Sunday, October 11, 2026

Lại chuyện Nobel :-)


Đến hẹn lại lên. Hằng năm, cứ vào đầu tháng 10, khi cái se lạnh của mùa thu bắt đầu tràn về, những trái bí ngô lớn nhỏ đủ màu xuất hiện khắp nơi và những chậu cúc bắt đầu khoe sắc, thì cũng là lúc các giải Nobel danh giá lần lượt được công bố.

Thực ra, công bố thế thôi để bà con còn có dịp bàn luận, vui mừng, hâm mộ, tán thưởng… chứ lễ trao giải chính thức thì phải đợi đến tháng 12, vào dịp kỷ niệm ngày mất của Alfred Nobel. Tất nhiên, ai cũng hiểu rằng sự danh giá của giải Nobel đâu nằm ở số tiền thưởng, mà nằm ở những thành tựu, khám phá và đóng góp của người được trao giải đối với khoa học, văn hóa và nhân loại. Chứ nếu danh tiếng ấy chỉ đơn giản có thể quy ra tiền bạc thì chắc mấy ông trọc phú đại nhân đã mua vài chục cái về đeo lủng lẳng chơi từ lâu rồi :-).

Lễ trao giải Nobel thường được tổ chức tại Stockholm, Thụy Điển. Riêng giải Nobel Hòa bình thì được trao tại Oslo, Na Uy, theo di nguyện của Alfred Nobel và do Ủy ban Nobel Na Uy (Norwegian Nobel Committee) phụ trách.

Bản thân mình năm nào cũng theo dõi mùa Nobel và đặc biệt thích tìm đọc về những công trình, khám phá hay thành tựu của các giáo sư, nhà khoa học, học giả và văn thi sĩ được vinh danh. Với những giải thuộc các lĩnh vực khoa học như Vật lý, Hóa học, Sinh lý học hoặc Y khoa, hay giải Kinh tế, nội dung chuyên môn và những kết quả đóng góp thường được trình bày tương đối cụ thể. Còn Văn chương và Hòa bình thì khác một chút, tiêu chí và cách đánh giá ít nhiều mang tính diễn giải hơn, nên hầu như năm nào cũng có thêm những câu chuyện bên lề, những ý kiến trái chiều, thậm chí những cuộc tranh luận khá sôi nổi.

Có lẽ chính vì vậy mà mỗi mùa Nobel không chỉ là dịp để biết thêm ai vừa được trao giải, mà còn là cơ hội để người ta tò mò tìm hiểu xem họ là ai, đã làm được điều gì, và tại sao những đóng góp ấy lại được thế giới chú ý đến như vậy.

Mở ngoặc một chút. Lâu nay, việc xét chọn và trao các giải Nobel vốn là công việc của những viện hàn lâm và hội đồng chuyên môn. Phần đông chúng ta ở bên ngoài thường chỉ quan tâm xem năm nay ai được xướng tên, công trình hay thành tựu nào được vinh danh, và quan trọng hơn, những đóng góp ấy có ý nghĩa gì đối với tri thức và đời sống của nhân loại.

Tất nhiên, giải thưởng nào cũng vậy, kể cả Nobel, suy cho cùng vẫn là một sự ghi nhận mang tính biểu tượng. Ngoài kia, mỗi ngày vẫn có biết bao công trình nghiên cứu, khám phá, sáng tạo và những đóng góp âm thầm đang diễn ra, từng chút một làm thay đổi cuộc sống con người. Với những nhà khoa học, học giả hay trí thức thực sự, động lực để họ dành cả đời cho công việc chắc chắn không thể chỉ nằm ở một tấm huy chương, một danh hiệu hay một giải thưởng nào đó.

Thực tế, có thể vẫn còn những công trình và những con người có đóng góp vô cùng lớn lao nhưng chưa bao giờ được một giải thưởng danh giá nào gọi tên. Bởi vài giải thưởng mỗi năm, dù danh giá đến đâu, cũng không thể nào chứa hết hay đại diện cho tất cả những thành tựu trí tuệ và những đóng góp thầm lặng của hàng triệu con người trên thế giới.

