Xưa nay nếu có ai hỏi mình nhân vật nào vĩ đại nhất của TQ, thì mình sẽ không chút đắn đo nói ngay rằng đó là Ngài Huyền Trang (Xuanzang). Quả nhiên đối với mình nhân vật lịch sử đáng kính nhất của TQ chẳng phải là Lưu Bang, Lý Thế Dân, Chu nguyên Chương, Hạng Võ, Tần Thuỷ Hoàng .....càng không phải là Mao Trạch đông, Đặng tiểu bình, mà là nhà sư Tam Tạng. Nhân hôm nay nhắc đến chuyện "con đường tơ lụa" của TQ, lại nghĩ đến Ngài.
Trước hết phải nhắc sơ qua về con đường tơ lụa (Silk Road) để nhiều người tiện theo dõi. "Con đường tơ lụa" (Silk Road) của TQ đuợc cho rằng đã có từ thời nhà Hán, người TQ tạo ra như những con đường mòn để đem tơ lụa và các hàng hoá khác qua bán cho các nước, chủ yếu là Trung Đông và Châu Âu. Những con đường mòn này ngày càng được mở rộng và dài hơn. Từ sau thế kỷ 12,13 trở đi các nhà thám hiểu châu Âu cũng đã sử dụng Silk Road để trao đổi hàng hoá ngược lại với TQ. Rồi đến thời kỳ cận đại, khi các phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ thì vai trò của những con đường đó không còn quan trọng nữa. Thế nhưng trong những năm gần đây, thì nhà cầm quyền TQ lại rầm rộ đưa ra những chiến thuật và kế hoạch đầy tham vọng "một vành đai một con đường", với dụng ý thiết lập hệ thống thuỷ bộ bao trùm cả thế giới, dựa theo lý thuyết của con đường tơ lụa ngày xưa. Nhiều kế hoạch đã được triển khai như xây dựng tuyến xe lửa tốc hành kết nối đa quốc gia, ngang ngược cưỡng chiếm vùng biển của các nước nhỏ, thiết lập bẫy nợ ở các nước nghèo, vay mướn đặc khu kinh tế trên các trục lộ trọng điểm .... v.v.. Bởi vậy gần đây có nhiều thuyết âm mưu cho rằng TQ đã gây ra dịch bệnh covid tạo ra suy thoái kinh tế thế giới, rồi dùng "ngoại giao thuốc ngừa", "cây gậy và si-rô", hoặc "âm mưu ràng buộc" để khống chế các nước khác, thực hiện mưu đồ bá chủ. Tuy nhiên thuyết âm mưu thì vẫn chỉ là "thuyết" thôi, không nên tin hết cho đến khi có bằng chứng hẳn hoi. Và tất nhiên là để tìm được bằng chứng ở TQ thì cũng không đơn giản chút nào. Ví dụ như đợt dịch vừa qua, gần cả năm sau, đợi dọn dẹp xong hết, mới cho phái đoàn thế giới vô Vũ Hán, thì cho dù có mời mấy nhà ngoại cảm VN qua cũng phải đành chịu thua. Ráng đợi thôi :-) !
Trở lại câu chuyện của Ngài Huyền Trang. Thực ra, do ông Ngô Thừa Ân viết truyện Tây Du Ký quá hay, nên đã xây dựng nên một hình ảnh của nhà sư Tam Tạng hoàn toàn khác với thực tế. Viết truyện hay đến nỗi mà nhiều người cứ tin rằng Tây Du Ký là có thực. Nhớ mấy năm trước có ông quan chức gì ở Quảng Nam Đà Nẵng còn tưởng rằng núi Non Nước Ngũ Hành Sơn là chỗ Phật tổ nhốt Tề thiên năm xưa, nên kêu gọi đầu tư xây dựng du lịch về "vùng đất vàng" đó. Tất nhiên thực tế thì không phải vậy, cũng chẳng có vua Đường nào mà kêu ngự đệ đi thỉnh kinh rồi cho cái bát vàng và tấm y quý giá đem theo làm của. Cũng chẳng có ma nữ nào mà thèm thịt của nhà tu hành Tam tạng, và cũng chẳng có Tề thiên, Trư bát giới nào đi theo. Lại càng không có vụ Đường Tăng phải hối lộ cái bình bát bằng vàng nơi đất Phật để đổi lấy kinh Phật. Nhưng ngẫm lại thì đôi khi những sự hiểu lầm cũng có cái hay riêng của nó :-) .
