Mấy tháng qua, thiên hạ râm ran tranh luận khá nhiều về câu chuyện “dùng người” trong xã hội ngày nay. Tất nhiên, đề tài này thì nói bao giờ cho hết. Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, chuyện nhìn người, chọn người và dùng người vẫn luôn là một phần quan trọng của việc trị quốc, an dân.
Gần đây, khi nhiều cuộc xung đột và chiến tranh xảy ra trên thế giới, điểm mạnh, điểm yếu của từng quốc gia, từng vị nguyên thủ, rồi cả các "quân sư quạt mo", thượng thư bộ nọ bộ kia… cũng phần nào bộc lộ rõ hơn. Bởi vậy, chuyện "dùng người" không chỉ là chuyện trị dân, trị nước trong thời bình, mà còn thể hiện ở khả năng ứng phó với khủng hoảng, hóa giải mâu thuẫn và đôi khi quyết định cả thành bại trong chiến tranh, an ninh khu vực lẫn cục diện thế giới. Thành ra, hai chữ "dùng người" lại càng trở thành đề tài nóng hổi, khiến thiên hạ bàn tới bàn lui mãi không thôi :-).
Nghĩ cho cùng, thời buổi này truyền thông và mạng xã hội lúc nào lại chẳng khao khát đề tài ? Không có chuyện giật gân này thì lại có chuyện xung đột, chém giết hay xì-căng-đan khác. Chuyện đời thì cứ đến rồi đi, chẳng có gì thường hằng, nên nhớ quên, trúng trật, thêm bớt đôi chút cũng là chuyện thường tình.
Ngẫm lại, cái tâm con người đôi khi cũng giống như chiếc TV đời cũ, mỗi ngày trình chiếu không biết bao nhiêu bộ phim. Phim buồn thì khóc, phim vui thì cười, phim ma thì sợ... Có khi phim hay, tình tiết hấp dẫn, ta nhập vai sâu quá đến nỗi quên mất mình chỉ đang xem phim, rồi cứ ngỡ những gì hiện trên màn ảnh là đời thật. Đến khi phim hết, chiếc TV lại trở về với chính nó, vẫn là cái màn hình ấy. Có người còn lưu luyến mãi chút dư âm, có người thoáng chốc đã quên. Rồi ngày mai, màn hình lại sáng lên, và những bộ phim khác lại bắt đầu…!
Hôm nay rảnh rang, xin phiếm bàn đôi chút về một vài câu chuyện dùng người ngày xưa. Viết cho vui, đọc cũng cho vui thôi. Lan man chuyện xưa chuyện nay, coi như một chút "ôn cố tri tân" vậy :-)
Mỗi lần đọc lại lịch sử, ta thường nhớ đến những vị vua anh minh, những danh tướng hay những bậc anh hùng làm nên một thời đại. Nhưng phía sau mỗi tên tuổi lớn, thường có rất nhiều con người khác ít được nhắc đến. Những mưu sĩ, tướng lĩnh, quan lại, học giả và đôi khi cả những con người xuất thân rất bình thường mà tài năng của họ được nhận ra và được đặt vào đúng chỗ. Bởi vậy, khi nghĩ về chuyện hưng vong của một quốc gia, có lẽ không thể không nghĩ đến hai chữ "dùng người".
Tất nhiên, vai trò của người lãnh đạo bao giờ cũng vô cùng quan trọng, nhưng người đứng đầu chưa chắc phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực. Có khi tài năng lớn nhất của họ lại nằm ở chỗ biết mình không thể làm được tất cả; biết tìm người làm được những điều mình không làm được; biết đặt họ vào đúng chỗ; và quan trọng hơn, đủ bản lĩnh để tin dùng người tài mà không đòi hỏi người ấy phải giống mình.
Có những chuyện xưa mà chưa bao giờ cũ. Thử điểm lại vài điển tích… từ chuyện người cho đến chuyện ta !
Khương Tử Nha, cụ già câu cá chờ thời.
Một cụ già ngoài bảy mươi kiên nhẫn ngồi câu cá chờ minh quân, chờ thời cơ phụng sự - Khương Thượng Lã Vọng. (Nhớ lưu ý là không phải ông chủ quán chả cá Lã Vọng ăn với bún, rau thì là, và mắm tôm nghen :-)).
