Thursday, June 17, 2021

Tản mạn về "Từ thiện" ...

 


Gần đây trên mạng xã hội VN rầm rộ những câu chuyện đấu tố "từ thiện". Xấu có tốt có, đem ra khai tội lẫn nhau dưới nhiều hình thức trần trụi. Đó là thói quen thường gặp. Tất nhiên đại đa số những người tham gia trên mạng cũng chỉ là nghe đi nói lại, chẳng ai là quan toà có đầy đủ chứng cớ, nên chỉ biết được một phần của vấn đề. Và cũng chẳng ai có quyền bào chữa hoặc khả năng lý luận trước một đám đông hùng hậu đến thế. Chợt nhớ đến câu chuyện người đàn bà bị ném đá trong kinh Thánh. Cuối cùng thì đúng sai không rõ, nhưng chắc chắn sẽ làm cho nhiều người ngán ngẩm sự tình và ít nhiều có những ảnh hưởng đến các hoạt động "từ thiện" về sau, đặc biệt là trong giới văn nghệ sĩ. Mình thì nghĩ rằng người hiểu biết đúng đắn về đạo lý của "từ thiện" chắc chắn sẽ không có những ứng xử như vậy !

Nhân đây mình cũng muốn chia xẻ một vài ý nghĩ cá nhân về việc "làm thiện". Tất nhiên chỉ là những suy nghĩ tản mạn, đúng sai tuỳ người cảm nhận. Đọc cho vui thôi :-)

Lâu nay có một số người cho rằng nguồn gốc của các hoạt động từ thiện xuất phát từ tôn giáo, và những quan niệm nhân quả báo ứng hoặc phúc đức công đức .v.v.. Điều này thì mình không rõ lắm, nhưng có một điểm chắc chắn là tôn giáo nào cũng dạy tín đồ của họ sống tử tế, làm thiện làm lành. Và cũng chính vì quy luật nhân quả, nên bao giờ những người sống thiện lành cũng chính là người đầu tiên được hưởng những kết quả tốt đẹp từ công việc làm của họ. Còn quy luật nhân quả là của vũ trụ, không phải do ai tạo ra mà cũng không thuộc sở hữu của bất kỳ một tôn giáo nào.

Tuy nhiên, không phải ai cũng quan niệm vấn đề như vậy và có tư duy hiểu biết giống nhau, nên mới xảy ra nhiều thứ ngộ nhận trong cuộc sống và các mâu thuẩn từ đó hình thành. Đại đa số những cá nhân và tổ chức từ thiện đều hoạt động rất tốt, và ngày càng có nhiều ảnh hưởng tich cực đối với đời sống xã hội. Nhưng bên cạnh đó cũng có một số vấn đề làm ảnh hưởng đến tình trạng chung. Có một số người quan niệm làm thiện như một sự ban phát, khai ân, nên chờ đợi những quyền lực, đặc ân hoặc sự tôn vinh kính trọng, thậm chí sự tôn sùng từ những người nhận hoặc xã hội chung quanh. Khi không được như ý, sinh ra bức xúc, bất mãn, thậm chí còn cắt đứt dây chuông, hoặc chửi bới doạ nạt đòi lại… Một số người khác có quan niệm giá trị của việc từ thiện là được quy ra "thóc", nên tính toán hơn thua, so đo những giá trị đóng góp làm tổn thương người khác. Thậm chí có một số ít chờ đợi thiên hạ (hoặc Phật, Chúa, Trời, Diêm vương ...) ghi nhận công đức của họ theo cách nghĩ như thế. Không được như ý, thì cũng sinh ra lắm phiền toái cho bản thân họ và cho người khác. Trong khi đó thì những người chung quanh không phải ai cũng có đủ dũng khí và khả năng để nói lên những sự thật hoặc lời góp ý chân thành về những ứng xử lệch lạc của họ. Bên cạnh đó thì cũng có những hiện tượng xưng tụng thái quá, hoặc một số vấn đề tiêu cực dẫn đến việc con sâu làm rầu nồi canh….v.v..Và cứ thế lần hồi những công việc từ thiện cao cả lại trở nên phức tạp hơn vì sự lẫn lộn giữa những chờ đợi và ứng xử khác nhau của nhiều cá nhân hoặc tổ chức. Điều đó đôi lúc làm khó khăn hơn cho những người có lòng làm thiện chân chính. Mặt khác, do những yếu tố văn hoá đặc thù của từng địa phương mà người dân mỗi nơi có những quan niệm khác nhau về hoạt động từ thiện và giá trị cống hiến của nó đối với con người và xã hội. Nên không phải chỗ nào cũng có ứng xử như nhau.