Bởi vậy, ngay cả một người bình thường cũng có thể hiểu rằng giải thưởng nên được xem như một sự ghi nhận dành cho những đóng góp đáng trân trọng, chứ không phải thứ để người ta tranh giành, hơn thua, hay dùng làm món trang sức tô điểm cho những danh xưng phù phiếm. Sau cùng, giá trị của một công trình hay một đời người có lẽ vẫn nằm ở điều họ thực sự để lại cho con người và xã hội, chứ không chỉ ở những danh hiệu được đặt trước hay sau tên gọi.

Nhớ cách đây vài năm, khi đi dự lễ ra trường của đứa con, mình có dịp nghe một ông giáo sư trẻ, David MacMillan, người từng đoạt giải Nobel Hóa học, kể lại vài mẩu chuyện rất vui về hành trình học hành và chuyện bất ngờ nhận giải Nobel của ông. Điều làm mình ấn tượng nhất là cách ông nói chuyện hết sức bình dân, tự nhiên và hài hước, chẳng hề có vẻ gì muốn đề cao bản thân chỉ vì trên lý lịch đã có thêm hai chữ "Nobel".

Ông còn vui vẻ kể rằng hồi nhỏ, khi còn đi học, mình cũng chẳng thuộc loại học sinh xuất chúng hay thần đồng gì, mà khá bình thường, thậm chí có lúc còn học dở, lo không biết mai mốt sẽ làm gì. Nghe xong mới thấy thú vị, thì ra là vậy, một cậu học trò ngày nào chẳng ai nghĩ là "thiên tài" sau này lại trở thành giáo sư và đoạt Nobel Hóa học. Chứ ông này mà may mắn được sinh ra ở VN, biết đâu sau khi đoạt Nobel, người ta lại lần ngược tiểu sử rồi phát hiện rằng từ năm ba tuổi ông đã có "tư duy vượt trội", năm năm tuổi bộc lộ "tố chất thiên tài", và đến khi vào tiểu học thì đã thuộc dạng "siêu trí tuệ bẩm sinh" rồi cũng nên... :-).

Đùa cho vui thôi, nhân tiện hôm nay mình muốn "bàn loạn" chút về giải Nobel Văn chương, vì lâu nay mình rất thích thú đối với giải thưởng này cũng như các tác phẩm liên quan. Còn "Nobel Hòa bình" thì tạm thời mình không muốn nói đến, vì mấy năm nay thiên hạ trên thế giới đã có quá nhiều tin tức, bút mực nói về câu chuyện bi hài này rồi :-).

Giải Nobel Văn chương năm nay được trao cho bà Anne Carson, một nhà thơ, nhà văn, dịch giả và học giả người Canada, chuyên nghiên cứu văn học Hy Lạp cổ đại. Trước đó, bà cũng từng nhận nhiều giải thưởng văn học danh giá và được xem là một trong những tiếng nói độc đáo của văn chương đương đại. Những sáng tác táo bạo, giàu tính sáng tạo của bà không chỉ đối thoại với truyền thống văn học cổ điển mà còn mở ra những cách kể chuyện và hình thức biểu đạt mới, giúp những câu chuyện tưởng chừng đã thuộc về quá khứ tiếp tục sống trong tâm thức con người hôm nay.

Nhắc đến những học giả dành nhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu và chuyển tải các giá trị văn chương, văn hóa cổ xưa, mình chợt nghĩ đến một vị giáo sư người Mỹ mà mình may mắn có dịp quen biết và học hỏi, T/S E. Henry. Ông nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Yale, sau đó giảng dạy tại một trường đại học danh tiếng ở NC, tiểu bang nơi mình đang sinh sống.

Mình đặc biệt trân trọng những đóng góp của giáo sư Henry qua các công trình nghiên cứu và dịch thuật văn học Việt Nam. Cũng nhờ những công trình ấy, cùng những dịp được trao đổi với ông, mà mình có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về nền văn hóa, văn chương và tư tưởng của cha ông ta ngày trước.