Trong ký ức văn hóa phương Đông, hình ảnh Khương Tử Nha ngồi câu bên sông Vị đã trở thành một điển tích đẹp về cuộc gặp gỡ giữa người hiền tài và người biết nhận ra hiền tài. Ông đã cao tuổi mà vẫn thản nhiên chờ đợi mỗi ngày. Còn bây giờ, bạn bè mình có người chưa tới tuổi về hưu mà đã than thở già nua rồi :-).
Rồi cuối cùng Khương Tử Nha gặp được Cơ Xương Tây Bá Hầu, người sau này được tôn là Chu Văn Vương. Khương Tử Nha trở thành vị khai quốc công thần vĩ đại nhất của triều Chu, góp phần đặt nền móng cho sự nghiệp của một vương triều tồn tại hơn tám thế kỷ.
Bỏ qua những lớp huyền thoại được bồi đắp qua hàng nghìn năm, điều làm câu chuyện ấy sống mãi có lẽ không nằm ở chiếc cần câu, mà ở cuộc gặp gỡ giữa một người có tài và một người có khả năng nhận ra tài năng ấy.
Người tài có thể chờ minh chủ. Nhưng minh chủ cũng phải có con mắt nhận ra người tài. Bởi tài năng không phải lúc nào cũng xuất hiện với một "lý lịch tốt", một xuất thân thuận lợi, hay trong hình hài tai to mặt lớn, mũi lân mép rồng, tai trâu lưng rùa, như phong thủy tướng số mong đợi. Nếu người lãnh đạo chỉ tìm những người cùng quá khứ, cùng quan hệ, cùng làng, cùng đảng, dân chủ, cộng hòa, hay ma-ga ma-giếc gì đó, hoặc cùng cách nghĩ và chỉ nói theo những gì mình muốn nghe, thì rất có thể là người tài vẫn còn ở đó, nhưng chẳng bao giờ bước qua nổi… cái vòng gửi xe :-).
Câu chuyện thứ hai là Tề Hoàn Công và Quản Trọng, từ đối nghịch đến trị quốc.
Nếu chuyện Khương Tử Nha nói về khả năng nhận ra người tài, thì chuyện Tề Hoàn Công trọng dụng Quản Trọng lại đặt ra một câu hỏi khó hơn - Liệu ta có thể dùng một người từng đứng ở phía đối nghịch với mình hay không?
Quản Trọng vốn phò Công tử Củ, đối thủ của Công tử Tiểu Bạch, người sau này trở thành Tề Hoàn Công. Trong cuộc tranh giành quyền lực, theo sử truyện, Quản Trọng từng bắn tên vào Tiểu Bạch và suýt lấy mạng ông. Nếu xét theo tư thù theo kiểu "nợ máu", thì Quản Trọng rõ ràng là người đích thân bắn nhà vua. Nếu xét theo "lý lịch", thì ông cũng chẳng thuộc về bên thắng cuộc, mà là người của "thế lực thù địch".
Nhưng Bào Thúc Nha hiểu tài Quản Trọng và tiến cử ông. Điều đáng nói hơn là Tề Hoàn Công có thể bước qua hiềm khích cá nhân và thành kiến ta–địch để trọng dụng một người từng đứng ở phía đối nghịch. Quản Trọng sau đó trở thành nhân vật trung tâm trong những cải cách giúp nước Tề hùng mạnh; Tề Hoàn Công trở thành một trong những bá chủ nổi tiếng thời Xuân Thu.
Hơn hai nghìn năm sau, câu chuyện ấy vẫn đáng để suy nghĩ.
Bởi nếu ngày đó Tề Hoàn Công chỉ hỏi "Người này trước đây thuộc phe nào?", thì có lẽ đã không có một Quản Trọng của nước Tề. Nhưng ông đã đặt được một câu hỏi lớn hơn- "Người này có thể làm gì cho nước Tề?"