Nói đến việc làm thiện làm lành, trong PG có một khái niệm rất quan trọng, đặc biệt là đối với những người nghiên cứu đi sâu vào con đường thực hành đạo pháp. Tiếng Anh gọi đó là "Six Paramitas", hoặc "Transcendent perfections", tiếng Việt dịch ra là Lục Ba la mật (có một số sách dịch là Lục độ Ba la mật). Chữ mật ở đây không liên quan gì đến bí mật hoặc phù phép pháp thuật nào cả. Có thể chỉ là cách phiên âm từ tiếng Phạn ra TQ, rồi TQ sang VN từ thời xa xưa. Dĩ nhiên ở các nước Á đông, vốn có truyền thống PG lâu đời, nên được thuyết giảng về nhiều phương tiện tu tập khác nhau. Ngôn từ cũng đa dạng phong phú, và khó hiểu hơn, vì được diễn giải theo nhiều cách riêng khác nhau. Còn bên Tây phương, thì kinh sách viết theo tiếng Anh (English) nên chữ nghĩa trực tiếp hơn, đơn giản hơn, phù hợp với những người có ít vốn liếng kiến thức PG như mình. Tóm lại, Lục Ba la Mật (Six paramitas) là 6 tiêu chí tu tập cần thiết nhất cho một người muốn tìm đến sự giác ngộ của bản thân. Bên PG Nam truyền (Theravada) quan niệm là có 10 paramitas, thay vì là 6. Thực ra thì cuối ngày cũng là những phương pháp thực hành giống nhau. Đây là những lý thuyết căn bản của PG, mặc dù đơn giản nhưng là mấu chốt trọng tâm nhất của việc tu tập. Bạn nào muốn đọc thêm, thì có rất nhiều tài liệu trên mạng. Các trường đại học lớn trên thế giới đều có nhiều tài liệu về lý thuyết PG này. Ví dụ như đại học lâu đời nhất của Anh, Oxford, trong thư khố Oxford Bibliographies, luôn có những tài liệu hoặc bài viết về "Six Paramitas". 

Trong phạm vi bài viết này, mình chỉ muốn nói đến cái ba-la-mật đầu tiên (1st paramita), đó là nói về Bố thí ba-la-mật-đa (tiếng Sankrit là danaparamita; tiếng Anh tạm dịch là perfection of giving, hoặc là generosity). 

Nôm na thì bố thí được định nghĩa là khả năng mở lòng để cho đi hoặc thiện chí để dâng hiến, mà không chờ đợi sự hồi báo. Bố thí được chia ra thành 3 loại:

1. Tài thí: là cho đi bằng tiền của, hiện vật, công sức... (như đại đa số các vị làm từ thiện ngày nay)

2. Pháp thí: là đem sở học sở đắc của mình mà hướng dẩn, giáo dục, thuyết pháp, truyền giáo, giảng giải đạo pháp, đạo làm người…cho kẻ khác.

3. Vô uý thí: là che chở hoặc bảo vệ trực tiếp hoặc gián tiếp các sinh linh yếu đuối, khờ khạo, ngây ngô, bất lực ... trước những bạo lực, cường quyền, sự sợ hãi và những chết chóc tai ương. Hy sinh và sẵn sàng cam chịu thiệt thòi bản thân để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa, giúp sinh linh thoát cảnh sợ hải, lo âu ...

Một số kinh sách cho rằng đó là 3 cấp bậc bố thí từ thấp đến cao. Mình thì không nghĩ vậy. Chắc là không có sự đo lường về công đức cao thấp, nhưng có thể có nói đến mức độ khó dễ trong việc thực hành mỗi kiểu bố thí. Nhiều người thường giảng giải Bố thí Ba-la-mật-đa vừa làm lợi ích cho người, vừa làm lợi ích cho mình. Theo mình thì chuyện làm thiện đem lại lợi ích cho người, cho xã hội, cho nhân loại ... thì dĩ nhiên ai cũng dễ dàng nhìn thấy được. Thế nhưng chuyện làm thiện đem lại lợi ích cho chính bản thân thì khó nhận ra hơn, mặc dù đây mới là điều quan trọng mà những người tu học chân chính muốn hướng tới. Bởi vì chính sự bố thí đúng nghĩa mới là liều thuốc hoá giải mọi sự chiếm hữu và tham lam, bủn xỉn và bần tiện, kiêu ngạo và ích kỷ ...Đưa họ từng bước tiến đến gần hơn với sự giác ngộ và tỉnh thức !