Trên thực tế thì Ngài Huyền Trang cũng chỉ là con nhà lương dân bình thường ở TQ vào thời Tuỳ/Đường. Trước Ngài Huyền Trang cũng có nhiều bậc tu hành khác từng đi qua Ấn độ để học Phật, như nhà sư Pháp Hiển (Faxian) rất nổi tiếng. Nhưng khi Ngài Huyền Trang tu học, thì thấy trong kinh sách thời đó có nhiều mâu thuẩn nghịch lý, nên Ngài quyết chí ra đi học hỏi cứu nước cứu dân. (Cứu nước ở đây không phải là để đánh nhau, mà để đem kinh sách về dạy dỗ cho người dân hiểu đúng, tu đúng, chung sống hiền hoà hạnh phúc, tạo phúc cho đất nước dân tộc). Thời đó Đường thái Tông mới giành được nước từ nhà Tuỳ nên còn nhiều luật lệ cấm đoán, ngăn sông cấm chợ. Ngài Huyền Trang phải trốn đi vượt biên theo con đường tơ lụa để sang Ấn độ học Phật. Thời gian đi và về tốn hết 7,8 năm trên đường bộ giữa Ấn-Trung. Còn lại 10 năm ở trên đất Ấn, Ngài vừa học ngôn ngữ, vừa học đạo pháp, và sau đó đi dạy ở đại học PG Nalanda. Tính ra, ngài Huyền Trang chỉ cần 10 năm có thể học và hiểu thấu những ngôn ngữ tiếng Phạn (Pali, Sanskrit..) và những đạo lý kinh điển PG sâu sắc đến mức như vậy. Ngài có thể sáng lập ra Pháp Tướng tông, và sau đó khi trở về nước, dịch ra rất nhiều tạng kinh điển giá trị của PG Bắc tông, từ Đại Niết bàn cho tới Bát Nhã Ba La Mật, từ Duy Thức tông cho đến Tịnh độ đông ..v.v..Ngài thông hiểu cả 3 phần quan trọng nhất của kinh sách PG (Kinh tạng, Luật tạng, Luận Tạng), nên thiên hạ gọi ngài là Tam Tạng chứ không phải là do ăn được thịt Ngài thì trường sanh bất tử :-). Nhờ vậy mà còn có nhiều tạng kinh điển giá trị được lưu truyền cho nhân loại đến ngày hôm nay, trong đó có PG VN. Tất nhiên là để dịch giải được bao nhiêu kinh sách đó trong một thời gian hữu hạn thì cũng không thể tránh được những khó khăn và hạn chế nhất định.
Mà nói tới đây mình cũng cảm thấy hổ thẹn. Ngài chỉ có 10 năm mà làm ra bao nhiêu thành tựu vĩ đại cho thiên hạ. Còn kẻ phàm phu như mình ra nước ngoài đã mấy chục năm nay, tiếng Anh tiếng U còn chưa rành, chỉ quanh quẩn mấy chuyện cơm áo gạo tiền, mà cũng chưa xong. Hơn thua nhau cái đài cái xe, cái phone, chai rượu, món này món kia, ăn nhà hàng này ghé quán ăn nọ, so đo chuyện làm mướn làm thuê cho hãng này hãng khác, hết đời mình đến đời con… ....lẩn quẩn. Ngồi nhậu chút, khoe tới khoe lui, uống nhiều uống ít, hơn thua chuyện tào lao, rồi cãi nhau chí chóe. Chính trị, chính em thì cứ như những người mù sờ voi, sờ đưọc khúc đầu chê người khúc đuôi, cả ngày chính sự ra rả, mà không thay đổi được điều gì. Thậm chí có nhiều ông mình quen biết đã mấy chục năm nay mà sự nghiệp chửi vẫn còn chưa xong. Làm hết chức chủ tịch cộng đồng đồng hương ở địa phương, qua đến chức hội trưởng, xuống chức hội phó, cho tới hết chức, rồi ra đi trong nuối tiếc. Ước mơ "to tát" vẫn còn nguyên một gói chưa kịp mở ra. Đó là chuyện ngoài nước, còn trong nước thì cũng nhiều thứ lòng vòng hơn. Như hiện nay, chuyện dịch bệnh thì đã mấy tháng nghĩ bàn đủ chiêu đủ kế, chống dịch như chống giặc, nhưng "giặc" thì còn chưa biết mặt mũi ra sao, mà người thân quen thì cứ chết rụng rơi mỗi ngày. Bằng này cấp nọ, chữ nghĩa một bụng, cũng chỉ để chê nhau, hơn thua là chính. Nói ra thì lắm người buồn. Bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Lý Bạch ngày xưa mà nhà thơ Tản Đà đã dịch lại:
....
Do lai chinh chiến địa,
Bất kiến hữu nhân hoàn.
Thú khách vọng biên sắc,
Tư quy đa khổ nhan,
Cao lâu đương thử dạ,
Thán tức vị ưng nhàn.
Phỏng dịch:
...
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà,
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đến nay than thở ắt là chưa nguôi !
Ngẫm lại, lịch sử cũng có nhiều chuyện thú vị. Người Trung Hoa lâu nay vẫn tự hào về Đường Thái Tông, một vị minh quân biết trọng dụng nhân tài, hiểu biết và quan tâm đến Phật pháp sâu sắc. Thế nhưng, khi ngài Huyền Trang từ Tây Trúc trở về, nhà vua lại muốn mời ngài ra làm quan. Xem ra, trong mắt bậc đế vương, chức tước vẫn là phần thưởng đáng quý nhất. May mà thời ấy chưa có Quốc hội, chứ không khéo ngài Huyền Trang lại được mời làm đại biểu luôn rồi. :-)
Trong Tây Du Ký, Ngô Thừa Ân dành phần lớn câu chuyện cho hành trình thỉnh kinh, nhưng lại không nói đến đường về. Có lẽ vì khi đã lấy được chân kinh thì Ngô Thừa Ân xem như công đức viên mãn, người về thiên đàng, cõi Phật… là xong. Mission accomplished!
Mình thì có suy nghĩ khác, cho rằng đoạn đường về mới là quan trọng. Nếu không thì cũng tương tự như đi đây đi đó, ráng cho dữ vào, cực khổ để kiếm được cái bằng, rồi chỉ để lên chức, để in cạc visit, để đi ăn giỗ hoặc họp lớp, giới thiệu chút rồi xong, thì quả nhiên uổng phí. Cũng như làm quan, chiêu này chiêu kia, leo cho được chức này chức nọ rồi chỉ để ký suông và đi họp thôi thì cũng uổng, bởi ăn thua là cuối cùng có giúp gì được cho mình cho người mới là quan trọng.
Tất nhiên, Ngài Huyền Trang đã không chọn con đường trở về đơn giản nhất. Ngài từ chối những ân huệ và sự trọng đãi của vua Harsha, cùng một đoàn tùy tùng tiền hô hậu ủng, mà chọn trở về theo một nhánh khác của "con đường tơ lụa". Có lẽ, ngoài hành trình hồi hương, đó còn là cơ hội để Ngài truyền đạt những điều mình đã học được, gặp gỡ thêm nhiều cộng đồng, đồng thời ghi nhận và mở rộng hiểu biết về những con đường nối liền các vùng đất và nền văn hóa khác nhau.
Thời ấy, đi trên những "tuyến đường tơ lụa" không phải là một chuyến du lịch ngoạn cảnh. Biết bao thương nhân, tăng sĩ và lữ khách đã lên đường mà không bao giờ trở về. Sa mạc, núi tuyết, giặc cướp, bệnh tật và sự thiếu thốn đều có thể lấy mạng người bất cứ lúc nào. Vì vậy, những kiến thức, kinh nghiệm và thông tin về đường đi mà những người như Huyền Trang mang theo và truyền lại có giá trị rất thực tế. Và chắc chắn, sự lựa chọn ấy khó có thể so sánh với những chuyện phàm phu như áo gấm về làng, tiền bạc, chức tước, bổng lộc, danh xưng phù phiếm, hay vài ngôi chùa to, chùa lớn. Sau một hành trình như thế, điều Ngài mang về đáng giá nhất có lẽ không phải là những gì có thể "quy ra thóc" mà là kinh điển, tri thức, và những điều đã thực sự trải nghiệm trên đường đi.
Tuy vậy, đôi khi mình vẫn tự hỏi, không biết ngày ấy Ngài có bao giờ tưởng tượng rằng những con đường giúp con người giao thương, truyền bá tri thức và kết nối các nền văn minh rồi một ngày nào đó cũng có thể bị những kẻ hậu thế mượn danh, lợi dụng cho những mục đích hoàn toàn khác hay không? Nhưng thắc mắc vậy thôi, chứ suy cho cùng, sự vật vốn vô tội. Con đường vô tội. Núi sông, biển đảo cũng vô tội. Chính những tham vọng, danh xưng và ý đồ mà con người đặt lên chúng mới khiến một con đường có thể trở thành con đường của giao lưu hay tranh chấp, một vùng biển có thể trở thành nơi gặp gỡ hay đối đầu.
Con đường vẫn chỉ là con đường. Điều đáng hỏi có lẽ không phải là nó mang tên gì, mà là con người muốn dùng nó để đi về đâu.
Nói đến những ngày cuối đời của Ngài Huyền Trang lại có một câu chuyện đáng suy ngẫm. Theo những ghi chép về cuộc đời Ngài, trước khi viên tịch, Huyền Trang mong tang lễ của mình được tổ chức thật giản dị, thân xác chỉ cần được quấn trong một chiếc chiếu rách đơn sơ, rồi đem an táng ở một nơi thanh vắng, xa chốn đông người. Ngài còn khiêm nhường nói đại ý rằng thân thể bất tịnh này không nên để gần chùa chiền hay nơi dân cư mà làm phiền người khác.
Nhưng tất nhiên, một người như Huyền Trang đâu dễ được ra đi âm thầm như ý nguyện. Từ triều đình cho đến tăng chúng và đông đảo Phật tử đều thương tiếc Ngài; tang lễ vì thế trở thành một sự kiện lớn. Nghĩ cũng hơi trớ trêu, người muốn ra đi với một manh chiếu, thiên hạ lại nhất định phải tiễn đưa cho xứng tầm. :-)
Có lẽ với một bậc trí tuệ như Huyền Trang, chiếc chiếu rách đơn sơ hay nghi lễ long trọng cuối cùng cũng chỉ là phương tiện để đưa một thân xác trở về với đất. Điều còn lại đâu nằm ở quan tài đẹp hay xấu, cờ xí nhiều hay ít, người đưa tang đông hay thưa. Những nghi lễ long trọng ngày ấy, hơn một ngàn năm sau, mấy ai còn nhớ rõ? Trong khi những bộ kinh Ngài mang về, những bản dịch, những ghi chép về cuộc hành trình và cả một đời miệt mài cầu học vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến biết bao thế hệ.
Rốt cuộc, thời gian cũng là một vị quan tòa khá công bằng. Nó làm phai đi cờ xí, nghi lễ, chức tước và những tiếng tung hô nhất thời; nhưng những gì thực sự có giá trị đôi khi lại sống lâu hơn cả người tạo ra chúng. Ngày nay, tại Nalanda ở Ấn Độ vẫn có Xuanzang Memorial Hall, tưởng niệm một vị tăng sĩ TQ đã vượt hàng ngàn dặm để tìm học Phật pháp. Điều ấy lại khiến mình tự hỏi - ở chính quê hương TQ của Ngài, Huyền Trang được tưởng niệm như thế nào trong đời sống xã hội ngày nay?
Câu hỏi ấy càng đáng suy nghĩ khi đặt bên cạnh cách một quốc gia lựa chọn những nhân vật lịch sử để tưởng niệm. Một nghịch lý đáng suy ngẫm. Mao Trạch Đông chẳng hạn, cho đến nay vẫn giữ một vị trí đặc biệt trong ký ức chính thức của TQ, mặc dù những chính sách dưới thời ông, đặc biệt là thời kỳ Great Leap Forward (Đại nhảy vọt/Bước quá độ) và cuộc Cách mạng Văn hoá (Cultural Revolution) gắn với nạn đói, bạo lực chính trị, đàn áp và cái chết của hàng chục/trăm triệu người (con số chính xác đến nay vẫn còn được các sử gia tranh luận) lại có ngày tưởng niệm to lớn. Trong khi đó, một người như Huyền Trang dành phần lớn cuộc đời để cầu học, phiên dịch kinh điển và truyền bá những tư tưởng hướng con người đến trí tuệ, sống tỉnh thức, giảm bớt khổ đau và giải thoát khỏi chấp trước, dường như lại hiện diện trong xã hội theo một cách lặng lẽ hơn nhiều.
Tất nhiên, Huyền Trang chẳng cần một “ngày Huyền Trang” nào cả. Đến cuối đời, Ngài chỉ muốn thân mình được quấn trong một chiếc chiếu rồi đem chôn nơi thanh vắng, thì có lẽ việc hậu thế có tổ chức lễ lớn, dựng bao nhiêu tượng đài, hay đặt tên Ngài cho bao nhiêu con đường, cũng không phải là điều quan trọng. Một người không đem lại điều gì tốt đẹp lại muốn lưu danh; người muốn lưu danh thì cần người khác nhớ đến tên mình. Còn một người thực sự để lại giá trị thì đôi khi chẳng cần ai nhắc tên, bởi những gì họ làm đã âm thầm đi vào đời sống của người khác !
Thôi xin tạm dừng nơi đây. Chúc tất cả bình an, hạnh phúc.
PN


Một bài viết về Ngài Huyền Trang thật hay, hợp lý và rất hợp tình!
ReplyDeleteCảm ơn Anh. Chúc mọi chuyện an lành .
DeleteCam ơn bạn - bài viết cuối tuần thật hay !
ReplyDeleteCảm ơn bạn nghen. Đọc cho vui thôi .
ReplyDelete