Khoảng cách giữa hai câu hỏi ấy có lẽ cũng chính là khoảng cách giữa tư duy phe phái địch-ta, và tư duy trị quốc vì quốc gia và dân tộc. Và cũng chính khoảng cách đó đã làm nên lịch sử vĩ đại của một thể chế.
Trong lịch sử nước ta cũng không hiếm những câu chuyện như thế. Ở đây mình chỉ nhắc đến hai nhân vật mà mình đặc biệt kính trọng, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi. Cách họ nhìn người, dùng người và đặt đại cuộc lên trên cái riêng vẫn để lại nhiều điều đáng suy ngẫm cho hậu thế.
Trần Hưng Đạo, dùng người vì đại cuộc.
Nhắc đến những cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, người ta nhớ đến Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Nhưng phía sau một tên tuổi lớn đó là cả một tập hợp những con người rất khác nhau và một nghệ thuật dùng người trong sáng vì quốc gia, dân tộc.
Chuyện ông gạt bỏ hiềm khích để cùng Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, chung lo việc nước; trọng dụng những người có tài xuất thân bần hàn như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô… cho thấy một khả năng đáng nể trong việc quy tụ con người quanh đại cuộc.
Ngoài lề chút. Có lần mình hỏi một người quen có biết “Ngũ Hổ Tướng” ngày xưa không. Anh ta trả lời vanh vách Trương Phi, Quan Công, Triệu Tử Long, Mã Siêu, Hoàng Trung. Nhưng hỏi đến Nguyễn Địa Lô, Yết Kiêu, Dã Tượng, Cao Mang, Đại Hành… thì anh lắc đầu, chưa nghe bao giờ. Riêng vụ này chắc phải cảm ơn các anh nhà đài và phim bộ VH lịch sử đã có công trình chiếu từ nhiều năm nay :-)!
Những con người quanh Hưng Đạo Vương không giống nhau về xuất thân, địa vị hay tính cách. Có người từ chốn dân gian bước lên hàng danh tướng; có người từng trải qua những thăng trầm, lỗi lầm nhất thời như Trần Khánh Dư, nhưng vẫn được trao cơ hội khi đất nước cần đến tài năng của họ.
Đứng trước hiểm họa chung, câu hỏi quan trọng nhất không còn là "Anh sinh ra trong gia đình nào? Anh thuộc phe nào? Anh có hoàn toàn giống ta trong mọi suy nghĩ hay không?" Mà là "Anh có tài gì, và tài ấy giúp được gì cho việc nước?".
Có lẽ đó là một nguyên tắc căn bản của nghệ thuật dùng người — không tìm một con người hoàn hảo, bởi trên đời vốn chẳng ai hoàn hảo, mà biết sở trường của từng người, đặt họ vào đúng chỗ và để tài năng ấy phục vụ một mục đích lớn hơn chính họ.
Nhiều người cho rằng trên thế giới hiện nay có nhiều chính phủ chỉ tập trung sử dụng những con người trung thành với lãnh đạo, hoặc lợi ích đảng phái mà thôi . Câu hỏi đặt ra là: trung thành với ai ? Và "trung thành" có phải là tiêu chuẩn cần thiết của việc dùng người không?
Tất nhiên, trong mọi tổ chức và mọi quốc gia, lòng trung thành và sự đáng tin cậy đều có giá trị. Không ai có thể làm việc lớn với những người hoàn toàn không đáng tin. Nhưng vấn đề trở nên phức tạp khi ta hỏi:
Trung thành với ai?
Với một cá nhân? Một phe phái? Một nhóm lợi ích? Hay trung thành với trách nhiệm, pháp luật, nhân dân và lợi ích lâu dài của đất nước?
Những điều ấy đôi khi đi cùng nhau, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Một người luôn nói "dạ vâng" có thể rất trung thành với cấp trên, nhưng chưa chắc đã trung thành đối với công việc chung, hay đối với đất nước. Ngược lại, một người dám nói "không" có thể khiến người lãnh đạo khó chịu, nhưng đôi khi chính họ đang cố ngăn một quyết định có hại cho đất nước. Và một người từng thuộc một phía khác, có quá khứ hay xuất thân khác, chưa chắc vì thế mà lòng yêu nước của họ ít hơn bất cứ ai.
Có lẽ vì vậy, một nền trị quốc khôn ngoan phải biết phân biệt lòng trung thành với một con người, và lòng trung thành với những điều lớn hơn con người. Điều đáng suy nghĩ là khi việc lựa chọn con người đã không còn bắt đầu bằng câu hỏi "người này có khả năng gì?", mà bằng những câu hỏi về đảng phái, lý lịch gia đình, nguồn gốc, quan hệ, phe nhóm hay những định kiến được truyền lại từ quá khứ.
Trong xã hội ngày nay, đôi khi người ta vẫn bắt gặp cách dùng người dựa trên lợi ích nhóm, quan hệ, lý lịch, đảng phái và lòng trung thành nhiều hơn tài năng. Ngay cả những đất nước văn minh dân chủ như Hoa Kỳ, trong những năm gần đây, người ta vẫn nhận thấy hiện tượng này từ các vị trí chủ chốt được bổ nhiệm hoặc trong các lần ủng hộ bầu bán.
Dĩ nhiên, đối với những vị trí quan trọng, nhân cách, quá trình sống, sự đáng tin cậy và tinh thần trách nhiệm đều cần được xem xét. Nhưng nếu lý lịch gia đình hay sự gần gũi với một phe nhóm trở thành thước đo thay thế cho năng lực và phẩm chất cá nhân, xã hội rất dễ đánh mất người tài chỉ vì họ không sinh ra từ "đúng" hoàn cảnh.
Không ai được lựa chọn cha mẹ mình. Cũng không ai được lựa chọn mình sinh ra ở phía nào của một biến cố lịch sử. Và không nên bắt một thế hệ mãi mang trên vai những phán xét dành cho thế hệ trước. Nếu một xã hội cứ phân loại con người bằng quá khứ của gia đình họ thay vì tài năng, nhân cách và những gì chính họ đang đóng góp, những đường ranh lịch sử sẽ rất khó thực sự khép lại.
Khi ấy, điều mất đi không chỉ là cơ hội của một vài cá nhân, mà quốc gia cũng tự làm nghèo nguồn nhân lực của chính mình.
Thực tế, có một cách nói rất quen, đó là "người của mình". Trong đời sống riêng, chẳng có gì đáng nói. Nhưng khi bước vào việc công, bốn chữ ấy có thể trở nên nguy hiểm nếu chúng trở thành tiêu chuẩn lựa chọn con người. Bởi một quốc gia không thể được xây dựng chỉ bằng "người của tôi", "người của anh", "người phe này" hay "người phe kia".
Mà điều cần tìm phải là "Người của việc." !
Khoảng cách từ "người của ta" đến "người của việc" đôi khi có thể làm thay đổi vận mệnh một đất nước.
"Người của việc" là người có khả năng làm được công việc ấy, hiểu trách nhiệm của vị trí ấy, dám nhận trách nhiệm khi mình sai; và quan trọng hơn, hiểu rằng quyền lực được trao cho mình không phải để phục vụ người đã bổ nhiệm mình, mà để thực hiện trách nhiệm mà chức vụ ấy đại diện.
Khi "người của mình" được đặt trên "người của việc", bè phái rất dễ hình thành. Mà bè phái một khi hình thành thì lòng trung thành cũng dần thay đổi đối tượng. Người ta không còn bảo vệ nguyên tắc mà bảo vệ lẫn nhau; không còn hỏi điều gì đúng mà bắt đầu hỏi điều gì có lợi cho nhóm mình. Khi ấy, người tài nhưng không thuộc phe sẽ đứng ngoài. Người có ý kiến khác sẽ dần im lặng. Người biết nói những điều cấp trên muốn nghe lại dễ tiến lên !
Và nguy hiểm hơn cả, cuối cùng người đứng đầu chỉ còn nghe tiếng nói của chính mình vọng lại từ những người chung quanh.
Vậy thì người lãnh đạo có cần người bất đồng với mình không ? Có lẽ là có. Mình thì nghĩ là rất cần. Thậm chí, quyền lực càng lớn thì càng cần!
Người xưa có khái niệm "can gián" bởi họ hiểu một điều rất đơn giản, người đứng đầu cũng là con người, mà đã là con người thì ai cũng có thể sai. Ngay cả những nhân vật được thiên hạ gán ghép là "gian hùng" như Tào Tháo, lúc nào cũng có vài quân sư chuyên can gián. Thế mà thời nay, nhiều ông trùm đứa nào đứng ra can gián, ngày mai đuổi việc, hoặc kêu lính điều tra bắt bớ, thì còn ai dám can gián nữa ? :-)
Thực ra, quyền lực không làm cho một người bớt sai. Đôi khi nó chỉ khiến người khác khó nói cho người ấy biết rằng họ đang sai. Bởi vậy, một người lãnh đạo có mười người luôn đồng ý với mình chưa chắc may mắn bằng người có bên cạnh một người đủ trung thực để nói - "Việc này không nên làm!"
Nhưng giữ được một người như thế bên cạnh lại đòi hỏi một thứ bản lĩnh khác mà không phải người lãnh đạo nào cũng có. Đó là khả năng chịu đựng sự bất đồng, và khả năng đối diện với lỗi lầm của bản thân.
Người thiếu tự tin thường xem phản biện là thách thức đối với quyền lực. Người có bản lĩnh lại có thể xem nó như hàng rào bảo vệ mình khỏi những sai lầm của chính mình. Vì vậy, đôi khi người trung thành nhất không phải là người luôn đứng sau ta dạ bẩm, mà là người dám đứng trước mặt ta và nói điều ta không muốn nghe, khi họ tin điều ấy cần thiết cho việc chung.
Mình thường nói đùa ông nào làm vua, làm tổng thống mà chung quanh toàn nịnh thần thì thật ra là kém may mắn chứ sướng ích gì !
Mà nói đến chuyện "dùng người, giữ người", có lẽ khó bỏ qua một nhân vật lịch sử mà mình rất kính trọng, Nguyễn Trãi. Một con người tài năng, công trạng lớn lao, yêu dân thương nước, nhưng lại phải trải qua quá nhiều nghiệt ngã, đắng cay!
Nếu Lê Lợi là người tập hợp lực lượng, dựng cờ khởi nghĩa và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh, thì Nguyễn Trãi đem đến cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn một sức mạnh khác, sức mạnh của trí tuệ, ngôn từ, chiến lược và trên hết là một tư tưởng về ý nghĩa của việc giành lại đất nước.
Ngay đầu Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết - "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân."
Chỉ mấy chữ ấy thôi mà dường như đã đặt ra một câu hỏi căn bản cho mọi việc trị quốc: Quyền lực cuối cùng thực sự để làm gì?
Nếu chiến thắng chỉ để thay một người cầm quyền bằng một người cầm quyền khác thì dân chúng được gì? Nếu giành được thiên hạ mà dân vẫn khổ, xã hội vẫn bất an, người có tài không được trọng dụng, người nói thật không được lắng nghe, thì thành công của người trị quốc rốt cuộc có ý nghĩa bao nhiêu?
Bởi vậy, hai chữ "yên dân" có lẽ là một trong những thước đo cao nhất của thuật dùng người. Dùng người không chỉ để thắng một cuộc chiến, xây dựng quyền lực hay tạo nên một đội ngũ tuyệt đối trung thành với người đứng đầu, hoặc ban bố một danh xưng địa vị nào đó. Mà dùng người, cuối cùng, là để làm được việc có ích cho dân, cho nước.
Nhìn từ đó, mối quan hệ giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi càng đáng suy ngẫm. Một người có sức mạnh tập hợp và lãnh đạo; một người có trí tuệ chiến lược và khả năng đem lại nền tảng tư tưởng cho cuộc đấu tranh giành độc lập.
Có lẽ những thời khắc đẹp nhất của lịch sử thường xuất hiện khi quyền lực biết tìm đến trí tuệ, và trí tuệ có cơ hội phụng sự một mục đích lớn hơn cái tôi, cái "ngã" của chính mình !
Nhưng cuộc đời Nguyễn Trãi cũng để lại một câu hỏi buồn hơn về số phận người hiền tài. Sau khi đại cuộc thành công, cuộc đời ông trải qua nhiều thăng trầm chốn quan trường. Lê Lợi mất năm 1433. Chín năm sau, dưới triều Lê Thái Tông, vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 khiến Nguyễn Trãi cùng nhiều người trong gia tộc chịu một bản án thảm khốc. Mãi đến năm 1464, dưới triều Lê Thánh Tông, ông mới được minh oan.
Đọc đến đây, người đời sau khó tránh khỏi ngậm ngùi. Một con người từng đem tài năng, trí tuệ và cuộc đời mình góp phần dựng nên một triều đại, cuối cùng lại trở thành nạn nhân của những biến động quyền lực trong chính triều đại ấy. Mình thì ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng PG, nên luôn quan niệm rằng không có bùn sẽ không có sen. Nghịch cảnh chính là môi trường tốt nhất cho những đóa sen cao quý nhất !
Và cũng chính từ bi kịch đó, câu chuyện “dùng người” dường như cần thêm hai chữ: "giữ người".
Tìm được người tài đã khó. Dùng được người tài càng khó. Nhưng tạo được một môi trường để người tài có thể sống, làm việc, nói thật và phụng sự lâu dài mà không phải luôn lo sợ trước nghi kỵ, đấu đá giữa các biến động quyền lực, thì có lẽ còn khó hơn nhiều lần so với việc kêu gọi người tài.
Một quốc gia không thể chỉ cần người tài khi lâm nguy rồi để họ trở nên lạc lõng lúc thái bình.
Trong chiến tranh, người lãnh đạo thường dễ nhìn thấy giá trị của người tài, bởi phía trước có một kẻ thù chung, mục tiêu sống còn rõ ràng và mọi tài năng đều cần được huy động. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, một thử thách khác bắt đầu.
Không còn kẻ thù bên ngoài, con người rất dễ quay sang tranh giành quyền lực với nhau. Không còn mục tiêu sinh tử chung, những khác biệt về quan điểm, xuất thân, phe nhóm và quyền lợi lại có thể trở nên lớn hơn. Và đôi khi, chính trong thời bình, cái tâm và cái tầm của người trị quốc mới thực sự bị thử thách !
Thiết nghĩ, nếu "thuật dùng người" chỉ được hiểu như một kỹ năng quản trị thì vẫn còn quá hẹp. Phía sau nó phải có cái tâm và cái tầm. Có tầm, người lãnh đạo mới nhận ra đất nước rộng hơn phe phái của mình, tương lai dài hơn một nhiệm kỳ hay một đời người, và người có tài không nhất thiết phải giống mình.
Có tâm, người lãnh đạo mới có thể vượt qua yêu ghét cá nhân, định kiến về xuất thân và những vết thương quá khứ để nhìn một con người bằng chính năng lực, nhân cách và những gì họ có thể đóng góp cho việc chung.
Có tầm mà thiếu tâm, người tài có thể chỉ trở thành công cụ của quyền lực. Có tâm mà thiếu tầm, thiện ý đôi khi cũng chưa đủ để trị quốc.
Nhiều nhà nghiên cứu, học giả cho rằng tư tưởng của Nguyễn Trãi "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" là nơi thuật dùng người gặp đạo trị quốc.
Người tài không sinh ra để làm đẹp cho triều đình, tô điểm thành tích của người cầm quyền hay chứng minh sự sáng suốt của một vị minh chủ. Người tài được trọng dụng, suy cho cùng, là để tài năng ấy trở thành điều có ích cho xã hội. Và quyền lực, nếu cần một lý do chính đáng để tồn tại, thì lý do cuối cùng có lẽ cũng không nằm ở chính quyền lực. Nó nằm ở những con người mà quyền lực ấy có trách nhiệm phụng sự.
Nhưng chiêm nghiệm một cách rốt ráo, thì thực ra dùng người, cuối cùng cũng chính là dùng lòng mình! Bởi tâm của mỗi người là tấm gương phản chiếu tư duy và các ứng xử bên ngoài của họ.
Cho dù Đông hay Tây, cổ hay kim, chuyện dùng người cuối cùng vẫn quay về chính bản thân người lãnh đạo. Một ông vua, bà chúa dù tài cán đến đâu, một tổng thống hay lãnh đạo dù có là "thiên sứ nhà trời sai xuống", mà không biết nhìn người, dùng người và giữ người, thì sớm muộn cũng khó tránh khỏi rối ren, thậm chí tan hoang. Lịch sử nhân loại hàng nghìn năm đã cho thấy điều ấy. Có nhờ may mắn, "long mạch", phong thủy gì đó mà kéo dài thêm được đôi chút thì cũng chỉ là gượng gạo, cuối cùng khổ mình, khổ người :-).
Bởi vậy, nghệ thuật dùng người không chỉ nằm ở khả năng đánh giá người khác, mà còn là phép thử đối với chính cái tâm, cái tầm và bản lĩnh của người cầm quyền.
Muốn trọng dụng người từng bất đồng với mình, phải vượt qua tự ái.
Muốn trao quyền cho người giỏi, phải vượt qua nỗi sợ bị lu mờ.
Muốn nghe lời trái ý, phải vượt qua nhu cầu luôn được xác nhận, ca tụng rằng mình đúng.
Và muốn đặt lợi ích đất nước lên trên phe phái, đôi khi phải đủ can đảm để đặt quyền lợi của chính phe mình xuống phía sau.
Bởi thế, cái khó của dùng người có khi không nằm ở chỗ thiên hạ có người tài hay không. Người tài thời nào cũng có. Cái khó là người cầm quyền có nhận ra họ không, có dung được họ không, có dám giao việc cho họ không, và có chấp nhận rằng họ không nhất thiết phải trở thành "người của mình" hay không ?
Khương Tử Nha gặp Cơ Xương. Quản Trọng gặp Tề Hoàn Công. Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô… mà gặp thời đại hôm nay cũng chưa chắc có thể làm nên được điều gì. Không ai bảo đảm được điều đó cả. Đó gọi là duyên khởi, duyên sinh !
Ngày nay, một quốc gia hiện đại tất nhiên không thể chỉ trông chờ vào vài "minh quân" hay "hiền thần". Xã hội cần luật pháp, thể chế minh bạch, cơ chế tuyển chọn công bằng và trách nhiệm giải trình để việc dùng người không phụ thuộc hoàn toàn vào sự sáng suốt hay yêu ghét của bất kỳ cá nhân nào.
Nhưng bài học của người xưa có lẽ vẫn còn nguyên giá trị. Một đất nước mạnh không phải là đất nước mà mọi người đều suy nghĩ giống nhau. Cũng không phải nơi những người giữ trọng trách đều có cùng xuất thân, cùng lý lịch hay cùng thuộc một phe. Sức mạnh của một quốc gia có lẽ nằm ở khả năng quy tụ những con người khác nhau quanh một việc chung, để khác biệt không trở thành lý do để loại trừ nhau, mà trở thành những nguồn trí tuệ bổ sung cho nhau.
Cuối cùng, người lãnh đạo giỏi không phải là người tạo ra thật nhiều người trung thành với mình, mà là người có khả năng quy tụ được thật nhiều người trung thành với trách nhiệm, với việc chung, với nhân dân, với đất nước và dân tộc.
Và có lẽ thước đo đẹp nhất của nghệ thuật dùng người vẫn nằm trong một câu hỏi rất giản dị:
Khi đứng trước một người có tài nhưng không thuộc về "phe mình", ta nhìn thấy quá khứ và sự khác biệt của họ trước, hay nhìn thấy điều họ có thể đóng góp cho tương lai của đất nước trước? Câu trả lời cho câu hỏi ấy ngày xưa có thể góp phần quyết định sự hưng vong của một triều đại. Ngày nay, nó vẫn nói lên rất nhiều điều về cái tâm, cái tầm và tầm vóc của một nền trị quốc.
Thôi, chỉ phiếm chút cho vui, chứ cũng chẳng có ý “chính chị, chính em” gì ở đây. Cũng sắp đến giờ đi hái rau nấu cơm rồi :-)
Tạm dừng. Thân chúc quý anh chị em, bằng hữu một tuần mới an vui, hạnh phúc!





.jpg)


.jpg)