Tuy nhiên là trong mọi vấn đề, mọi lý thuyết đều có tính hai mặt của nó. Tỉnh hay mê, thiện hay ác, nặng hay nhẹ, có khi cũng chỉ là những đường ranh rất mỏng. Vượt quá giới hạn đó lại trở thành một ý nghĩa khác. Mình không phải là những nhà tu hành, càng không phải là các nhà nghiên cứu đạo pháp, hoặc các bậc cao nhân tri thức ... nên một lần nữa, đây chỉ là những hiểu biết trong giới hạn hiểu biết nhỏ bé của mình.

Thứ nhất nói về "Tài thí", quả nhiên là đơn giản nhất. Có công, có của, có lòng ... cho đi. Làm từ thiện, đi cứu trợ, quỹ tình thương, quỹ hổ trợ, quỹ học bổng, làm nhà tình thương, làm cầu, làm trường, bữa cơm có thịt, cái mền, cái áo, xây chùa, xây miểu ...v.v.. Tuy nhiên, đối với hạnh bố thí, thì sự "giàu có" không chỉ là dựa trên phương diện vật chất và tiền bạc, mà còn dựa trên khía cạnh tinh thần, thiện chí, sự khiêm cung, và quan trọng nhất là lòng yêu thương. Vì thế, mỗi người chúng ta đều có những thứ để cho, để hiến dâng cho kẻ khác. Bố thí Ba-la-mật không tùy thuộc vào giá trị vật chất quy ra "thóc”, mà chính là khả năng mở lòng cho đi, sự thấu hiểu và đồng cảm, lòng thương yêu chia xẻ với những kẻ khốn cùng hoặc nỗi đau lâm nạn. Vài chục tỉ của một đại gia (làm giàu chính đáng hoặc không chính đáng) so với vài ổ bánh mì của người nghèo hoặc bữa ăn cuối cùng của người ăn xin, chưa biết giá trị nào thực sự lớn hơn. Mà chắc cũng chẳng có Phật Chúa nào đo lường chuyện đó, chỉ có bản thân họ cảm thấy an lạc và hạnh phúc như thế nào mới là quan trọng. Đó là giá trị lớn nhất và cũng là những hạt giống karma seeds quý báu mà họ vừa gieo trồng trong mảnh vườn A-lại-da-thức của họ. Còn dẫu có lên đài, lên TV, lên youtube khoe khoang, thì chắc cũng không đem lại cho họ lợi ích gì, ngoài những phiền toái thị phi, hoặc những xưng tụng có tính chất tạm thời, phe phái. Có những người rất nghèo khó, buôn gánh bán bưng, chạy xe ôm, khuân vác hàng ngày, không có vốn liếng, không học thức, nhưng họ có thể bật khóc thông cảm trước cảnh khổ đau và cơ hàn của kẻ khác. Ngoài tình thương ra, họ chỉ có gói mì, ly nước, hoặc thậm chí không có tài vật gì để hiến dâng, nhưng chính lòng yêu thương đó cũng là sự bố thí đáng kính vậy.

Tuy nhiên, thực tế cuộc sống thì bố thí không phải chỉ đơn giản cho đi là xong việc. Nhiều người phát tâm " tài thí" đôi khi còn phải chịu đựng những thị phi, đố kị, ganh ghét, của thiên hạ chung quanh. Cũng là lẽ thường, thậm chí có lúc còn phải bị mang họa vào thân, hoặc nhận lãnh cả sự thù hận, mới hoàn thành được ý nguyện thiện lành của họ. Chưa hết, nhiều người làm từ thiện mà phải dấu diếm vì sợ người đời đánh đồng cá mè một lứa, nghi kị hiểu lầm động cơ từ thiện của họ. Bởi vậy cũng không hiếm những trường hợp có người chịu đựng không nổi những áp lực nghịch lý, hoặc không vượt qua được ải "thị phi" của thiên hạ chung quanh, đành ngậm ngùi gác kiếm không làm từ thiện nữa. Tức là chính họ đã thua cuộc trước cái mục đích hạnh trì cao cả của họ. Rớt từ vòng gởi xe :-). Bên cạnh đó, cũng có một số người động cơ chính của việc làm từ thiện là mong được hồi báo phúc đức, cho con cho cháu, kiếp này hoặc kiếp sau. Vô tình họ lại làm giảm thiểu đi cái ý nghĩa thực sự của việc "cho đi", mong cầu một gắn bó mới (attachment) sẽ đến. Nói tới đây mới nhớ tới thời mình về VN đi làm, gặp những ông anh cùng quê, rất nặng lòng với quê hương. Bao nhiêu năm qua, không hề mệt mỏi, bền bĩ, thầm lặng giúp đỡ quê nhà, chẳng mong gì sự hồi báo. Cho gạo, cho tiền, lập quỹ hổ trợ, xây trạm xá, xây trường học, giúp đỡ đồng bào, ngư dân. Chắc hẳn cũng có những lúc họ phải trãi qua nhiều thị phi, khó nhọc, nhưng chưa hề dừng bước. Rất khâm phục tấm lòng của các anh ấy.

Ở một số quốc gia đang phát triển, có nhiều nhà tỉ phú nổi lên nhanh chóng do các khe hở của luật pháp và chính sách. Bên cạnh sự giàu có của họ, luôn tồn tại những thiệt hại và khổ đau của nhiều người dân lương thiện khác. Một số người khôn khéo trích khoản phần nhỏ ra để làm “từ thiện” xoa dịu lương tâm cho bản thân, bù đắp hoặc trấn an cho thiên hạ, hoặc đánh bóng tên tuổi. Đó không phải là ý nghĩa của bố thí trong paramitas. Ngoài ra cũng có nhiều sự bố thí khác cao cả hơn, như hiến dâng một phần thân thể, hay cả mạng sống của họ vì sự an vui và sinh tồn của kẻ khác gọi là Đại Bố thí. Trong lịch sử nhân loại, không hiếm những cá nhân, các chư vị tăng ni tu sĩ, hoặc các vị thánh tử đạo của Thiên chúa giáo ... đã từng hy sinh tự thiêu để đánh thức lương tâm của kẻ khác trước những ý đồ vô minh đen tối. Nhưng bên cạnh đó, thì cũng có những con người do xuất phát từ lòng hận thù, cuồng tín, vô minh, hoặc vì những mục đích chính trị khác, tự hy sinh hoặc xúi giục người khác hy sinh gây ra những hành vi bạo động làm thiệt hại sinh mạng kẻ vô tội khác, làm rối loạn xã hội, vụ lợi cho cá nhân hoặc cho tổ chức. Đó càng không phải là hạnh bố thí. Cho nên có nhiều hành vi hoặc hành động hoàn toàn giống nhau nhưng xuất phát từ những động lực khác nhau, thì lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó cũng là những khả năng thông hiểu của trí huệ con người được nói đến ở những phương pháp “ba-la-mật" (paramitas) kế tiếp.

Thứ hai, nói về Pháp thí. Nghĩa là nói đến sự cống hiến, tri thức cho đi của các bậc truyền giáo, thuyết pháp, giáo dục, khai ngộ cho kẻ khác. Đây là một việc làm khó khăn, đa dạng và phức tạp hơn nhiều. Đồng nghĩa với khái niệm nước có thể nâng thuyền thì cũng có thể đắm thuyền. Truyền bá đạo pháp không đúng có thể huỷ diệt đạo pháp, đưa xã hội vào thời kỳ mạt pháp. Cho nên nói về Pháp thí là nói về những mục đích và phương tiện khác nhau. Thuyết giảng và truyền bá đạo pháp hoàn toàn lệ thuộc vào trí tuệ, khả năng, và duyên nghiệp của người giảng và người nghe. Chữ "duyên nghiệp" ở đây nói cho đơn giản một chút là sự kết hợp của những điều kiện "cần và đủ" như trong toán học, bao gồm cả cái Ngã, cái vô minh của đôi bên. Mình không dám nói nhiều về phạm vi này, vì đây là một vấn đề tế nhị, khó diễn đạt. Nếu nói không đủ ý, nhất là trong phạm vi của một vài phiếm luận ngắn, dễ gây ra sự hiểu lầm và trịch thượng. Và đó cũng chính là một thứ duyên nghiệp của mình vậy :-) . 

Đại khái, nhiều người đến với tôn giáo, đặt hết niềm tin của họ vào đó. Nhưng đôi khi có sự nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích, nên bị lôi cuốn vào những giá trị ảo của hình thức nghi lễ bên ngoài mà lại ít chú trọng vào bản chất nội dung bên trong, dẫn đến những ngộ nhận đáng tiếc. Bên cạnh đó cũng có số ít trường hợp hiểu lầm về đạo pháp gây ra do sự giảng giải và hướng dẫn lệch lạc của một số chư vị tu tập dưới màu áo tu sĩ nhưng lại hiểu biết không thấu đáo hoặc có những mục đích riêng tư khác nhau. Có thể là do khả năng hoặc kiến thức, do ngã chấp nặng nề, hoặc do bị chỉ phối bởi các yếu tố đời thường … nên vô tình hay cố ý dẫn dắt đức tin của người khác đi vào chỗ mê tín dị đoan, bùa phép ma thuật, hối lộ thần thánh, oan gia trái chủ v.v. Và cũng vì ngộ nhận chánh pháp nên mưu cầu và hứa hẹn những điều không có thực. Thậm chí còn quay cuồng trong những chuyện hơn thua tên tuổi, vọng tưởng công đức, so đo công trạng .v.v..Vô tình ngày càng đưa mình đưa người vào những ngõ rẽ vọng tưởng, xa rời chánh pháp và sự giác ngộ. Tất nhiên trong cuộc sống này thì vẫn luôn có nhiều chư vị tăng ni, những bậc tri thức, cư sĩ, thiện nam tín nữ đầy đủ phẩm chất, trí huệ sáng ngời, đạo đức khiêm cung, kiến thức rộng lớn, sẵn sàng dạy dỗ và hướng dẫn kẻ khác đi theo con đường phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của mỗi người. Tuy nhiên, ai cũng vậy, thường sẽ không biết cái mà mình không biết. Ai cũng có những bộ lọc riêng cho mình, nên thường có xu hướng tìm nghe những gì mình thích nghe, tìm thấy những gì mình thích thấy. Không ai ngoại lệ cả, trừ khi sự hiểu biết và tu tập của họ đã thực chứng trải nghiệm và vượt qua những nấc thang trở ngại này rồi. Âu đó cũng là những câu chuyện dài trong cuộc sống!

Thứ ba, nói về "Vô úy thí" (abhayadana). Nghĩa là nói đến sự che chở và bảo vệ trực tiếp hoặc gián tiếp những sinh linh (người & vật) yếu đuối, khờ khạo, ngây ngô, không phương tiện tự vệ trước những bạo lực, lo âu, sợ hãi và chết chóc. Nhiều người dùng trí tuệ, tài lực, và ngôn ngữ của họ khuyên bảo an ủi động viên kẻ khác vượt qua những thời khắc khổ đau nhất hoặc khó khăn nhất. Đại khái là như thế, nhưng theo thiển ý của mình, đây là cấp bậc bố thí cao hơn và là sự kết hợp của hai dạng bố thí trước. Nhiều chùa chiền Bắc truyền ở VN đều thờ cúng Bồ Tát Quan Âm "cứu khổ cứu nạn". Có lẽ là biểu tượng của hình thức bố thí "vô úy thí" này. Để che chở hoặc bảo vệ cho sinh linh thoát khỏi cảnh khổ đau và sợ hãi cùng cực, có lẽ không còn ranh giới giữa "tài thí" hoặc "pháp thí" nữa, mà cần có một hành vi hoặc trạng thái tự nhiên hơn. Có thể phải đòi hỏi một khả năng kết hợp nhiều yếu tố khác nhau để thực hiện công việc hiệu quả. Mặt khác cho dù nhiều người rất có thiện tâm, nhưng “vô úy thí” đôi khi không phải là những việc làm dễ dàng như cho đi một món đồ. Thậm chí có thể phải hy sinh cả cuộc đời hoặc bị ảnh hưởng lâu dài đến nhiều thế hệ. Như trong đời sống hàng ngày, có lúc chúng ta nhìn thấy những nghịch lý gây ra biết bao nhiêu hệ lụy khổ đau phiền muộn cho người khác, nhưng không phải ai cũng có đủ dũng khí, bản lĩnh, và khả năng để thay đổi được những nghịch lý đó. Hoặc có lúc chỉ vì một ít quyền lợi riêng tư, hoặc sự yên ổn của bản thân và gia đình, mà nhiều người đành phải chọn lựa giải pháp quay lưng với một số sai phạm, mà đúng ra họ phải đấu tranh để bảo vệ cho kẻ yếu .v.v... Bản thân chữ Abhayadana có nhiều ý nghĩa sâu sắc trong các ngôn ngữ cổ xưa như Jainism, Prakrit, Hinduism, Sanskrit, Marathi. Bạn nào muốn tìm hiểu nên đọc thêm nghen. Thực ra, ngày càng già đi, mình mới hiểu ra rằng có nhiều thứ càng nói càng thiếu (hoặc càng sai). Chỉ có sự im lặng, suy gẫm, và tự nhiên cái hiểu sẽ đến !

Cũng không biết có phải vì lý do đó, mà nhiều vị thiền sư PG ngày xưa không chọn con đường thuyết giảng để truyền thừa đạo pháp cho các thế hệ sau. Nhiều vị còn chọn phương cách “vô ngôn”. Nhìn lại lịch sử PG VN hôm nay, rất nhiều tổ đình tên tuổi như Từ Hiếu, Từ Đàm, Thiên Ấn ..và các vị cao tăng thiền sư tên tuổi như Tịnh Khiết, Huyền Quang, Nhất Hạnh ... đều xuất phát từ tông Lâm Tế. Mà ngài tổ sư của tông Lâm Tế là Lâm tế Nghĩa Huyền có một câu nói rất nổi tiếng..."Đừng có bị lôi cuốn vì những cái áo. Có cái áo thanh tịnh, có cái áo vô sanh, áo bồ đề, áo niết bàn, áo Tổ, áo Phật. Các ông có biết cái người mặc áo không? ”. Tất nhiên ai cũng hiểu điều mà Ngài muốn nói đến là - Chúng ta thường chỉ nhìn thấy những cái áo mà không biết “người” mặc cái áo đó ra sao. Thấy được "người" mặc những cái áo đó mới chính là điều mà Ngài muốn chỉ cho chúng ta biết. Thế nhưng thời nay biết bao nhiêu người làm được chuyện đó. Và "từ thiện" lúc nào cũng là một chiếc áo đẹp !

Dông dài thêm một chút, VN mình lâu nay luôn cảm thấy may mắn và tự hào về tông thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thiền Trúc Lâm Yên tử đã trở thành một biểu tượng tôn giáo và văn hoá hàng đầu của PG VN. Còn Tết nhất lễ hội, cúng mâm cúng quả, cầu phúc cầu tài thì khỏi nói rồi. Cả nước hiện nay có biết bao nhiêu chùa chiền thuộc nhánh Trúc Lâm, và có rất nhiều chư vị tăng ni, thiền sư khả kính, trí tuệ uyên bác. Và khi nói đến dòng thiền Trúc Lâm, ai ai cũng nói đến công lao của vị vua khả kính Trần Nhân Tông sáng lập ra. Tuy nhiên ít người nhắc đến Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, anh cả của Đức Thánh Trần Trần Hưng Đạo, và là người đã dẫn dắt, dạy dỗ vua Trần Nhân tông vào con đường tu học đạo pháp. Ông có viết quyển "Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục", do chính vua Trần Nhân Tông đích thân ghi lại. Rất hay, nhưng sau này cũng ít khi nghe người ta nhắc đến !

Ngài Tuệ Trung Thượng sĩ là học trò của nhà sư Tiêu Dao. Trong cuốn "Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục", ông có kể lại rằng khi ngài Tiêu Dao (thầy của ông) đến nước ta để truyền giảng đạo pháp, Ngài ở trần không mặc áo, tay cầm cần câu không lưỡi, ngang nhiên đi vào kinh thành nhà vua. Hồi trước đọc tới đó, mình nghĩ cũng may mắn cho VN ta là Ngài Tiêu Dao sinh vào thời đó. Chứ nếu Ngài xuất hiện ở thời này mà không mặc áo, đi chân đất, lại không có chức danh, không trụ trì chùa nào, làm sao có cửa vào phủ chủ tịch ?

Biết ơn duyên lành !

PN

1 comment:

  1. Một đề tài hay và đang rất "hot"! Cảm ơn Phước.

    ReplyDelete

Comments: