị trở ngại và không gì ngăn cản được. Pháp thân ung dung trong những kiếp liên tiếp, trong vòng sinh tử.

Chúng sanh và vận mạng của chúng sanh đều qui về pháp thân. Ta thấy pháp thân này ngay trong ta. Ta phải di động và hành động trong ánh sáng của tâm. Pháp thân bao trùm tất cả chúng sanh như sông Hằng giữ nước của nó hằng hà sa số những phân tử phù sa. Ta không thể diễn tả pháp thân được, mà cũng không thể giải thích pháp thân bằng ngôn từ. Mỗi người hãy tự chiêm ngưỡng, lãnh hội pháp thân cho chính mình. Lãnh hội được pháp thân là giải thoát, là giác ngộ. Lãnh hội được pháp thân là ra khỏi sự giao động của thế lực mà đức Thích Ca Mâu Ni gọi là cuồng loạn vĩ đại. Giác ngộ đưa ta vào trong tỉnh lặng hoàn toàn. Người ta phải khám phá chính bản thân mình, khám phá Phật tánh ở mức độ ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ và tư tưởng. Pháp thân vô hình, bất biến và không thể bị hủy diệt. Chẳng có Phật nào khác ngoài pháp thân vì pháp thân ở trong chư Phật. Pháp thân cũng ở trong tất cả mọi người.

Phần Thứ Năm: Tĩnh Tâm

Xin nhắc lại rằng vì tánh chất của pháp thân, ta chẳng cần kinh kệ, chẳng cần cúng tế, thờ phụng mà cũng chẳng tìm cái gì ở ngoài bởi lẽ trong mình ta có tất cả. Tất cả những sự vật bên ngoài đều là hư ảo giả tạm. Chẳng có gì thật ngoài pháp thân. Nguyện cầu những gì sùng bái chính là mình, sùng bái những gì chính là mình là một việc phi lý và vô ích. Điều cốt yếu là làm sao có yên lặng và tĩnh tâm; vì yên lặng, tĩnh tâm giúp ta thấy pháp thân chính nơi ta tức là thấy Phật. Tất cả những biểu tượng giả tưởng, tất cả những biểu tượng vật chất đều sai lầm. Chính sự sai lầm ấy giữ ta lại hoặc đưa ta vào trong vòng luân hồi tái sinh. Không nên sùng bái những hình tượng thoát thai từ nơi mình bởi vì những hình tượng ấy không thuộc pháp thân. Chỉ nên sùng bái những ý tưởng phát ra từ Phật tánh. Phải bỏ tất cả những giả tưởng về thần thánh linh thiêng vì đó chính là những ảo tưởng phù phiếm. Không nên thờ kính những vật giả tưởng đó mà cũng chẳng phải sợ hãi những thứ đó. Cũng nên quẳng bỏ tất cả những ảo ảnh về chư Phật. Ảo ảnh chỉ là những ảo tưởng phù phiếm.

Phần Thứ Sáu: Thiền Luận

Không có gì quí hơn những ý tưởng vô hình của tâm phát ra từ Phật tánh. Chỉ có một điều ta thấy thật sự là: Pháp thân ở nơi Ta. Phật là một tiếng Ấn Độ, không phải tên người và có nghĩa là giác ngộ, linh giác mà mọi người có thể đạt tới được. Sự giác ngộ này chính là thiền. Những kẻ đối nghịch với chúng ta không thể hiểu được giá trị mà chúng ta đem vào danh từ thiền. Thiền không có nghĩa là tham thiền, suy tưởng. Ta chỉ đạt đến thiền khi ta thấy được Phật tánh ở chính mình. Một người đọc vô số kinh luận mà không kiến tánh thì chỉ là kẻ phàm tục tầm thường. Đạo lý ta khó hiểu đối với mọi người vì ngôn từ không đủ khả năng diễn tả được đạo. Chỉ có kẻ nào đạt được mới hiểu. Ta có thể nói với những môn đồ ta như vầy: Các ngươi phải đạt đến Phật tánh nơi các ngươi tức là pháp thân nơi các ngươi. Làm thế nào diễn tả được... và bởi vì không thể nói ra được nên tất cả những kinh luận đều vô ích. Kinh luận chỉ là những câu chuyện phù phiếm, đi quanh vấn đề. Kiến tánh là một hành động giản dị. Kiến tánh không thể chia ra thành từng phần nên ta không thể tri và hành từng phần một. Kiến tánh cũng giống như nuốt một thứ đồ ăn, cũng giản dị và lập tức như thế. Người ta không bao giờ thuyết lý viễn vông chung quanh sự nuốt đồ ăn. Ta biết nuốt hay không biết nuốt. Chỉ có thế thôi! Kẻ nào tưởng tượng một thực tại ngoài Phật tánh bên trong và tìm cách xác định thực tại ấy, kẻ ấy rơi vào sai lầm nghiêm trọng. Tất cả những ý tưởng ngoài ý tưởng về Phật tánh nội tại chỉ là những bóng ma phù phiếm. Chính những ý tưởng đó sinh ra bóng ma, những sai lầm và giữ con người triền miên trong vòng luân hồi. Con người sẽ được giải thoát khi đã phủ nhận tất cả những bóng ma và những sai lầm ấy, đồng thời gắn liền với Phật tánh ở trong nội tại. Giây phút giác ngộ này, giây phút giải thoát này, mỗi người hãy tự mình đi đến. Giáo lý chỉ có thể giúp người ta chuẩn bị. Giáo lý không thể tạo ra giác ngộ. Mộng không thể học được. Chết không thể học được. Lãnh hội Phật tánh nơi chính mình cũng không thể học được. Pháp thân rất giản dị. Ta không thể tạo ra được mà chỉ lãnh hội được. Kẻ nào đã lãnh hội được pháp thân thì không cần thiên đàng, không còn địa ngục, không còn mình, không còn kẻ khác, không còn gì bên ngoài. Vậy việc lãnh hội pháp thân là việc của đức tin tuyệt đối, không mảy may pha lẫn bóng tối ngờ vực. Khi người ta mộng, người ta không bao giờ nghi ngờ bởi vì người ta thấy thực tánh của mình. Trong khi thức, ta cũng phải tin tưởng vững chắc như vậy dù có bị những ảo tưởng của giác quan và những sai lầm của trí tưởng tượng ràng buộc.

Phần thứ bảy: Vô Minh

Đối với những người đã khám phá được bóng hình của mình và không còn bị bất cứ một hệ lụy nào ràng buộc, thì bất cứ một hành động nào của thể xác vật chất cũng không có thể ảnh hưởng đến pháp thân. Một kẻ phàm tục làm nghề đồ tể cũng có thể là một vị Phật. Kẻ nào đã lãnh hội được Phật tánh thì không tạo nghiệp nữa dù làm bất cứ một hành động nào bởi vì kẻ ấy đã giác ngộ. Nghiệp chỉ đeo đuổi những người chưa giác ngộ vì những người đó còn trong vòng u tối vô minh. Chính sự ngu muội này đã tạo ra vòng đầu thai, luân hồi ở địa ngục, làm thú và làm người. Tất cả nợ tinh thần chấm dứt ngay khi giác ngộ phá hủy vô minh. Bậc giác ngộ không làm nên tội lỗi và cũng không phạm tội nữa.

Phần thứ tám: Giác Ngộ

Ta phải giảm dần những ấn tượng, bớt dần tham vọng, (bớt dần) tập trung và an trí. Đó là chuẩn bị. Kinh kệ, tu khổ hạnh, công trình nghiên cứu học hành đều chẳng có lợi ích gì cả. Kiến tánh không thể học được. Tại sao có những người đã chuẩn bị cẩn thận và có thành tâm đứng đắn mà vẫn không kiến được tánh? Bởi vì nghiệp của họ chống đối lại. Sự hôn mê mù quáng của họ, sự sai lầm chai cứng của họ, sự bất lực của họ là những hình phạt về những tội lỗi của họ trong quá khứ. Họ chưa trả hết nợ. Họ chưa đủ trong sạch để đạt được giác ngộ. Đây là nợ tinh thần và nỗ lực cá nhân chứ không phải do địa vị xã hội.

Phần thứ chín: Phật là gì?

Ta đến Trung Hoa để truyền bá tâm ấn, đạo lý mới lạ ở đây chưa ai biết. Phật ở trong tâm mỗi người. Giữ giới luật, tu khổ hạnh, cầu kinh, nghiên cứu nghĩa lý, tất cả những thứ này chẳng dùng được việc gì cả. Mục đích duy nhất mà mọi người phải đạt được là giác ngộ. Khi nào đạt được giác ngộ là thành Phật, một vị Phật như tất cả chư Phật dù cho kẻ ấy không đọc được một chữ nào cả. Thành Phật nghĩa là thấy Phật tánh nơi mình, nơi tâm mình, nơi tâm của tâm mình. Phật tánh vô hình, không thể rờ mó được, bản thể của nó mong manh như hư không. Tâm ấy mọi người đều mang trong mình.

Tâm hỡi, tâm ơi!

Mi lớn đến nỗi bao trùm cả vũ trụ.

Mi nhỏ đến nỗi mũi kim không thể xuyên qua được.

Hỡi tâm của ta! Mi là Phật.

Chính vì mi mà ta phải qua Trung Hoa để giảng truyền đạo lý.

(Phạm Công Thiện dịch)