Điều đáng kính phục là ông còn dành hơn hai mươi năm để nghiên cứu và chuyển dịch tác phẩm "Shuoyuan" của TQ, tạm dịch ra tiếng Việt là Thuyết Uyển, thường được biết đến trong tiếng Anh với tên Garden of Eloquence. Đây là một tuyển tập những câu chuyện, giai thoại, cùng các tư tưởng chính trị và đạo đức của TQ cổ đại, được học giả Lưu Hướng (Liu Xiang) biên soạn vào thời Tây Hán. Một công trình dịch thuật như thế không chỉ đòi hỏi kiến thức uyên bác về ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa, mà còn cần cả một sự kiên trì và lòng say mê học thuật hiếm có.

Chưa hết, giáo sư Henry còn là một nghệ sĩ dương cầm, đồng thời có vốn hiểu biết sâu rộng về âm nhạc VN. Bởi vậy, những nhận xét và trao đổi của ông về nhạc Việt, đặc biệt là các nhạc sĩ thuộc hàng cây đa cây đề như Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn, luôn khiến mình cảm thấy thú vị và học hỏi được nhiều điều.

Nghĩ cho cùng, có những người dành cả cuộc đời để sáng tạo nên những tác phẩm mới, nhưng cũng có những người âm thầm dành hàng chục năm để nghiên cứu, dịch thuật và gìn giữ những di sản văn hóa của nhân loại. Dù bằng con đường nào, những đóng góp ấy đều đáng được trân trọng, bởi chính họ đã góp phần nối liền quá khứ với hiện tại, giúp những giá trị văn chương và văn hóa vượt qua ranh giới của ngôn ngữ, thời gian và không gian.

Trở lại câu chuyện giải Nobel Văn chương. Thực ra, từ khi giải thưởng này bắt đầu được trao vào năm 1901 cho đến nay, phần lớn những người được vinh danh vẫn đến từ châu Âu và Mỹ, trong đó Pháp là một trong những quốc gia có số người đoạt giải nhiều nhất. Còn ở những khu vực khác trên thế giới, số người được trao giải ít hơn khá nhiều. Canada, chẳng hạn, nếu tính theo những nhà văn được trao giải với tư cách là người Canada, thì trước Anne Carson năm nay cũng chỉ có Alice Munro.

Nhìn sang châu Á thì danh sách lại càng hiếm hơn. TQ, nếu tính theo nguồn gốc xuất thân, từng có hai nhà văn đoạt Nobel Văn chương, Cao Hành Kiện (Gao Xingjian) năm 2000 và Mạc Ngôn (Mo Yan) năm 2012. Tuy nhiên, trường hợp Cao Hành Kiện khá đặc biệt. Ông sinh ra và trưởng thành tại TQ nhưng sau đó sang Pháp sinh sống và đã có quốc tịch Pháp khi nhận giải Nobel. Nói vui theo cách của người Việt mình thì cũng hơi giống mấy ông “Việt kiều gốc rạ” vậy, nên chuyện tính ông vào thành tích văn chương của TQ hay của Pháp đôi khi còn tùy cách người ta nhìn nhận.

Còn Mạc Ngôn thì đúng nghĩa là một nhà văn TQ, sống và sáng tác tại TQ khi nhận giải Nobel Văn chương năm 2012. Khi ấy, truyền thông nhà nước TQ vui mừng và nhiệt liệt chào đón, bởi đây là lần đầu tiên một công dân TQ được trao giải Nobel Văn chương.

Nhưng điều thú vị là sau khi đoạt giải, Mạc Ngôn lại rơi vào không ít cuộc tranh luận và chỉ trích từ nhiều phía. Một số nhà văn và trí thức bất đồng chính kiến, trong đó có nghệ sĩ Ngải Vị Vị (Ai Weiwei), phê phán ông vì cho rằng ông quá gần gũi với chính quyền và chưa đủ mạnh mẽ trước vấn đề kiểm duyệt. Một trong những câu chuyện gây tranh cãi lúc ấy là thái độ của Mạc Ngôn đối với Lưu Hiểu Ba, người đoạt Nobel Hòa bình năm 2010 nhưng khi đó đang bị cầm tù tại TQ. Mạc Ngôn từng công khai bày tỏ mong muốn Lưu Hiểu Ba sớm được trả tự do, nhưng ông không tham gia một số hoạt động quốc tế vận động cho Lưu Hiểu Ba. Trước những lời chỉ trích, Mạc Ngôn cũng bác bỏ quan điểm cho rằng mình chỉ là một nhà văn phục vụ chính quyền và khẳng định sự độc lập trong sáng tác của mình.

Thế nhưng nhiều năm sau, câu chuyện lại xoay sang một hướng gần như ngược lại. Một số người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tự nhận mình là những người bảo vệ lịch sử và lòng yêu nước TQ, lại quay sang công kích Mạc Ngôn vì cho rằng tác phẩm của ông chưa đủ… “yêu nước”.

Đặc biệt, năm 2024, một blogger theo chủ nghĩa dân tộc tên Ngô Vạn Tranh (Wu Wanzheng) tuyên bố khởi kiện Mạc Ngôn, cáo buộc một số tác phẩm của ông xúc phạm các anh hùng và liệt sĩ TQ làm tổn hại hình ảnh quân đội và Đảng Cộng sản TQ, miêu tả quân Nhật trong chiến tranh theo cách mà người này cho là quá tích cực, thậm chí có những nội dung bị cáo buộc là xúc phạm Mao Trạch Đông. Người khởi kiện còn yêu cầu Mạc Ngôn phải xin lỗi, rút những tác phẩm liên quan khỏi thị trường và bồi thường 1,5 tỷ nhân dân tệ, khi ấy tương đương hơn 200 triệu USD.

Tất nhiên, cần nói cho rõ đó là những cáo buộc từ phía người muốn khởi kiện, chứ không phải kết luận của tòa án. Sau đó thấy diễn biến dài dòng và tào lao quá, mình cũng không theo dõi nữa, không biết đến hôm nay đã xử án chưa :-). Điều đáng chú ý hơn là ngay cả một số nhân vật có quan điểm dân tộc chủ nghĩa ở TQ cũng lên tiếng phản đối việc công kích Mạc Ngôn, vì lo ngại kiểu quy chụp như vậy cuối cùng sẽ gây tổn hại đến môi trường sáng tác văn học.

Thành thử, một nhà văn đoạt Nobel mà đôi khi cũng rơi vào cảnh "trên đe dưới búa", bên này bảo anh quá gần bên kia, bên kia lại trách anh chẳng chịu đứng hẳn về phía mình. Những chuyện kiểu "địch ta, ta địch" như thế này thì có lẽ người VN, dù ở trong hay ngoài nước, đọc đến đây cũng chẳng thấy xa lạ gì cho lắm :-).

Thực ra, những cuộc công kích như vậy cũng chẳng phải chuyện riêng của TQ. Tư tưởng cực đoan thì thời nào cũng có, xã hội nào cũng có, chỉ khác nhau ở mức độ, và quan trọng hơn, ở khoảng không gian mà mỗi xã hội dành cho tự do tư tưởng và tự do biểu đạt. Bởi sáng tác văn chương, nghệ thuật mà lúc nào cũng phải ngó trước nhìn sau, cân đo xem câu chữ của mình có vừa lòng hết bên này lẫn bên kia hay không, thì cuối cùng rất khó còn là sáng tạo nữa.

Nghệ thuật vốn không phải công việc có thể vừa “phùng” vừa “há”, vừa ăn kem lại vừa húp cháo, cố chiều lòng tất cả mọi người cùng một lúc. Nhà văn đôi khi phải có quyền kể cả những câu chuyện khiến người khác khó chịu, đặt những câu hỏi mà xã hội chưa muốn nghe, hoặc nhìn lại lịch sử từ một góc độ khác với những gì vốn đã quen thuộc.

Có lẽ vì vậy, thay vì hỏi tại sao một đất nước có rất nhiều nhà văn, nhà thơ mà vẫn hiếm khi có người được trao giải Nobel Văn chương, một câu hỏi thú vị hơn là - xã hội ấy đã tạo được bao nhiêu không gian cho những tiếng nói thật sự độc lập, khác biệt và sáng tạo? Nobel dĩ nhiên không phải thước đo duy nhất của một nền văn học, nhưng một nền văn chương lớn có lẽ bao giờ cũng cần một khoảng trời đủ rộng để người cầm bút được tự do suy nghĩ, tưởng tượng và kể câu chuyện của mình.

Riêng mình thì lâu nay vốn chỉ hứng thú với khía cạnh văn chương và học thuật của các nhà văn, thi sĩ đoạt giải. Thành thử, mỗi lần thấy thiên hạ đem văn chương ra chính trị hóa tùm lum là mình bắt đầu… oải rồi. Ngán ngẩm lắm! :-)

Tuy nhiên, có một tác phẩm của Mạc Ngôn mà mình khá thích, hiện cũng có bản tiếng Anh bán trên Amazon, đó là Life and Death Are Wearing Me Out (tạm dịch là: Sống chết đoạ đày). Điều thú vị là trong tác phẩm này, Mạc Ngôn mượn khái niệm luân hồi của PG để kể lại những biến động của xã hội TQ qua nhiều thập niên.

Nhân vật chính, sau khi chết, liên tục tái sinh qua những kiếp sống khác nhau, lần lượt mang hình hài của nhiều loài vật. Chính nhờ cách kể đặc biệt ấy mà lịch sử không còn chỉ được nhìn qua con mắt của con người. Qua mỗi kiếp sống, nhân vật lại quan sát xã hội, những biến động của thời cuộc, cùng đủ thứ tham vọng, khổ đau, hài hước và đôi khi rất phi lý trong cách con người đối xử với nhau. Khái niệm luân hồi vì thế không chỉ đóng vai trò như một yếu tố tôn giáo hay triết học, mà còn trở thành một thủ pháp văn chương giúp tác giả thay đổi điểm nhìn để soi chiếu con người và lịch sử.

Mạc Ngôn cũng từng nói về việc ông vận dụng quan niệm luân hồi của PG để nhìn lại những biến động lớn của xã hội TQ trong khoảng nửa thế kỷ. Thành ra, dù có quan tâm đến những tranh luận chính trị quanh ông hay không, mình vẫn thấy đây là một cách kể chuyện khá độc đáo và đáng để suy ngẫm. Bạn nào có thời gian thì tìm đọc thử cho vui. Biết đâu đọc xong lại thấy chuyện con người nhìn qua con mắt của một con lừa, con bò hay con heo đôi khi còn… rõ hơn :-)

Trở lại câu chuyện về những tác phẩm văn học làm nên tên tuổi của Anne Carson, tất nhiên có khá nhiều. Nhưng có một tác phẩm đặc biệt nổi tiếng của bà mà mình thấy rất thú vị, đó là "Autobiography of Red" (tạm dịch là: Chuyện của Đỏ). Đây là một tiểu thuyết bằng thơ, lấy cảm hứng từ thần thoại Hy Lạp, đặc biệt là nhân vật Geryon trong truyền thuyết mười hai chiến công của Heracles. Trong thần thoại cổ, Geryon là một quái vật thường được miêu tả với ba đầu, bị Heracles giết để đoạt đàn bò. Câu chuyện chủ yếu được kể từ góc nhìn của người anh hùng chiến thắng, còn Geryon chỉ xuất hiện như một quái vật cần phải bị tiêu diệt.



Nhưng Anne Carson lại chọn một cách kể hoàn toàn khác. Bà không đặt Heracles ở vị trí trung tâm mà trao tiếng nói cho chính Geryon, kẻ vốn chỉ được nhớ đến như một kẻ phải bị tiêu diệt. Trong tác phẩm của Carson, Geryon trở thành một cậu bé có đôi cánh và thân hình màu đỏ, nhạy cảm, cô độc, mang những tổn thương từ thời thơ ấu, say mê nhiếp ảnh và rồi đem lòng yêu Heracles. Mối tình ấy vừa mãnh liệt vừa đau đớn, để lại những dấu ấn sâu sắc trong hành trình trưởng thành và tìm kiếm bản sắc của Geryon. Điều độc đáo là Carson không đơn thuần kể lại một câu chuyện thần thoại bằng ngôn ngữ hiện đại. Bà còn gợi ra một câu hỏi rất đáng suy ngẫm - Nếu con quái vật có cơ hội tự kể câu chuyện đời mình, liệu chúng ta còn nhìn nó như một con quái vật nữa không ?

Nhớ cách đây mấy tuần, mình có viết cho vui một bài mang tựa đề "Cái danh ba vạn", sau đó nhận được vài email trao đổi về một ý khá thú vị - danh xưng đôi khi không chỉ dùng để gọi tên, mà còn có thể giam giữ, trói buộc và định hình cách người khác nhìn nhận một con người. Nay đọc đến "Chuyện của Đỏ", mình lại thấy có một sự liên hệ đáng suy ngẫm.

Trong thần thoại Hy Lạp, Geryon được định nghĩa bằng hai chữ "quái vật", còn Heracles lại được tôn vinh bằng hai chữ "anh hùng". Một người đại diện cho chiến công, người kia trở thành đối tượng bị tiêu diệt. Người chiến thắng được lưu danh hậu thế, còn kẻ thất bại chỉ được nhắc đến như một phần trong chiến công của người thắng cuộc. Thế nhưng, chỉ cần thay đổi góc nhìn, để Geryon tự kể chuyện đời mình, hai danh xưng ấy bỗng không còn đơn giản như trước.

Hóa ra, con quái vật cũng biết yêu thương, cô đơn, đau khổ và sáng tạo. Còn người anh hùng, dù vẫn là anh hùng, cũng có thể trở thành nguyên nhân của nỗi đau trong cuộc đời một người. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là Anne Carson cố tình biến Heracles thành kẻ ác, hay biến Geryon thành một người hoàn toàn tốt đẹp. Bà làm một điều tinh tế hơn là đặt lại vấn đề về những nhãn hiệu đạo đức mà câu chuyện truyền thống đã gắn lên các nhân vật. Quả nhiên, một người có thể được xem là anh hùng trong mắt người này, nhưng lại mang một hình ảnh hoàn toàn khác trong mắt người kia. Một danh xưng có thể phản ánh cách xã hội nhìn nhận một con người, nhưng chưa chắc đã nói hết con người ấy thực sự là ai.

Nghĩ rộng ra, trong đời sống cũng vậy. Chúng ta thường có thói quen nhìn vào kết quả "thắng - thua" để phán xét đúng - sai, tốt - xấu. Người chiến thắng dễ được ca ngợi, còn kẻ thất bại đôi khi chẳng có cơ hội giải thích câu chuyện từ phía mình. Nhưng thắng một cuộc tranh chấp chưa chắc đã đồng nghĩa với lẽ phải, cũng như thất bại không nhất thiết chứng minh rằng người ta sai trái.

Thế mới thấy cái "danh" đôi khi thật tài tình. Chỉ cần đổi người kể chuyện, một nhân vật từ quái vật có thể trở thành một cá thể đáng thương, đáng hiểu, còn một anh hùng cũng không nhất thiết là hiện thân của mọi điều tốt đẹp. Điều đáng suy ngẫm nhất không phải là ai thắng, ai thua, mà là chúng ta đã nghe được bao nhiêu từ hai phía của câu chuyện trước khi quyết định ai là anh hùng, ai là quái vật. Khi chúng ta gọi một người là anh hùng hay quái vật, liệu chúng ta đang mô tả bản chất của họ, hay chỉ đang kể lại câu chuyện từ vị trí và lợi ích của chính mình?

Bởi trong cuộc đời, bên thua cuộc chưa chắc đã là kẻ xấu, và bên thắng cuộc cũng chưa hẳn là người đại diện cho lẽ phải. Đôi khi, lịch sử chỉ nhớ đến người chiến thắng, nhưng văn chương lại có khả năng trả lại tiếng nói cho những người đã bị lịch sử bỏ quên !

Cũng nhân nói đến giải Nobel Văn chương, mình lại nhớ đến một tác giả mà mình rất yêu thích,  Hermann Hesse. Chắc hẳn nhiều người VN thuộc thế hệ của mình hoặc lớn hơn, từng say mê những tác phẩm như Câu chuyện dòng sông (Siddhartha), Đôi bạn chân tình (Narcissus and Goldmund)… Những cuốn sách ấy một thời được khá nhiều người tìm đọc, không chỉ như những tác phẩm văn chương mà còn như những câu chuyện về hành trình đi tìm ý nghĩa của đời sống.

Điều thú vị là Hesse không phải là một Phật tử theo nghĩa truyền thống, và Siddhartha cũng không phải là cuốn tiểu thuyết kể lại cuộc đời Đức Phật. Nhân vật Siddhartha của Hesse là một con người khác, sống trong thời đại của Đức Phật và cũng đang đi tìm con đường giải thoát cho riêng mình. Thế nhưng ngày nay, đây có lẽ vẫn là một trong những tác phẩm nổi tiếng và được đọc nhiều nhất của Hesse, bởi nó chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Ấn Độ, Phật giáo và những suy tư về hành trình con người đi tìm sự giác ngộ.


Điều mình đặc biệt thích ở Siddhartha là Hermann Hesse đã diễn đạt bằng văn chương một tư tưởng rất gần với tinh thần Phật giáo - chân lý không phải lúc nào cũng có thể được truyền đạt trọn vẹn bằng ngôn ngữ, kinh sách hay giáo lý. Có những điều người khác có thể chỉ cho ta con đường, nhưng cuối cùng chính mình phải bước đi; có những điều có thể nghe, có thể đọc, có thể học thuộc lòng, nhưng nếu chưa từng sống và trải nghiệm thì vẫn chưa hẳn đã thực sự hiểu.

Có lẽ vì vậy mà hình tượng dòng sông trong Siddhartha để lại cho mình nhiều ấn tượng nhất. Dòng sông trước hết là thiên nhiên, nhưng đồng thời cũng là thời gian, là vô thường, là sự sống luôn vận động mà dường như vẫn hiện hữu trong một thể thống nhất. Nước cứ trôi, mỗi khoảnh khắc đều khác, nhưng dòng sông vẫn là dòng sông ấy. Quá khứ, hiện tại và tương lai tưởng như tách biệt, cuối cùng lại cùng hiện diện trong một dòng chảy.

Và có lẽ điều sâu sắc nhất mà Siddhartha học được từ dòng sông không nằm trong một bài giảng hay một pho kinh nào cả. Anh học bằng cách ngồi xuống, im lặng và lắng nghe. Đến một lúc nào đó, tiếng nước không còn chỉ là tiếng nước, mà trở thành tiếng nói của muôn vàn cuộc đời, của sinh và tử, gặp gỡ và chia lìa, đau khổ và hạnh phúc. Tất cả cùng chảy trong một dòng sông của sự sống !

Có những điều, suy cho cùng, ngôn ngữ chỉ có thể giới thiệu cho chúng ta đến bên bờ. Còn muốn hiểu được dòng sông hoặc bơi qua sông, chính mình phải bước xuống nước.

À, nhớ lúc đọc "Chuyện của Đỏ" (Autobiography of Red) của Anne Carson, mình chợt nghĩ ngay đến chuyện Lạc Long Quân diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh và Mộc Tinh trong Lĩnh Nam Chích Quái của Việt Nam ta. Mình thầm nghĩ nếu như một ngày nào đó, những Ngư Tinh, Hồ Tinh hay Mộc Tinh ấy được trao quyền kể lại câu chuyện bằng chính tiếng nói của họ thì sẽ ra sao? Biết đâu, từ những "quái vật" bị người anh hùng Lạc Long Quân tiêu diệt, ta lại khám phá ra một câu chuyện hoàn toàn khác về con người, thiên nhiên và cách người xưa nhìn thế giới quanh mình ?

Nhìn lại, VN ta vốn vẫn tự hào là một đất nước "ra ngõ gặp anh hùng", "ra ngõ là đụng ngay văn sĩ, thi sĩ". Vậy thì biết đâu, vào một sáng mùa thu tháng mười nào đó, chúng ta lại được nghe tin giải Nobel Văn chương gọi tên một người VN. Chuyện ấy đâu phải hoàn toàn không thể. Thôi thì cứ hy vọng vậy đi, có còn hơn không :-).

Thôi, dài quá rồi, chắc mình tạm dừng nơi đây. Hôm nay con gái được nghỉ giữa kỳ về thăm nhà vài ngày, ông bố phải lo dọn dẹp nhà cửa, lau chùi, nấu ăn, đón con. Thân chúc các bằng hữu một cuối tuần an vui hạnh phúc .

PN (10/2026)

No comments:

Post a Comment

Comments: