Thursday, November 05, 2020

Phiếm: Dã tràng xe cát

 


Trong thời buổi dịch bệnh, chính trị dơ bẩn và xã hội phân hoá, có nhiều người tìm đến tôn giáo như một cứu cánh, để xoa dịu những nỗi niềm trong cuộc sống hoặc để chiêm nghiệm lại những được mất trong cuộc đời của họ. 

Mình có người bạn Mỹ, quen nhau cũng gần 30 năm rồi, từ đầu thập niên 90. Thời đó mình còn làm việc cho một trung tâm nghiên cứu viễn thông đa quốc gia (Bell Northern Research), còn anh ta thì bắt đầu khởi nghiệp bán bảo hiểm. Bẵng đi một thời gian khá lâu, mấy năm trước mình trở lại Mỹ sinh sống. Gặp lại nhau, thì anh đã trở thành một ông chủ công ty bảo hiểm nhỏ. Con cái đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, chuẩn bị tiếp tục sự nghiệp công ty bảo hiểm của anh. Nói chung không giàu có lắm, nhưng cũng có một sự nghiệp để tự hào và cuộc sống tương đối đầy đủ. Rất mừng cho anh ấy. 

Tuần rồi, anh bỗng hẹn mình đi ăn trưa. Đầy tâm trạng ưu tư, rồi lại hỏi thăm về đạo Phật. Có lẽ anh ấy nghĩ mình là người VN nên ít nhiều cũng biết chút đỉnh về Phật giáo. Hơi ngạc nhiên chút, nhưng rồi cũng giới thiệu cho anh một số trang mạng tiếng Anh nói về đạo Phật. Hy vọng anh ấy sẽ tìm được cái mà anh cần tìm.

Thực ra thì những năm sau này thỉnh thoảng cũng đọc được những tin tức của các vị CEO phương Tây tìm đến đạo Phật. Nào là Steve Jobs (Apple) đi tiên phong qua Ấn độ tầm sư học đạo. Sau đó đến Mark Zuckerberg (Facebook), Larry Page (Google) cũng đi theo gót chân của Steve Jobs. Rồi đến nhà sáng lập Twitter & CEO Jack Dorsey, cũng qua Myanmar đi thiền. Nhà sáng lập Salesforce & CEO Marc Benioff cũng lặn lội tầm sư, cuối cùng rước luôn ông thiền sư về nhà để học. Còn những nhà tỉ phú CEO mà theo đạo Phật lâu nay như Christine Comaford ( First Professional Bank), Pierre Omidyar (Omidyar Network), Kazuo Inamori (KDDI Corp), Jack Ma (Alibaba TQ), Michael Dobbs-Higginson ... thì khỏi nói rồi. Mình vẫn luôn nghĩ là quý vị đó thì cũng như tất cả mọi người bình thường khác, ai cũng có lý do nhất định để tìm đến những tôn giáo phù hợp cho mình. Nhưng giới truyền thông và đầu tư thì lâu nay luôn nhạy bén, và thích săn lùng những loại thông tin này. Nhớ năm nào đó Mark Zuckerberg (Facebook) nhà ta đi tầm sư học đạo bên châu Á, tờ báo "Wall Street Journal" chơi một cái tựa báo giựt gân làm chấn động giới võ lâm thời bấy giờ ...“Can Mark Zuckerberg Find Enlightenment? Facebook shareholders could benefit if the company’s CEO takes up Buddhism”. (Tạm dịch là: Liệu Mark Zuckerberg tìm thấy sự Giác ngộ ? Các nhà đầu tư FB hưởng lợi khi người điều hành đi theo đạo Phật).

Và đương nhiên là so với các cây đa cây đề kể trên, thì ông bạn chủ hãng bảo hiểm cỏn con của mình quá nhỏ bé, cho nên chuyện ông đi nghiên cứu đạo Phật, thì chắc cũng quá ư bình thường, chẳng có gì cần phải ầm ĩ. Tuy nhiên cái mà làm mình quan tâm nhiều là anh ta có vẻ lo lắng cho sự nghiệp của anh rồi sẽ tan biến như "dã tràng xe cát" (sand bubbler crab). Nghe anh nói chuyện một lúc, thì mình cũng hiểu được phần nào nỗi lo lắng ấy. Đúng ra, thì chữ "dã tràng" cũng được người Á đông dùng nhiều lâu nay, để ví von các kiểu uổng phí công sức. Có khi được xài như một danh từ, mà cũng có khi xài như một trạng từ, hoặc tính từ ..v.v. 

(Nhân nhắc về chữ dã tràng, mình nhớ đến anh LQA, người đã rất thành công diễn đạt ca khúc Dã Tràng Ca của nhạc sĩ TCS. Xin nói thêm là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết khúc ca này từ năm 1962, ban đầu có tên là "Trường ca tiếng hát dã tràng". Đây là bài nhạc dài nhất của TCS, và theo các bạn bè của ông, thì chính nhạc sĩ đã từng điều khiển hợp xướng ca khúc này nhiều lần, nhiều nơi khác nhau như Quy Nhơn, Bảo Lộc .... Nhưng mãi cho đến khi nhạc sĩ TCS qua đời, thì ca khúc thất lạc này mới được ai đó tìm lại, và sau đó được nhiều ca sĩ trình diễn. Một trong những người diễn đạt ca khúc này thành công nhất, sâu lắng và tình tự nhất là anh LQA, mặc dù anh ta không phải là ca sĩ chuyên nghiệp). 

Giờ trở lại cái vụ ông bạn bảo hiểm của mình. Thấy anh tâm tư quá, nhưng gặp mình thì cũng chẳng hiểu biết gì nhiều về đạo giáo, triết lý, lại càng chẳng có nghiệp vụ khả năng gì mà an ủi và khuyên giải cho anh ta. Nên tạm thời chỉ biết chia sẻ một vài quan niệm cá nhân mà thôi. Theo mình thì chẳng có việc làm nào hoặc hành động gì trong cuộc sống này mà là "dã tràng" cả. Mọi ứng xử hành động đều có những tác động nhất định nào đó. Bởi có cái này tất có cái kia; tạo ra thứ này sẽ ảnh hưởng đến một thứ khác. Có nhân thì có quả, cho dù con người có chấp nhận hay không !

Nói cho chi tiết chút, thì lâu nay ai cũng biết, sinh lão bệnh tử là những chuyện tất nhiên không thể tránh khỏi. Có sinh tất có diệt. Thậm chí có nhiều người còn sinh ra và chết đi trong cùng một bệnh viện, hoặc trong cùng một ngôi nhà, một nơi chốn, một làng quê, hoặc tỉnh thành đất nước nào đó. Và đoạn đời nằm giữa 2 thời khắc sinh tử đó của mỗi con người là những đoạn ngắn dài khác nhau, vui buồn khác nhau, tìm kiếm và mưu cầu những thứ khác nhau. Có người dành hết quãng đời của họ để mưu cầu danh vị, mưu cầu tiền tài, mưu cầu tình yêu, mưu cầu quyền lực ..v.v. hoặc đeo đuổi những thứ mà họ cho rằng đó là thành đạt hoặc hạnh phúc. Rồi cũng có những con người dành cả cuộc đời để sống buông bỏ, sống vì người khác, tập xa dần với những gắn bó (attachment) và ham muốn, để thực hành đời sống đơn giản và tỉnh thức ..v.v.. Và dĩ nhiên bên cạnh đó cũng không hiếm những mảng đời sinh ra chỉ để lam lũ kiếm sống, hoặc chịu đựng từng ngày từng khắc, rồi chết, mà chưa hề có dịp để nghĩ đến những ý nghĩa rộng lớn hơn, hoặc mục đích sống xa hơn chén cơm manh áo. Thế gian quả nhiên đa dạng, mỗi người mỗi cảnh !

Tuy nhiên, dù cho giàu nghèo hay sang hèn, thì mỗi người cũng đều có một cái "tôi" riêng biệt dành riêng cho họ. Còn cái "tôi" đó lớn hay nhỏ, cao siêu hay thấp bé, ngạo nghễ hay khiêm tốn ....là tùy thuộc vào nhiều yếu tố nhân duyên khác nhau. Nhưng theo quan niệm của đạo Phật, thì cái "tôi" đó không có thực, nên mới gọi là "vô ngã". Tiếng Pali gọi là Anatta, tiếng Sanskrit gọi là Anatman, còn tiếng Ăng lê thì gọi là “non-self” hoặc “substanceless”. Mà thôi, nói đến mấy chuyện này, cả đời chưa hết. Có khi không thấy "vô ngã", mà lại thấy "vả nhau" :-) .

Nhớ mới cách đây mấy năm, Robert Wright cho ra cuốn sách "Why Buddhism is True" (tạm dịch: Tại sao đạo Phật là sự thật". Trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất của The New York Times năm đó. Thế là ôi thôi nhiều ông nhiều bà đăng đàn phân tích tranh cãi, phỏng vấn tùm lum. Cũng may là cuối cùng cuốn sách vẫn chỉ là cuốn sách :-).

Đơn giản là có theo tôn giáo nào chăng nữa, hoặc theo văn minh khoa học, triết ta, triết tây gì thì cuối cùng cũng đồng ý với nhau là cái "tôi" của con người được tạo ra bởi 2 thứ, là thân và ý (body & mind). Còn những chuyện linh hồn cao xa hơn nữa thì chưa thấy chưa biết, nên không dám bàn thảo ở đây.

Đại đa số các nhà khoa học và tôn giáo cho rằng mỗi con người sinh ra, cho dù đen trắng vàng đỏ gì thì cũng bình đẳng như nhau, đều được làm chủ một "doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn", gồm có 5 nhân viên và một giám đốc. Hoặc nói cách bình dân hơn là có 5 thợ 1 thầy. Năm nhân viên đó có chuyên môn cao, mỗi người phụ trách một lãnh vực, làm việc độc lập nhau, không ai thèm nói chuyện với ai. Đó là "mắt, tai, mũi, lưỡi, thân". Còn ông giám đốc là "mind", chỉ đạo hết 5 anh kia. Năm nhân viên ra ngoài tiếp cận với thế giới chung quanh, sờ, nắm, ngửi, thấy, nếm ..v.v.. rồi về báo cáo cho lãnh đạo là anh giám đốc. Lãnh đạo quyết hết, chỉ đạo cái nào ngon dở, nóng lạnh, sướng khổ, vui buồn, đẹp xấu, vinh nhục, hơn thua ....trong kiếp sống này.

Còn nếu có ai hỏi là đội ngũ nhân viên đó tài giỏi không ? tin tưởng được không ? Thì chắc chắn trả lời là nhất rồi. Đích thân sờ nắm, ngửi nếm, thấy tận mắt, nghe tận tai, sao sai được ?  Mặc dù tính ra thì mắt con người không nhìn rõ bằng mắt con diều hâu, tai con người thính không bằng con nai con báo, mũi con người không nhạy bằng con chó con chồn ....Nhưng không ăn thua, lãnh đạo quyết thì phải đúng thôi :-).
Và cũng chính có 5 nhân viên này (thân -body) và ông sếp (ý - mind) mà con người mới tương tác được với thế giới chung quanh, hình thành nên những sự cảm nhận, thụ hưởng, hoặc nhận thức về vũ trụ quan & thế giới quan. Rồi từ đó, tuỳ theo những hình thức tương tác và trạng thái thọ tưởng, cũng như các hệ quả phát sinh từ nghiệp lực của chính họ,  mỗi cá nhân lại tiếp tục xoay vòng tạo ra những duyên nghiệp khác. Người ta gọi những nhận thức, ý thức, và sự thọ tưởng đó bằng những danh từ khác nhau như giác quan, uẩn, ấm, căn, trần, thức (consciousness) .v.v. Nhiều vị cao siêu hơn nữa thì dùng cả tiếng Phạn, tiếng Anh, tiếng Hán, để giải thích cho rõ ràng, nhưng thực tế thì ngôn ngữ lúc nào cũng hạn chế, không diễn tả hết được, mà chỉ có mỗi người tự thân trải nghiệm. Nôm na thì cũng vẫn tạo ra bởi năm thợ và một thầy đấy thôi. (Đây là một đề tài tương đối sâu sắc của PG, với phạm vi một vài bài phiếm luận không thể nào nói hết được. Xin lỗi nếu có gây ra những hiểu lầm. Mình không biết nhiều, chỉ mạn phép bàn đến một vài ý nhỏ thôi, nếu bạn nào muốn tìm hiểu thêm, nên tra cứu về "Eight Consciousnesses").

Riêng anh giám đốc lãnh đạo (mind) thì mới là ghê gớm. Cái "tôi" của mỗi con người khác nhau, hạnh phúc hay đau khổ, thiên đường hay địa ngục, là cũng do anh lãnh đạo này. Không như 5 anh nhân viên quèn kia, phải ở cự ly gần mới nhận biết sự việc. Anh giám đốc thì tài ba hơn nhiều, trên thông thiên văn dưới rành địa lý. Chuyện không anh có thể biến thành có, chuyện có anh có thể biến thành không. Chuyện lớn anh có thể hoá giải thành nhỏ, chuyện nhỏ anh có thể vẽ thành to. Tất cả đều do anh liên tưởng mà thành, thiện nghiệp hay ác nghiệp cũng bắt đầu từ chỗ anh mà sinh ra. Ngồi VN mà biết chuyện ở Mỹ ở Tàu. Ngồi chùa Ba Vàng mà biết chuyện "oan gia trái chủ". Ngồi quán nhậu mà biết chuyện Trump chuyện Biden. Ngồi trong công ty mà biết thằng kia đang chửi lén mình bên ngoài. Cùng ngồi nhà đọc internet, nhưng biết đám kia đọc "fake news" hiểu bậy, còn mình đọc đúng hiểu đúng. Nằm ngủ mà biết ngày mai xổ số ra con gì. Thậm chí không cần nhìn, không cần nói chuyện, cũng biết thằng hàng xóm kia đang suy nghĩ chê mình cái nhà nhỏ, cái xe cùn. Hãy đợi đấy, tao sẽ làm cái lớn hơn cho mầy sợ chơi :-)...v.v.

Tài ba như thế, thông thái như thế, nên vui sướng hay khổ hạnh, mạnh mẽ hay yếu đuối, ngục tù hay thanh thản, hoang tưởng hay thực tế, huyễn mộng hay tỉnh thức ....của mỗi con người, đều do anh giám đốc có tên Ý thức (Mind) này quyết định tất cả. Và cũng theo quan niệm của Duy thức học, thì chính anh giám đốc "Mind" này dưới sự cố vấn tối cao của "manas consciousness" (Mạt na thức), đã tạo ra những ứng xử khác nhau trong đời sống hàng ngày. Đây cũng chính là nguồn gốc của nghiệp lực cho từng mỗi cá nhân. Cho nên mỗi con người luôn có tính cách hành xử khác nhau. Dẫu là cha con anh em ruột thịt, đồng bào đồng chí đồng rận, thì chắc gì tham ái hỉ nộ hoặc trí huệ lại giống nhau …? Thực ra mỗi người sinh ra đều có sẵn cho mình một anh "giám đốc lãnh đạo", tuyệt đối không anh nào giống anh nào. Nhưng giỏi hay dở, thông thái hay ù lì, mạnh hay yếu, ngạo nghễ hay khiêm tốn, thiện lương hay gian ác, cũng nhờ vào sự tu dưỡng, và cái vốn liếng nhân duyên cũng như nghiệp lực của họ.

Một số người cho rằng cái "công ty trách nhiệm hữu hạn 6 thành viên" đó chết là hết, không cần khai phá sản. Nhưng tôn giáo thì lại có những quan niệm về sự sống và cái chết khác nhau riêng biệt. Những khái niệm về linh hồn & đấng cứu rỗi, thiên đường & địa ngục, sự sống sau khi chết...v.v. luôn tồn tại ở thế gian này và là những đức tin đáng tôn qúy. Mình cho rằng bất kỳ một đất nước hoặc thể chế chính trị nào, tự do tín ngưỡng của con người cũng cần phải được tôn trọng. 

Riêng đạo Phật, vốn đề cao sự tu tập và tỉnh thức của mỗi cá nhân để tìm ra sự giải thoát cho chính mình. Cho nên họ quan niệm rằng những trình tự của sự tái sanh (nếu có) là hoàn toàn tuỳ thuộc vào nguồn năng lượng sống cũng như nghiệp lực của mỗi chúng sinh tự tạo ra. Đạo Phật có một quan niệm rất khác biệt so với một số tôn giáo khác. Đó là khái niệm về 8 Thức trong Duy Thức học (Eight Consciousnesses). Nói một cách chính xác hơn là khái niệm này được hình thành từ Phật giáo Đại thừa, để giải thích quá trình tái sanh của con người sau khi chết. Nôm na là con người sinh ra do nghiệp lực của sự vô minh (ignorance) từ tiền kiếp. Ngoài 6 thức "nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý" (6 consciousnesses) kể trên, con người còn có thức thứ 7 (Mạt-na thức) và thức thứ 8 (A-lại-da thức). Khái niệm A-lại-da thức là cơ sở của Duy thức tông, giải thích sự hiện hữu của "con người". Theo đó, các chủng tử, tức là các hạt mầm của Nghiệp (sa. karma, pi. kamma) được chứa đựng trong A-lại-da thức và đợi nhân duyên đầy đủ sẽ hiện thành tư tưởng và hành động. 

Nói một cách dễ hiểu nhất, A-lại-da thức được ví như một kho tàng của các loại hạt giống, gồm những thiện nghiệp và ác nghiệp mà mỗi chúng sinh đã tạo ra trước đó. Nên khi ra đời, mỗi chúng sinh đều đeo theo một bao hạt giống sau lưng, tạm ví như có cả đậu đen (xấu) và đậu trắng (tốt). Khi gặp thời cơ thuận lợi, đủ nắng đủ nước, thì hạt giống sẽ được nảy mầm, lên cây, và đơm hoa kết trái. Có những trái ngon trái ngọt, thì cũng có những quả đắng quả chua. Kết quả thu gặt được là "quả" do những "nhân" trong quá khứ đã làm ra, mà không thể trốn tránh, chối bỏ nó. Những hạt (chủng tử) này sẽ liên tục được thay đổi, thêm bớt mỗi ngày trong cuộc sống. Hoặc là thiện hơn (hoàn thiện), hoặc là ác hơn và tiếp tục lưu trữ lại vào kho tàng A-lại-da thức. Nhiều đậu đen hơn hay nhiều đậu trắng hơn, là do những hành động và ý thức của mỗi chúng sinh trong cuộc đời của họ tạo ra (karmic seeds). Người nào tu tâm dưỡng tánh, thực hành thiền định, chánh tâm, chánh nghiệp, chánh ngữ ...v.v.. cho đến khi túi hạt giống đó chỉ còn đậu trắng thôi, đậu đen đem ra nấu chè ăn hết, thì coi như ngon lành :-). Kinh sách PG cũng nói đến nhiều cách để tự thay đổi mình, để tu sửa bản thân, để học hỏi và thực chứng. Ai cũng có quyền bình đẳng chọn lựa cách sống, đức tin, và phương pháp học hỏi phù hợp với điều kiện của mình, chứ không nhất thiết phải đi theo thuyết của ông sư tiến sĩ này, hoặc của bà thượng sư nọ thì mới giác ngộ được. Thời buổi này kinh sách, tài liệu chính thống có nhiều, nêm tìm hiểu thêm để tránh những nhầm lẫn đáng tiếc. Còn đối với những bậc giác ngộ cao siêu hơn nữa, thì chắc cũng chẳng còn thấy đậu trắng đậu đen, chẳng hạt chẳng mầm, chẳng duyên chẳng nghiệp gì nữa. (Tất nhiên đây cũng chỉ là những quan điểm tôn giáo, mỗi người nên tự tìm hiểu và chọn lựa niềm tin cho riêng mình. Đạo Phật không chủ trương ‘blind faith’, tức là tin một cách mù quáng, tin mà không hiểu bản chất sự việc). 

Nói đến đây mới nhớ đến sách Phật ngày xưa có câu chuyện như sau. Một nhà thông thái đi tìm ông sư đắc đạo mà hỏi: 

- Ngày xưa khi chưa đắc đạo, ông làm gì ?
- Gánh nước, chẻ củi, nấu cơm...
- Vậy sau khi đắc đạo ông làm gì ?
- Thì cũng vậy thôi. Gánh nước, chẻ củi, nấu cơm...
- Sao lạ vậy ? Vậy thì khác nhau chỗ nào ?
- Khác là hồi trước lúc gánh nước thì nghĩ tới chẻ củi. Lúc chẻ củi thì nghĩ tới nấu cơm. Giờ thì làm cái gì nghĩ cái nấy !

Cho nên mình cũng không ngạc nhiên lắm nếu có một ngày nào đó, ông bạn bảo hiểm của mình tới nói rằng:
- Hồi xưa chưa đọc sách Phật, thấy công lao cả đời chỉ là dã tràng. Bây giờ đọc xong sách Phật, cũng thấy công lao cả đời chỉ là dã tràng. Chỉ khác nhau là hồi đó buồn, giờ lại thấy vui !

Rất mong là vậy. Hì hì hì ...:-)

PN (11/2020)

Sunday, September 27, 2020

Ăn mặn khát nước



Hôm tuần rồi nói chuyện với ông anh, anh ấy có đề cập đến chuyện nhân quả bên nhà Phật "đời cha làm, đời con chịu". Lâu nay, thỉnh thoảng mình cũng thường nghe một số người nói như vậy. Hôm nay, rảnh rang, xin đóng góp chút ý kiến cá nhân về đề tài này.

Trước hết phải nói khái niệm "nhân quả" không phải của nhà Phật, mà là quy luật chung của vũ trụ này,  và không hề là sản phẩm riêng của một tôn giáo nào. Các trường học trên thế giới lâu nay vẫn dạy nguyên tắc nhân quả (cause and effect) như một quy luật tất yếu của xã hội tự nhiên. Dĩ nhiên là mỗi tôn giáo có cách diễn đạt và giảng giải riêng về những nguyên tắc này theo cách hiểu riêng của họ. Đạo Phật cũng thế !

Xưa nay luật nhân quả luôn đúng, gieo nhân nào gặt quả ấy. Trồng ớt đương nhiên phải ra trái ớt, trồng cà đương nhiên phải ra trái cà. Từ ngàn xưa, trước khi Đức Phật xuất hiện, trước khi Chúa Jesus ra đời, thì quy luật này vẫn xảy ra như thế. Cuộc sống ngắn ngủi, mà hạt giống nào thì cũng cần phải có những điều kiện "nắng gió" nhất định để nảy mầm. Có hạt nảy mầm ngay, có hạt đợi đến những điều kiện phù hợp khác. Cho nên có lúc người ta không nhìn thấy những kết quả hiện tiền, mà sinh ra ngờ vực về đạo lý của nó. Đạo Phật thì tuyệt đối tin vào thuyết nhân quả, và tin quá trình gieo gặt nhân quả không những chỉ xảy ra trong đời sống hiện tiền, mà còn xảy ra trong quá trình tái sinh, tuỳ vào nhân duyên của sự việc. Những hạt giống chủng tử tốt xấu (karmic seeds) do con người tạo ra luôn nằm sâu trong tạng thức (alaya-consciousness) của mỗi con người, đến khi có đủ điều kiện thì sẽ sinh sôi nẩy nở. Đơn giản là vậy, và mình luôn tin vào đạo lý này. 

Chính xác hơn là hầu hết những điều giảng giải của Đức Phật đều dựa vào những gì thực tế xảy ra chung quanh trong đời sống. Quan niệm của PG chú trọng đến sự nhận thức và thực hành của tự mỗi bản thân, chứ không dựa dẫm vào những hứa hẹn cứu rỗi từ bên ngoài. Tuy nhiên, trãi qua bao thời gian thăng trầm và phát triển, ngày nay ai cũng thấy được PG đã bị ảnh hưởng rất nhiều về những hình thức và màu sắc văn hoá dân tộc khác nhau. Nhiều nơi biến tướng và lý giải đạo pháp thành những câu chuyện mê tín dị đoan, không đem lại sự tỉnh thức cho con người. Thậm chí có nhiều nơi còn ngộ nhận, giảng dạy những điều đi ngược lại với giáo lý cơ bản nhất của PG. Cho nên xưa nay nhiều người vẫn quan niệm rằng "cái áo không làm nên ông thầy tu". Trong việc chùa chiền và tín ngưỡng, nếu tin mà không hiểu, không những đi ngược lại với giáo lý nhà Phật, mà còn dễ gây ra tổn thương cho chính mình và người thân chung quanh.
Trong những thập kỷ gần đây, ngày càng nhiều những câu chuyện lạm dụng của các sư thầy quốc doanh. Lợi dụng đức tin (chưa thấu hiểu) của tín đồ để vụ lợi, gây rối xã hội và lũng đoạn niềm tin tôn giáo. Tất nhiên là bên cạnh đó, còn có rất nhiều vị tu sĩ chân chính, cha đạo, tăng ni, sư thầy, đức độ dấn thân dẫn dắt người khác tu tập đạo pháp. Cho nên thiết nghĩ việc sáng suốt nhận định và tìm hiểu trước khi gởi gắm niềm tin bao giờ cũng là cần thiết.

Trở lại vấn đề là có hay không chuyện PG cho rằng "đời cha làm thì đời con sẽ chịu". Thực ra thì tới giờ này mình cũng chưa đọc được cuốn kinh sách PG nào nói như vậy. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là trong kinh sách VN không có nói như vậy. Có một điều cần phải làm rõ là - Không phải kinh sách PG nào hôm nay cũng được diễn dịch từ nguồn chính thống mà ra, hoặc diễn đạt đúng ý nghĩa của những bản kinh nguyên thuỷ hoặc lời giảng dạy của Đức Phật, bởi có rất nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau. Dĩ nhiên là trãi qua gần 2600 năm, tàn phá chiến tranh, xã hội phân hoá, tư tưởng dị biệt, quan điểm cá nhân, văn hoá đất nước khác nhau, ngôn ngữ dịch thuật  .v.v... lần hồi sẽ có những thêm bớt vô tình hoặc diễn giải sai lệch. Cho nên kinh điển PG ngày nay chắc chắn không tránh khỏi ít nhiều những quan điểm khác biệt tuy cùng xuất phát từ những giáo lý hoặc nguyên tắc chung ban đầu. Và không phải chỉ riêng PG, các tôn giáo khác cũng đều gặp những vấn đề tương tự khi bị ảnh hưởng bởi những yếu tố thời gian, xã hội, nhân văn, và địa lý khác nhau. Điều này cũng bình thường thôi, và chắc chắn sẽ còn tiếp tục thay đổi trong tương lai sau này.

Nhìn chung, kinh sách PG ở Vietnam đa phần là được dịch từ các phiên bản tiếng TQ ngày xưa. Các phiên bản bên TQ thì được dịch ra từ tiếng Phạn qua rất nhiều thời kỳ, bởi những bậc tri thức cao tăng như Sư Pháp Hiển (Faxian), Ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva), Ngài Huyền Trang (Xuanzang) ...v.v. Sau đó được dịch nghĩa hoặc phiên âm qua tiếng Việt, nên dĩ nhiên có nhiều từ ngừ cũng rất khó hiểu. Cho nên nếu người nào quá chú trọng vào từ ngữ thì nội việc nhớ cho đúng những chữ nghĩa ấy cũng đã là một vấn đề rồi. (Nhiều vị nhớ xong là cũng không còn thời gian để thực hành nữa, mà chỉ đem ra bàn nhậu bàn loạn hoặc để dành làm thơ :-) ) 

Ngược lại đối với phương Tây thì những nhà học giả như Max Muller (Đức), Edward Conze (Anh), dịch thẳng kinh sách PG từ tiếng Pali hoặc Sanskrit, nên diễn đạt vấn đề đơn giản hơn và gần gũi hơn. Cho nên nếu ai đọc được tiếng Anh, thì những kinh sách PG tiếng Anh thường diễn giải trực tiếp hơn. Ngày nay có rất nhiều tu sĩ phương Tây thực hành PG. Đại đa số đều hiểu biết PG như một nguyên tắc sống và thực hành cuộc sống tỉnh thức an lạc dựa vào tự bản thân họ, chứ không mang màu sắc mê tín, hoặc dựa vào các đấng quyền năng. (Mở ngoặc chút, nhớ hồi xưa đọc "Câu chuyện dòng sông" của Hermann Hesse, từng đoạt Nobel Văn chương 1946. Lúc đó mình cứ thắc mắc tại sao một người Đức lại có thể hiểu biết đạo Phật tới mức sâu sắc như vậy, mà chưa chắc nhiều vị chư tăng Á đông khác hiểu thấu như thế. Sau này mới hiểu thì ra các nhà dịch thuật phương Tây đã dịch rất nhiều kinh sách PG từ tiếng Sanskrit/Pali trước đó lâu rồi).

Bởi vậy, khi nói với những vị tu sĩ PG phương Tây quan niệm "Đời cha ăn mặn, đời con khát nước" thì chắc có lẽ rất xa lạ với họ. Đạo Phật vốn cho rằng mỗi người tự chịu trách nhiệm với nghiệp lực của mình tạo ra, và cũng chính họ là người duy nhất có thể thay đổi được nghiệp lực đó, thông qua những trí huệ và thực hành họ đang làm mỗi ngày. Còn nếu ai đó làm bậy bạ, mà ông Phật ông Chúa nào đó bắt con cái họ phải chịu thay, thì kiểu như là chính sách chứng lý lịch ba đời rồi còn gì :-) .

Tuy nhiên, mình nhớ là có nghe qua một số diễn giải về việc "nhân quả" na ná như ý này từ thời còn ở VN. Nhiều ý kiến cho rằng nhân quả được chia ra làm 3 trường hợp :

- Hiện báo: là xảy ra trực tiếp, ngay và liền - Như hôm nay nhậu quá, sáng mai nhức đầu. Trưa làm mấy tô bún mắm, chiều khát nước. Hôm nay lười học, mai bị điểm xấu. Hoặc cao kiến hơn "Nhân bất học bất tri lý, nhỏ không học lớn làm đại úy :-) ...v.v..

- Sinh báo: Gieo nhân kiếp này, kiếp sau mới hái quả.

- Hậu báo: Tức là tạo nghiệp bây giờ, sau này phải trả. Cũng không hiểu là "hậu báo" khác nhau với "sinh báo" chỗ nào, có thể là nhiều kiếp sau mới trả nợ chăng ? Mình không hiểu lắm, nhưng đóan có thể là vì khái niệm này mà dẫn đến quan niệm "đời cha ăn mặn, đời con khát nước" chăng ?

Không rõ sự phân loại như trên xuất phát từ đâu, nhưng mình không thấy kinh sách PG phương Tây đề cập đến vấn đề này, mà chỉ nhấn mạnh rất rõ về "Karmic Seeds", tạm dịch là hạt giống nghiệp lực, và quan niệm ai làm nấy chịu. Gieo hạt giống nào thì lên cây ấy, không phải bây giờ thì ngày sau sẽ hái gặt. Khi nào đủ nước, đủ đất, đủ nắng gió, thì hạt nẩy mầm, thế thôi. Ai ăn mặn thì tự họ khát nước thôi. Chứ không ai có khả năng bắt người khác lãnh nợ dùm mình cả. Có muốn cũng không được. Có trăm sư thầy tiến sĩ giáo sư, hoặc có ngàn chùa lớn nhất Vietnam, lớn nhất thế giới, cũng không làm được !

Còn tin vào đạo lý này hay không lại là chuyện khác. Quan niệm PG không kêu gọi ngưòi khác phải tin mù quáng, Đức Phật cũng bảo vậy, đừng máy móc tin vào Ngài mà hãy tự thực chứng dựa vào bản thân chính mình. Riêng đề tài này, nếu qúy vị nào hứng thú muốn tìm hiểu thêm thì mình nghĩ nên tìm đọc sách Duy Thức học nói về "A lại da thức". Hoặc sách tiếng Anh thì nên đọc về "Alaya Consciousness" hoặc "Alaya-Vijnana".

Tuy nhiên trong cuộc sống hàng ngày, mọi sự việc đều có mối liên hệ tương quan với nhau, bởi không có chuyện gì tự nhiên sinh ra và tự nhiên mất đi. Cho dù có tin "nhân quả" hay không, thì những chuyện như "gần mực thì đen gần đèn thì sáng" vẫn cứ xảy ra hiển hiện. Ví dụ như ông cha bất hiếu với bố mẹ, đứa con thấy vậy làm theo, không kính trọng ông bà cha mẹ. Bà mẹ mưu mô hại người, đứa con thấy vậy học theo, vướng luỵ vào vòng lao lý. Cha mẹ sống ảo, tham vọng ích kỷ, ảnh hưởng con cái khó sống buông bỏ, vị tha, nhẹ nhàng. Cha mẹ hối lộ tham nhũng, làm tiền dễ, con cái thấy vậy, tiêu xài hoang phí ..v.v. Âu cũng là những chuyện bình thường. Tất nhiên bên cạnh đó, xã hội cũng không hiếm những trường hợp cha mẹ gây ra nhiều oán nghiệp nhưng con cái lại rất thiện lương. Hoặc ngược lại cha mẹ đạo đức hiền lương, nhưng con cái lại gian tham ác độc. Cuộc sống này vốn đầy rẫy những câu chuyện nghịch lý như thế !

Và dẫu có sinh sống ở xứ sở nào cũng vậy, thỉnh thoảng cũng sẽ gặp những chuyện giận cá chém thớt, thù đời này truyền đến đời sau. Suy cho cùng, biết bao nhiêu hệ quả lâu dài vốn xuất phát từ tư duy và thiển kiến của mỗi cá nhân, nhưng lại ngộ nhận là "cha ăn mặn con khát nước". Quả nhiên có rất nhiều câu chuyện ân oán, tốt xấu trong cuộc sống chỉ đơn giản là tuân theo nguyên lý tự nhiên thôi, chứ cũng chẳng dính dáng gì tới tôn giáo hoặc quyền hạn của bất kỳ ai. Còn nếu cho rằng đó là "nhân quả" thì cũng ok thôi. Bởi cho dù có tin hoặc không tin, có gọi là "nhân quả" hay "báo ứng", hoặc có thể gán ghép bằng một mỹ từ nào khác nữa, thì bản chất cuối cùng của vấn đề cũng không thay đổi. Có cái này thì tất có cái kia ! Nhưng chắc là sẽ không có một tôn giáo hoặc đấng tạo hoá nào lại vô lý đến nỗi bắt đứa con vô tội "khát nước" dùm cho người cha "ăn mặn" của nó. Nếu có thì lâu nay ai muốn lên thiên đường đã bắt đi ủy ban chứng lý lịch rồi :-).

Nhân tiện cũng xin nói là mình không hề có ý dám qua mặt các tăng ni, bạn hữu, và những anh chị hiểu biết hơn, tu học cao kiến hơn. Mà chỉ là trao đổi với anh em bạn bè, mạn phép nêu ra vài ý kiến cá nhân. Đọc cho vui thôi !


Monday, September 21, 2020

Quan toà xứ Mỹ

Mình ra nước ngoài gần 40 năm rồi, nhưng chưa bao giờ thấy nước Mỹ có nhiều chuyện ầm ỉ như năm nay. Từ đầu năm tới giờ liên tục là những câu chuyện "nặng ký". Từ dịch bệnh lớn nhất đến mức đóng cửa cả nước Mỹ, trường học công sở đóng cửa, cho đến biểu tình cướp phá, mâu thuẩn kỳ thị sắc dân, đàn hạch tổng thống, rồi con cháu trong gia đình, luật sư thân tín, nhân viên, phóng viên thay nhau ra sách khai xấu kể tội tổng thống đương nhiệm, rồi chuyện moi móc đấu đá tranh cử bầu cử ...Choáng ! Mấy hôm nay lại rộn ràng chuyện bà thẩm phán tối cao pháp viện Ruth Bader Ginsburg vừa qua đời. Những tranh luận sôi nổi xảy ra, và chắc chắn sẽ ác liệt hơn trong những ngày sắp tới về việc thay thế vị trí của bà Ginsburg tại SCOTUS (tối cao pháp viện Hoa Kỳ). Bà Ginsburg thuộc đảng dân chủ, và là người từng được quốc hội Mỹ chấp thuận với số phiếu kỷ lục 97/3 cách đây gần 30 năm trước. (Nên lưu ý được bầu vô đây là làm hoài cho đến chết hoặc từ chức thôi. Dĩ nhiên là nếu làm bậy thì lại bầu bán đuổi ra, nhưng chuyện này rất hiếm hoi). Nghĩa là cả Cọng hoà và Dân chủ đều chấp thuận bà. Và rõ ràng bà là người rất có lòng với đất nước, rất đáng kính trọng. Bịnh tật ung thư tàn phá, nhưng vẫn không từ chức và làm việc cho đến ngày chết. (Cũng có thể sợ ông Trump bổ nhiệm người khác, nên ráng sống !)

Nói sơ cho những người chưa hiểu rõ về cơ chế chính trị ở Mỹ. Đó là chế độ tam quyền phân lập - Lập pháp (quốc hội) - Hành pháp (chính phủ, đứng đầu là tổng thống) - Tư pháp (đứng đầu là Tối cao Pháp viện SCOTUS). Ba ngành này kiểm soát lẫn nhau để duy trì nền dân chủ cao nhất, tránh sự độc tài, phe cánh, và lợi dụng quyền lực làm phương hại đến quyền lợi người dân và đất nước.

Cho nên mặc dù SCOTUS là do tổng thổng bổ nhiệm, nhưng phải được quốc hội đồng thuận với đa số phiếu ở thượng viện Hoa kỳ. Và ngược lại thì SCOTUS sẽ vì quyền lợi quốc gia và người dân trên hết, nên có quyền phủ quyết những quyết định của quốc hội và tổng thống Mỹ nếu vi hiến. Đó là nơi tối cao để phán xét những quyết định thuộc về công lý và tư pháp. Mỗi tiểu bang cũng có tối cao pháp viện của họ, nhưng phán quyết cuối cùng của nước Mỹ thuộc về SCOTUS. Cho nên đôi khi chỉ cần thay đổi một vị thẩm phán ở SCOTUS cũng có thể ảnh hưởng nhiều đến các chính sách và quyết định của chính phủ cũng như quốc hội Hoa kỳ.

Nói chung những vị thẩm phán ở SCOTUS phải rất là uy tín, học hành tới nơi tới chốn, thành tích dày cộm, và đạo đức phải trong sạch. Còn ông Chánh Án của SCOTUS thì dữ dằn hơn nữa vì coi như là vị cầm chịch nhóm này. Hiện nay số thành viên của SCOTUS là 9, nhưng không có nghĩa tương lai sẽ là 9 , trước đây cũng đã từng có nhiều thay đổi. Thông thường là các vị thẩm phán kể cả ông Chánh Án (Chief) đều được chỉ định bởi các tổng thống hoặc Dân chủ hoặc Cọng hoà, bởi bản thân họ cũng thuộc một trong 2 đảng. Tuy nhiên khi vào những vị trí này, thì hầu hết các vị thẩm phán đều ứng xử vì quyền lợi quốc gia trên hết, tuân phủ theo quy định của hiến pháp, chứ không phải quá lệ thuộc vào quyền lợi của đảng phái. Đặc biệt là vị chánh án tối cao, hiện nay là ông John Roberts (The chief justice of the United States is the chief judge of the Supreme Court of the United States and the highest-ranking officer of the U.S. federal judiciary). Vị trí này thường phải chí công vô tư, vì là người giữ gìn những giá trị cơ bản nhất của nền tư pháp và công lý cho đất nước. Bởi vậy thông thường quyền lợi của đảng phái không phải là những tiêu chí cao nhất đối với họ trong những ứng xử và phán quyết sự việc.

Nhưng đó là chuyện đã qua, chuyện của ngày xưa. Lâu nay, với những nền tảng luật pháp dân chủ, qui định của hiến pháp, giá trị của lòng tự trọng và nguyên tắc làm người của các vị SCOTUS, đã góp phần đưa nước Mỹ trở nên một quốc gia hùng mạnh nhất trong vòng 300 năm dựng nước. Còn hôm nay thì sao? Những năm gần đây dường như sự cạnh tranh quyền lợi của đảng phải trở nên khốc liệt và tiểu tiết hơn nhiều. Người ta nhận ra và e ngại rằng quyền lợi quốc gia đã không lớn bằng sự thắng thua của đảng phái (dân chủ & cọng hoà). Các luật lệ của quốc hội cũng đã trở nên già nua, theo thời gian và tuổi tác của các vị dân biểu kỳ cựu. Ranh giới của sự quyết đoán và sự bảo thủ cũng chỉ là những đường ranh rất nhỏ. Có lẽ cũng tới lúc đất nước Hoa Kỳ cần nên tu chính lại một số luật lệ. Có chiếc xe nào chạy mãi mà không phải tune-up đâu nhỉ ? Hy vọng đất nước Mỹ sớm có một vị tổng thống và ê kíp đủ mạnh mẽ, thông mình và tầm nhìn chiến lược để tune-up chiếc xe tuy đẹp đẽ mạnh mẽ nhưng đã hơi cũ kỹ này. Đặc biệt là phải hiểu rõ quyền lợi quốc gia và trách nhiệm an dân lớn hơn nhiều so với quyền lợi đảng phái. Hy vọng sẽ thấy được nhiều điều mới lạ trong những ngày sắp tới :-)

Với mình, người mà mình rất thích và tôn trọng nhất đó là ông John Marshall, người Chánh án Tối cao pháp viện đời thứ 4 của nước Mỹ. Người đã đưa khái niệm lương tâm vào trong việc thực thi pháp luật và công lý. Ông là nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử toà Tối cao Pháp viện của Hoa Kỳ, và đặc biệt là ông không có bằng cấp luật nào. (Đại đa số mấy ông sau này ông nào cũng là tiến sĩ, giáo sư luật, hoặc những bằng cấp hoặc chức vụ, thành tích dày cộm liên quan tới luật hoặc ngành tư pháp).

Dĩ nhiên là nhiều người thắc mắc, sao ở đâu cũng vậy, nưóc nào cũng thế, sao tổ tiên giỏi quá, vĩ đại quá, mà con cháu thì lại kém cỏi, hùng hục hơn thua nhau, lén lút đâm thọc nhau.... lo cho cái riêng, mà không nghĩ cho cái đại cuộc? Vậy thì cuối cùng đất nước sẽ về đâu, đi lên hay đi xuống? 

Một câu hỏi mà những ai có lòng cũng thường ưu tư lâu nay !



Monday, September 14, 2020

Tản mạn chút chơi : Gáo tra dài cán

Nhân có người bạn quen hỏi mình câu "làm ơn mắc oán" trong tiếng Việt dịch ra tiếng Anh là gì, nên tào lao một chút cho vui. Thực ra dịch thuật là chuyện rất khó khăn, đặc biệt là những chữ nghĩa hay câu cú mang hàm ý sâu sắc. Theo ý mình tốt nhất là kiếm trong cái ngôn ngữ mình muốn dịch ra, có câu cú nào tương tự không rồi bê nguyên vào là dễ nhất. Như trong tiếng Anh có câu “No good deed goes unpunished”, cũng có thể tạm dịch là "Làm ơn mắc oán" !

Thực ra thì ngôn ngữ nào cũng vậy, có nhiều chữ không có từ tương đồng trong ngôn ngữ khác, nên phải dịch ý dông dài hơn. Bởi dịch không cẩn thận sẽ không trọn nghĩa được mà có thể còn bị sai lệch ý chính, dễ gây hiểu lầm. Nên có lúc người ta chỉ dịch ý hoặc đành dùng cách phiên âm. Như trong kinh sách Phật Giáo, thường thấy phiên âm thay vì dịch nghĩa. (Ví dụ như chữ Prajna trong tiếng Phạn, chỉ phiên âm thành chữ "Bát Nhã") thôi. Còn thời này, thấy nhiều người nhờ bác google dịch là bá đạo rồi :-).

Giờ trở lại cái đề tài "làm ơn mắc oán". Mấy câu chuyện này thì từ nhỏ tới giờ nghe hoài, nhất là trong truyện dân gian VN. Bên phương Tây thì thỉnh thoảng cũng có nghe đến những đề tài này, nhưng ít hơn. Đại loại như câu chuyện ở Thế Chiến II, một gia đình Do Thái bị bức hại, người con trai cả và trai út chia nhau ra đi tìm người giúp đỡ. Người con trai cả đi tìm những người từng giúp đỡ mình, còn người con trai út thì tìm đến những người bản thân họ từng được anh ta giúp đỡ để nhờ. Kết quả là người con trai cả được cứu, còn người con trai út thì bị bán đứng. Câu chuyện muốn nói đến "Những người đã từng giúp bạn là người thực sự yêu thương bạn, họ không vì mục đích khác. Nhưng những người mà bạn từng giúp đỡ, bạn từng yêu thương, thì chưa chắc sẽ cứu giúp bạn khi bạn gặp khó khăn".

Đó cũng những chuyện thường xảy ra trong cuộc sống này, mặc dù không phải là những câu chuyện hay ho gì. Mình luôn nghĩ rằng giống dân nào cũng thế, đen trắng, tây ta, sang hèn, gì cũng thế, đã là con người, thì vô minh dày đặc, nên những câu chuyện như thế xảy ra cũng là tất nhiên thôi. Nếu có khác nhau là ở chỗ những người hiểu đúng ý nghĩa của việc thiện dẫu có bị "mắc oán" ngàn lần, họ vẫn tiếp tục công việc “làm ơn” của họ. Ngược lại, thì người ta sẽ có nhiều phản ứng khác nhau. Có người không nhịn được, chửi thề hò hét, đập bàn đá ghế, rồi dẹp luôn, lần tới không giúp nữa. Cũng có người bực mình bức xúc một thời gian, rồi lại quên, vẫn làm chuyện nghĩa tiếp tục. Cũng có người âm thầm nhưng cay đắng, bỏ luôn cả công việc “làm ơn” tử tế của họ....Thế thôi, cuộc sống vốn đa dạng vậy mà :-) . 

Ngày xưa, có câu chuyện thiền sư Aryasimha, trước khi bị vua Kế Tân chém đầu, đã phát nguyện: "Ngay khi đắc thành đạo quả sau này, người đầu tiên tôi sẽ độ, chính là bệ hạ". Bởi thế, nên ông ta mới thành Bồ tát, còn chúng ta thì vẫn còn ở thế gian ăn nhậu mỗi ngày, đập bàn đập ghế, nóng giận hò hét  chửi thề...:-). Còn nói về đời sống xã hội hàng ngày, thì có muôn ngàn kiểu cách oán thù, to nhỏ khác nhau, từ cách bình dân cho đến cách “hàn lâm” của giới thượng lưu. Thời đại bây giờ ngày càng nhiều những câu chuyện đeo đuổi hận thù, hãm hại, vu khống, mạ lỵ, lập facebook, rủ rê lập bè lập nhóm, dựng chuyện vu khống nói xấu kẻ khác. Có nói không, không nói có. Rồi lan truyền vô tội vạ, nghe đi nghe lại, nói tới nói lui, không phân tích, không kiểm chứng, con chuột bỗng chốc biến thành con voi. Thậm chí cũng chẳng cần có hận thù gì, chỉ là thấy ganh ghét ai đó, dựng chuyện nói bậy, câu view, vẽ rồng vẽ rắn cho vui thế thôi. Nôm nà là cuộc sống ngày nay có vô vàn kiểu cách gây thù chuốc oán. Trong văn chương phim ảnh cũng vậy, đầy rẫy những thông điệp hận thù dai dẳng. Nào là ân đền oán trả, quân tử 10 năm báo thù chưa muộn, mối thù truyền kiếp, kẻ thù không đội trời chung, có thù không báo không phải là người ...v.v.. Bởi vậy nên phim Tàu & phim Hàn quốc lúc nào làm ăn cũng khấm khá :-). Theo thống kê tâm lý, thông thường con người chóng quên chuyện ân nghĩa, nhưng lại nhớ lâu chuyện oán thù. Có người còn quan niệm sống để dạ chết mang theo. Thế nên cuộc sống mới phiền phức và lắm chuyện để nói :-) .

Còn nói đến nguyên nhân chi tiết của những câu chuyện "làm ơn mắc oán", thì chắc là vô số, làm sao biết hết, mà có biết cũng làm sao kể hết ? Nhưng có một nguyên nhân rất dễ thấy, mà bản thân mình cũng thường gặp thường nghe, đó là "Giáo đa tất oán", mình thường nói đùa là "gáo tra dài cán".

Nghĩa là do lòng tốt khuyên bảo giúp đỡ, mà gây ra oán thù. Trong đời sống hàng ngày, cũng thường nghe, thấy, những trường hợp người có lòng giúp đỡ chỉ dạy cho kẻ khác mà đôi khi phải gặt hái lãnh chịu hậu quả “xấu”. Tất nhiên mỗi người mỗi cảnh, có trường hợp chỉ vì muốn cho người thân, vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, bạn bè ... đạt được những điều tốt đẹp, mà nhiều người đã phải hy sinh tài lực, bỏ hết tâm huyết để giúp đỡ chỉ bảo. Tuy nhiên, chính vì mong muốn và chờ đợi quá nhiều, nên nhiều khi dạy dỗ quá mức, kỷ luật nghiêm khắc, kiểm soát chặt chẽ, nhắc nhở thường xuyên...Đôi lúc quá đà lại trở thành phản tác dụng, sinh ra oán giận hờn trách, mâu thuẫn hận thù. Xa hơn nữa, có nhiều người suốt ngày thực tâm làm thiện, bất chấp vụ lợi để giúp đỡ kẻ khác, chẳng màng đến tiền bạc danh tánh. Tuy nhiên đôi lúc chính vì nghĩ rằng mình đang làm chuyện tốt nên vô tư quá, nhiệt tình quá, thẳng thắn quá, siêng năng quá ... Vô tình gây ra nhiều áp lực cho người chung quanh, hoặc tạo ra những đố kỵ mâu thuẩn không lường trước được. Thế là cũng dẫn đến những giận hờn oán trách không mong đợi. Bản thân mình cũng biết nhiều người từng rơi vào những cảnh ngộ tương tự. Dĩ nhiên đại đa số ai cũng cho mình là đúng, nên ít khi tự đặt vào hoàn cảnh người khác. Mà cái tôi càng to thì đụng chuyện, hận thù càng lớn. Túm lại có ý tốt chưa chắc dẫn đến kết quả tốt, mà nhiều khi lại tạo ra sự hiểu lầm, kết thù gây oán, mâu thuẫn với nhau.

Còn trong đời sống thì những chuyện không đồng thuận với nhau có quá nhiều. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nguyên cớ khác nhau. Đằng sau mỗi câu chuyện đều có những hoàn cảnh để nói. Có khi chỉ đơn giản là không hiểu ý nhau, cách làm không phù hợp nhau, tư duy trình độ khác nhau, tính cách khác biệt nhau, hoặc xung đột quyền lợi nhau, ganh ghét đố kỵ nhau .v.v.. Mà chỉ cần không đồng thuận đồng tình, không đồng sàn đồng rận với nhau thì đã có biết bao nhiêu câu chuyện ân oán sẵn sàng chờ đợi xảy ra. Cho nên không ngạc nhiên lắm khi nghe những câu chuyện như xả thân giúp đỡ người khác, tâm huyết xây dựng, nhưng lại gặp kẻ không biết ơn, không hiểu thấu, lại trách móc giận hờn, sanh tâm thù hận.v.v... 

Tóm lại, chuyện ân oán là chuyện dài của con người, nối đuôi chằng chịt, nói mãi không bao giờ hết. Có nhiều người suốt đời chuyên làm việc ân nghĩa, giúp đỡ bất cứ ai, nhưng có thể chỉ cần một lần từ chối giúp người thôi, lập tức gặp ngay chuyện oán thù. Cũng tương tự vậy, nhiều người dễ dàng phủi sạch tất cả những gì tốt đẹp người khác đã làm cho họ trong suốt bao nhiêu năm tháng, chỉ vì một việc không hài lòng mà thôi. Tan hàng, đường ai nấy đi. Quả nhiên là không ai an lạc được nếu như bị lôi cuốn vào những vòng xoáy này !

Nói đến đây mới nhớ tới ông đại thi hào Nguyễn Du, viết truyện Kiều tuyệt tác, cũng ân oán nghiệp lực kéo dài. Cuối đời tìm đến thiền, đọc nhiều kinh sách, học cả kinh Kim Cang .... Học hoài không ra, cuối cùng nghe được câu chuyện ân oán "Đài đá chia kinh" của thái tử Chiêu Minh nhà Lương mà nghiệm ra ý nghĩa "chân kinh" :

"Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ
Chung tri vô tự thị chân kinh"

Dịch nghĩa:

Ta đọc kinh Kim Cương hơn nghìn lần
Có quá nhiều điểm chính yếu ta không rõ
Đến nay, dưới đài đá “Chia kinh”
Mới hiểu ra kinh “không chữ” mới thật là chân kinh

Tất nhiên không phải chỉ có Nguyễn Du mới nghiệm ra "kinh vô tự là chân kinh", mà lâu nay cũng có nhiều giai thoại tương tự. Ngô Thừa Ân cũng đưa “kinh vô tự” vô truyện Tây du ký của ông ta. Thực tế cũng có nhiều người tai to mặt lớn, quyền cao chức trọng, bằng này cấp nọ cả đời nhưng không hiểu được vấn đề, đến khi về già ngồi một chỗ lại ngộ ra nhiều thứ. Còn nói đến chuyện buông bỏ, thì bao giờ cũng đúng, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đeo cái gì sau lưng chả nặng ? Không đeo thì nhẹ nhàng. Nhiều người xưa nay vẫn thường cho rằng giúp đỡ người khác & sống tử tế luôn là chuyện tốt, nếu làm được nên làm, còn thiên hạ có hiểu được hay không, cũng không quan trọng lắm. Tất nhiên trong cái không có cái có, trong cái có lại có cái không, đâu ai đoán biết được hết. Chứ còn làm ơn mà cứ mong được cầu báo, hoặc nghĩ xa lo sợ bị “mắc oán” thì đâu còn ý nghĩa gì. Vả lại, những câu chuyện "làm ơn mắc oán" vốn nhan nhản trong đời sống xã hội này, liệu có đáng để cho ta quan tâm hoặc lưu ý chăng ?

Thôi, chúc mọi người một tuần an vui :-) 






Wednesday, September 09, 2020

Tản mạn: Nhớ quên




Người ta thường nói "Lớn tuổi hay quên". Mình thì lại nghĩ là lớn tuổi hay nhớ chuyện xưa . Cũng có thể mau quên, nhưng chỉ quên những chuyện mới xảy ra thôi, còn chuyện ngày xưa thì dễ gì mà quên, nhớ mồn một từng chi tiết nữa là ....

Hôm rồi nói chuyện với ông anh đồng hương về cái thời còn đi học. Anh ấy nhớ rõ ràng từ góc phố con đường, từ bờ rào khung cửa, từ cô bé hàng xóm anh lén nhìn mỗi tối, đến người cô giáo chủ nhiệm thướt tha mỗi ngày đến lớp. Anh ấy và mình lớn lên cùng một tỉnh lỵ nhỏ, có vài ngôi trường, vài con phố quen thuộc, vài quán cafe nổi tiếng .... nên thường là ai cũng "biết" nhau. Nhưng chỉ có chuyện tình yêu bồ bịch là dấu kín, có vợ con rồi càng dấu kỹ hơn. Đợi tới lúc về hưu con cháu đùm đề mới kể, mà kể một cách đam mê cuồng nhiệt như "lửa" yêu của thời mới lớn  :-).

Mình và anh ấy học chung trường trung học. Mình vô đệ thất thì anh đã gần ra trường. Nhưng chuyện yêu đương thì từ lớp Nhất trường Nam tiểu học, anh đã biết nhớ nhung, biết ngủ "chiêm bao" rồi. Nên cô nào dễ thương trong tỉnh, hoặc quán cafe nào có con gái xinh, bài thơ tình nào da diết, anh nhớ hết. Dĩ nhiên cô nào anh theo đuổi tán tỉnh, thì nhớ nhiều và chính xác hơn. Mình ngồi nghe say sưa như được ai nắm tay dẫn đi lại những con đường loanh quanh của thời cắp sách đến trường. Chợt nghiệm ra một điều cho dù tuổi tác đến đâu, trong từng mỗi con người luôn có một vùng trời trẻ trung & bất tử. Như những hạt giống nằm im sâu lắng trong tàng thức, chờ đợi nảy mầm !

Thành phố mình ở thời đó chỉ có vài con đường lớn chính như Quang Trung, Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng, Lê Trung Đình, Duy Tân, Võ Tánh, Trần Thúc Nhẫn, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Ngô Quyền, Nguyễn Bá Loan  .... Có những cung đường đẹp, thơ mộng, phượng vĩ đỏ thắm mỗi lúc hè về. Cũng có những cung đường đầy phân ngựa, kẻ bán người buôn tấp nập, mùi thịt nướng thơm lừng, mùi đường phèn đường phổi bay ngào ngạt. Và dĩ nhiên hai bên đường là những hàng cột điện gầy guộc và cũng như bao thành phố khác "đi dăm phút đã về chốn cũ". Nhưng dẫu con đường có lồi lõm ổ gà ổ voi đến đâu, thì vẫn đẹp. Cái đẹp trong tâm tưởng, ký ức về một tuổi thơ bao giờ cũng ngọt ngào. Chỉ có điều lạ là hồi đó bồ bịch thì lại không tìm những cung đường đẹp, con đường chính, mà toàn kiếm những cung đường muỗi cắn, tối hù mà đi :-).

Mình nhớ thời còn đi học, mình có thằng bạn thân học trước mình một lớp, rất mê thơ Đinh Hùng, Nguyễn Tất Nhiên, và Nguyên Sa. Nó cũng mê luôn một cô kia học chung khối lớp mình. Sáng nào có tiền, cũng chạy xuống bánh mì Bà Được, rồi lên dựa cột điện đầu đường Duy Tân, thổi kèn "harmonica" nhìn cô em đi học, từ ngoài Ngã Tư chính vào. Dĩ nhiên là chả bao giờ dám nói, nhìn cho đã, rồi về tìm thơ mà đọc. Hôm nào cô đó ngủ nướng, thì nó cũng đi học trễ. Vô lớp thì mơ mơ màng màng, bị ông thầy lấy cục phấn ném vô đầu, về nhà bị bà nó chửi "nhỏ mà hượn (?) yêu". Mặc kệ, nó vẫn chờ vẫn đợi, vẫn gặm bánh mì, vẫn làm mòn trụ điện, và vẫn chưa bao giờ dám nói. Bao nhiêu năm qua, có lần mình vô tình gặp lại cô gái ấy ở Mỹ, tính nói cho cô ấy nghe, nhưng rồi lại thôi. Hắn đã có vợ, và cô ta cũng đã có chồng. Bây giờ gặp lại chắc gì đã nhận ra nhau. Nhưng những câu chuyện tương tự như thế chắc chắn sẽ ở mãi trong "vùng trời trẻ trung" của họ, làm sao quên được ? 

Hỡi thành đô với linh hồn bách thảo
Còn nhớ ta chàng tuổi trẻ tóc bay
Làm học trò nhưng sách chẳng cầm tay
Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ
(Đinh Hùng)

Thực ra, thời đó quê mình trường trung học nhiều, nhưng trường công lập thì ít, nên thi vào trường công lập cũng hơi khó. Nhiều trường nam nữ phải học riêng. Con gái học bên Nữ tiểu học, Nữ trung học. Mấy cô con gái tỉnh lẻ, bên ngoài thường thẹn thùng kín đáo, nên mấy anh con trai tuổi mới lớn càng tò mò khám phá. Có dạo mấy cô học đến lớp đệ nhất (12) thì được chuyển qua trường nam (TQT). Và mọi chuyện trai gái phiền phức (hoặc tuyệt vời) đều bắt đầu xảy ra từ đó :-).

Ông anh đồng hương mình kể từ thời tiểu học đã bắt đầu biết "trộm nhìn em", từ ban công nhà nàng, biết "yêu vu vơ màu tím", biết hái trộm hoa phong lan từng bịch để dành, và biết hát những bài tình ca bất tử ... Nhưng Romeo đã không dám leo lên ban công nhà Juliet, và đợi hoài mà "con bướm trắng cũng chẳng thèm sang bên này", nên anh ấy giờ chỉ còn lại những câu chuyện tiếc nuối ngồi kể hôm nay. Còn lên trung học thì khỏi nói rồi, sách vở nào ghi cho hết thành tích của anh. Ưu điểm của anh là cô nào dễ thương hoặc nổi tiếng anh đều nhớ hết; khuyết điểm là khó quên. Cho nên từ vạt áo dài đến bờ tóc xoả, từ góc phố thân thương đến bờ rào đáng ghét, từ quán chè cho đến quán cafe , từ hẽm Tạ Từ đường cho đến xóm chợ Trời. Từ những đêm văn nghệ, những buổi diễn hành, cho đến những ngày nước lũ chợ mưa.... anh nhớ mồn một. Giá như anh ấy viết sách, thì mình nghĩ Nguyễn thị Hoàng gặp đối thủ nặng ký rồi. Nhà thơ nổi tiếng người Anh John Keats có nói “Touch has a memory” (tạm dịch: cái đụng có trí nhớ" ). Chắc là vậy, cho nên nghe nhiều người đi trước kể rằng thời đó chưa hề hôn nhau, chỉ cần nhìn nhau hoặc nắm tay nhau, đã lâng lâng hạnh phúc, sung sướng, và nhớ nhau suốt đời :-).

Quê mình thời đó có nhiều quán cafe, nhưng không phải quán nào cũng dành cho tình nhân hoặc cho mấy anh trồng cây si. Có khi quán lớn không ghé, mà lại chui vào quán nhỏ, bởi đâu phải người nào vào quán cũng để thưởng thức cafe. Nào là Diễm Xưa, Hoàng Gia, Bắc Sơn, La Rose, Hồng Diệp, 116, Cafe Uyên .... mà hình như quán nào cũng có những bóng hồng đáng nhớ một thời. 

Mở ngoặc chút, dạo trước đọc anh Luân Hoán kể về thời gian ở khu Trùng Khánh, với những nhân vật văn chương thi phú một thời ....như Phan Nhự Thức, Lê Văn Nghĩa, Huỳnh Bá Dũng, Đynh Hoàng Sa, Đinh Trầm Ca, Hà Nguyên Thạch, Khắc Minh, Trần Thuật Ngữ, Nghiêu Đề,  Phạm Trung Việt, Phan Nhự Thức, Vũ Hồ, Vũ Quỳnh Bang ... Mình rất thích cái phong cách sống thời đó. Nhà trường và xã hội ở mỗi giai đoạn đào tạo ra những thế hệ thanh niên có quan niệm sống khác nhau. Qua đó ít nhiều cũng thấy được cái văn hoá và tư duy giáo dục của từng thời kỳ. Ngày ấy bên cạnh những lãng mạn của thi ca, của tình yêu cuộc sống, thì còn mang nặng lý tưởng quốc gia, quê hương dân tộc, và ước mơ phụng sự xã hội. Nhưng điều đó dường như ngày càng trở nên hiếm hoi hơn trong xã hội ngày nay.

Trở lại những cuộc tình của ông anh đồng hương mình. Thời còn đi học, mình học ban toán, ông anh học ban văn chương, rồi lên đại học anh ấy cũng học văn chương, nên cũng đã làm bao nhiêu cô khổ rồi, chứ mấy em đâu dám làm khổ ảnh ? Nhưng trong tình yêu nếu chỉ được thôi, không mất, thì cung bật cũng tẻ nhạt, đơn điệu :-). Cho nên phải có yêu thầm nhớ trộm mới thú vị, thất tình mới nhớ lâu. Lâu nay thường thấy mấy ông thi sĩ nhạc sĩ thất tình làm thơ làm nhạc mới hay. Đến khi cuộc sống dư đủ, ít trắc ẩn, thì dường như thơ nhạc cũng ít phong phú hơn. Nói tới đây nhớ đoạn này của Nguyễn Tất Nhiên:

Tình một hai năm chưa phải tình dài
Cũng không thể gọi là tình mới
Tôi vẫn đợi như ngày tôi đã đợi
Vẫn ngậm tình về như buổi ngậm tình đi ...
(Nghĩa là tôi ấp úng chuyện yêu người
Và cơ khổ như những lời thú tội!)

Tình sớm rụi bởi rơm tình sớm cháy
Tôi làm sao can đảm ngắm tro tàn?
Nên cuộc đời, cứ thế, run run
Gió thì lạnh – tay chẳng màng đánh lửa!
Tôi vẫn đợi, đợi người thêm chút nữa
Tự an ủi mình khi cắn nỗi sầu đau
Tình một hai năm... chưa bạc mái đầu
Chưa tuyệt vọng (bởi vì chưa hy vọng)

Và hôm nay mưa nhiều trên tóc nhuộm
Xơ xác người, tôi thấy buồn chưa tôi?
(Biết làm sao cấm đoán được mưa trời?)

Cha mẹ sinh tôi: thằng con bất hiếu
Thề thốt thương người hơn cả song thân ...

Nói chung ký ức con người quả nhiên là kỳ diệu. Luôn chọn những gì ấn tượng nhất, lưu luyến nhất, và đẹp đẽ nhất để ghi lại. Như ông anh mình, bây giờ tới lúc tóc tiêu nhiều hơn muối, không quản khó nhọc, ráng làm cái vườn hoa, cái ao cá tuyệt đẹp. Chiều chiều ra ngắm, mở nhạc, mơ màng ngồi nhớ chuyện xưa. Khi nào vợ kêu, thì mới vào rửa chén ! Rau quả mọc lên rơi rụng nhiều quá, phải kiếm người mà cho. Mà vườn thì trồng toàn thứ "độc", toàn quốc hồn quốc tuý. Cũng không quên trồng thêm một cây phong lan, thoang thoảng hương thầm. Ở Mỹ mà có cây bồ kết chắc ảnh cũng trồng luôn. Nhưng mình nghĩ, với anh và cũng như bao nhiêu người VN tha phương khác, chắc là rau trái gì cũng không quan trọng, cá gì bơi lội cũng không quan trọng, hoa gì nở cũng không quan trọng, mà là hoài niệm hướng về đâu mới là quan trọng. Những niềm nhớ không quên... 

Mà thực ra giữa cuộc sống bon chen này, đầy rẫy những tranh chấp vô bổ, dễ gì ai cũng tạo được cho mình một góc riêng như thế. Cho nên đừng bao giờ nghĩ rằng lớn tuổi hay quên. Mà nhớ hay quên chỉ là câu chuyện của khu vườn ký ức trong mỗi con người. Không tưới nước bón phân thường xuyên thì cây nào mà lên cho nỗi ?

Còn mình thì thuộc loại phàm phu tục tử, không có nhiều chuyện xưa để nhớ, mà mỗi lần thấy vườn rau của anh lại nhớ đến món ruột của mình, lẩu mắm và bài "Rau đắng sau hè". Nào là đậu đũa, khổ qua, cà dái dê, đậu rồng, rau ngỗ, rau càng cua, rau đắng, lục bình .... chỉ tiếc là thiếu bông điên điển :-). 

PN (9/9/2020)
(When someone you love becomes a memory, that memory becomes a treasure.)




Wednesday, September 02, 2020

Nhân ngày 2/9

Những tài liệu rất quý giá về ngày 2/9/1945. Đọc & nghe để chiêm nghiệm thân phận của một đất nước. (Ở video dưới cùng, người nói là H.R. McMaster, sau này là trung tuớng, cố vấn an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.)






Friday, August 21, 2020

Phiếm - Chuyện xưa khó quên

 


Nhớ trong điển tích của nhà Phật, có một câu chuyện nôm na như thế này. Một ông thương gia giàu có, làm ăn giỏi giang, có mấy đứa con tài giỏi. Ông luôn mong đợi những đứa con sẽ nối nghiệp, điều hành doanh nghiệp, làm giàu để vẻ vang cho gia tộc. Ai dè mấy đứa con lại đi theo tăng đoàn đức Phật nghe Pháp. Tức quá ông vô rừng coi thử. Thấy quá vô lý, ở nhà làm ăn, nổi tiếng giàu có, kẻ hầu người hạ cung phụng mà không chịu, lại đi theo ông thầy tu chẳng có tài sản gì, tối ngày ngồi đôi mắt nhắm nghiền, sao thấy trời thấy đất, biết phú quý vinh quang ? Thế là ông sấn tới chửi cho ông Phật một trận, cho biết thế nào là uy lực của một đại gia. Ông Phật vẫn cười như thường lệ, và thiền định tiếp. Ngài thương gia nhìn quanh, cũng nhận ra ít ai có phản ứng gì về thái độ hung hăng của mình, nên rồi cũng từ từ nguội dần và đi về .

Về đến nhà, ông ám ảnh nghĩ hoài vì xưa nay chưa bao giờ gặp người nào mà lại phản ứng như vậy với cơn thịnh nộ của ông, ông Phật mà cũng chỉ mỉm cười ngồi im chịu trận. Nên cũng cảm thấy hối hận chút chút, hôm sau ghé lại nói tiếng xin lỗi với ông Phật. Ông Phật trả lời : "Ta không chấp nhận lời xin lỗi của ông !".

Ông ngạc nhiên, và cả tăng đoàn đều bất ngờ, thấy lạ, vì lâu nay đức Phật thưòng tha thứ cho tất cả mọi người, chấp nhận và đối xứ bình đẳng với mọi tầng lớp, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, quan chức đại gia hay dân thường khốn khổ. Nhưng tại sao hôm nay Ngài lại cố chấp với người thương gia như vậy ?

Người thương gia hỏi tại sao. ĐỨc Phật mỉm cười trả lời - Bởi vì ông hiện không làm gì sai. Ông đang là người tốt hoàn hảo, không có lỗi gì. Nên ta không thể chấp nhận lời xin lỗi của ông được. Người đàn ông hôm qua không có ở đây. Và người bị ông ấy xúc phạm cũng không có ở đây !

Câu chuyện đó được nhiều sách vở sau này trích dẫn, để giảng giải về nhiều khái niệm khác nhau trong cuộc sống, trong đó có nói đến thế nào là một sự tha thứ đúng nghĩa. Một số sách báo lại phân tích xa hơn về khái niệm biến đổi vô thường tất yếu trong tự nhiên, và sự phiền não khi cố bám víu vào những điều đã cũ, không buông bỏ được. Nhưng sách vở nào viết thì cứ viết, ai đọc được thì cứ đọc, còn làm được hay không thì lại là chuyện khác. Thực tế thì thế giới này không hiếm những người thù hận ghen tức cả đời. Dễ gì quên, mà tại sao lại phải quên ? Nhiều người còn sợ quên, năm nào cũng nhắc nhở lại hoặc làm lễ tưởng niệm để nhớ. Có khi đời ta thù một mình chưa đủ, nhét vô đầu con cái kêu nó thù dùm đời tới luôn !

Mà cuộc sống vốn vậy, có nhiều chuyện mâu thuẩn đến vô lý nhưng vẫn cứ tồn tại. Ví dụ như nhiều người gặp lại bạn bè hoặc con cháu ngày xưa, năm bảy chục năm qua đi, cũng không cho bạn bè được quyền thay đổi hoặc con cháu được quyền lớn khôn, chỉ có bản thân họ mới được quyền thay đổi đó :-). 

Dông dài chút, nhưng cái mà mình muốn phiếm hôm nay là những câu chuyện rôm rả, moi móc đời tư ngày xửa ngày xưa, của các ứng viên vào những mùa bầu cử, đặc biệt là bầu cử ở Mỹ. Thực ra thì ở xứ nào cũng vậy, khi trở thành hoặc sắp trở thành người của công chúng, thì phải chấp nhận đời tư bị moi móc, thiêu dệt. Còn chuyện đó thật giả thế nào cũng khó ai mà biết được. Nhiều người không phải là người của công chúng, mà vẫn bị soi ngắm dệt chuyện, huống hồ chi là nhừng ứng viên mà cả thiên hạ chỉa mũi dùi vào. Tính ra ở những xứ sở mà lạng quạng là phạt nóng mấy triệu liền, hoặc mời lên phường làm việc, thì thiên hạ còn sợ chút. Chứ ở những xứ tự do ngôn luận như Mỹ thì ôi thôi thượng vàng hạ cám, tin thiệt tin giả, tin vịt tràn lan, cứ thế mà tuôn trào. Nhiều ông còn đem lên youtube, lên radio, TV mà bình luận. Cứ phán nghe y như thật, ghét bên nào thì dập bên đó, ai tin được thì tin. Còn chuyện đấu đá thì cứ nhắm dưới thắt lưng mà đánh, từ dưới đáy đánh lên, cho nên những thập niên sau này cũng thưa dần những người tài ba thực sự ra tham gia chính trường. Dĩ nhiên có nhiều lý do, trong đó có lý do họ không muốn gia đình con cái và bản thân bị quấy nhiễu phiền phức, và càng không muốn cạnh tranh với nhau bằng cái xấu chứ không phải bằng cái tốt, đo lường nhau bằng thủ đoạn chứ không phải bằng tài năng !

Bởi vậy, cứ mỗi mùa bầu cử là báo chí, thiên hạ lại lôi ra đủ thứ vấn đề, trai gái, rượu chè, cờ bạc, gian lận... đủ cả. Rồi khi mùa bầu cử qua đi, cũng chính những người "xấu xa" đó lại điều hành xã hội, đất nước của họ. Xong mọi chuyện lắng đọng ít lâu, đợi đến kỳ bầu cử sau, lại lôi ra nói xấu tiếp. Nhiều câu chuyện cũ rích cũ rơ, cũng lôi ra để dìm hàng nhau, để phán xét lẫn nhau. Nhiều người có nghiên cứu sách vở, hiểu và quan niệm cuộc sống vốn "vô thường", nhưng khi đụng đến chuyện phán xét người khác, thì nó phải "thường" mới được. Nhiều người gắn bó sâu sắt quá với cái quá khứ nên cũng khó buông bỏ để nhận ra chân tướng của hiện tại. Nên lỡ thương thì trái ấu cũng tròn, lỡ ghét thì bồ hòn cũng méo. Dĩ nhiên cũng có nhiều người thấy bạn bè ghét thì ghét theo, thấy anh em thương thì mình bầu, chứ cũng chẳng rõ tốt xấu ra sao. Đúng sai thì miễn bàn ở đây, nhưng quả nhiên là muốn có những sự đánh giá công bằng, buông bỏ khách quan trong xã hội này thực không phải là chuyện dễ dàng chút nào. Mà ai cũng vậy thôi, tây tàu gì cũng thế, định kiến cá nhân bao giờ cũng khó thay đổi nhất.

Đôi khi mình có cảm giác là thiên hạ cứ săm soi vào những chuyện "ngày ấy xa rồi", hoặc những lỗi lầm nhất thời ngày xửa ngày xưa .... của các vị  ứng viên, mà xao lãng đi chuyện ghi nhận những gì đang xảy ra trong hiện tại, họ đã thay đổi như thế nào, và họ đang đóng góp được điều gì trong công việc hiện tại. Nhớ lại hồi đó mình còn ở VN, nhiều lúc nghe người ta nói về lý lịch dĩ vãng "oai hùng" của ông lớn này hoặc bà lớn nọ, mình cứ thắc mắc không biết cả nhiệm kỳ (hoặc vài nhiệm kỳ) họ đã làm được điều gì và thay đổi được điều gì ? Đặc biệt là mấy ngài bộ trưởng. Cuối cùng mới nghiệm ra rằng đi họp, ký giấy, phát bằng khen, phát lương, và giữ cho không bị đi tù, cũng là những công việc không nhẹ nhàng tí nào !

Còn như ở Mỹ, khi nói đến chuyện T/T Trump thì vô vàn bất tận. Trước hết phải công nhận là trong lịch sử nước Mỹ chưa có một vị tổng thống nào từ khi chưa lên chức cho đến khi tại chức, mà có nhiều chuyện, nhiều đề tài để nói và xỉa xói đến như vậy. Báo chí công kích hầu như mỗi tuần mỗi ngày. Bao nhiêu chuyện đời tư, thói ăn cách mặc, đạo đức ứng xử, em út gái gú, vợ con bạn bè, thói hư tật xấu gì lôi ra hết. Rồi ai nói cứ nói, ai phán cứ phán, ông cứ tiến lên, cứ tweet, ai phang ông là ông phang lại. Thế thôi .... :-)

Nhưng nhiều lúc coi TV hoặc tin tức, thấy những chuyện cần thiết hơn như là phân tích khách quan và ghi nhận ông đã làm được những gì lâu nay và kế hoạch sắp tới, cũng như phân tích khả năng hiện thực cho những chọn lựa khác của nước Mỹ, hoặc kế hoạch đổi thay cụ thể như thế nào ... thì lại ít nghe người ta nói đến. Mới đây cô cháu gái của T/T Trump xuất bản cuốn sách lôi hết đời tư lý lịch ba đời của cô và gia đình ra, dĩ nhiên chừa phần lớn nhất cho ông chú ở Nhà Trắng. Mới tháng trước đây, ông cố vấn an ninh từng thận cận viết sách kể tội, rồi tháng 9 tới đây ông luật sư riêng cũng sẽ cho ra cuốn sách mới nữa ...chắc chắn cũng chẳng phải là tin tốt đẹp gì. Nói chung toàn là chuyện nói xấu, soi từng tơ răng kẻ tóc. Mình luôn quan niệm ông T/T nào cũng có cái hay cái dở nhất định của họ. Muốn ông nhà buôn làm tổng thống thì phải khác ông chính khách. Muốn ăn bún bò Huế thì phải chịu cay, muốn hương vị đậm đà thì làm tô bún mắm. Cũng may là ông T/T có sức khoẻ, không rượu chè nhậu nhẹt, cafe thuốc lá, chứ gặp ai yếu yếu, bị đả kích xỉa xói cỡ đó, chịu áp lực không nỗi, dám tiêu rồi :-). Không binh ai ghét ai, không phán xét ai, cũng không biết ai thắng ai thua, nhưng mình luôn mong mỏi rằng người dân lúc nào cũng đủ sáng suốt để có một sự chọn lựa khách quan đúng đắn cho đất nước của mình. Đó cũng là một đặc ân mà không phải dân tộc nào cũng may mắn có được !

Và lâu nay cứ mỗi lần mà cảm thấy quá tải với những câu chuyện "dĩ dãng", hận thù đố kị dai dẳng, thì mình lại nhớ đến câu chuyện của ông Phật và ngài đại gia năm nào .....


Saturday, July 18, 2020

Phiếm: Ám ảnh mơ hồ !


Mấy hôm nay báo chí và mạng xã hội VN đăng tải nhiều bài viết về bác sĩ Trần Đông A. Có lẽ bắt đầu từ câu chuyện mổ tách cặp song sinh dính liền Trúc Nhi - Diệu Nhi. Thực ra thì mấy chục năm trước, ca mổ tách Việt - Đức năm 1988 của BS Đông A cũng đã gây rất nhiều sự ngạc nhiên của thế giới y khoa thời bấy giờ. Và rồi, cũng như lần trước, báo chí bắt đầu kể lể lại những câu chuyện xưa của BS Đông A, từng là sĩ quan quân y lính Dù của chế độ cũ với đầy thiện cảm. Nhiều người cũng nhắc lại câu chuyện ông Sáu Dân (Võ văn Kiệt) biết trọng người tài, khéo léo bảo kê cho BS Đông A về, chứ không cũng đã đi vượt biên mất tiêu rồi. Mà thời đó không phải chỉ có chuyện bs TĐA, ai cũng nghe những giai thoại về ông Sáu Dân đi bảo lãnh và giữ chân nhiều vị hiền sĩ, nhân tài, khoa học của chế độ cũ ở lại làm việc cho VN. Trong đó có những vị mà mình cũng đã từng may mắn được gặp sau này. Chắc chắn đó mãi là những câu chuyện hay, đầy tính nhân văn, thể hiện được sự thông cảm và tôn trọng nhau của những con người hiểu biết, cho dù đã có lúc không cùng chiến tuyến với nhau.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng bs Trần Đông A và nhiều vị trí thức nhân sĩ khác được ông Sáu Dân mời giữ lại, là hoàn cảnh có chút may mắn đặc biệt. Vì nếu như thời đó các vị ấy kém may mắn sống ở những địa phương khác chứ không phải SG, như các tỉnh miền Trung chẳng hạn, hoặc là tên tuổi tài năng chưa có cơ hội lọt đến tai ông Sáu Dân, thì cuộc đời họ chắc đã rất nhọc nhằn trên những lối rẽ khác !
Ví dụ như nói về binh chủng Dù và TQLC ngày xưa, mỗi binh chủng đều có một tiểu đoàn quân y, với hàng trăm bác sĩ nha sĩ dược sĩ tài năng, và hàng bao nhiêu đội ngũ nhân viên y tá, cứu thương, bệnh viện, trạm xá các cấp... Những người quân y sĩ đó đã không những cứu thương cho đồng đội của mình, mà nhiều lúc còn sẵn sàng cứu thương cho cả đối phương của họ và những ai còn nằm lại trên trận tuyến, khi hoàn cảnh cho phép. Trách nhiệm công việc, nguyên tắc nghề nghiệp, và lòng nhân đạo sẽ không cho phép họ làm khác hơn. Và dẫu biết rằng cuộc chiến tranh nào cũng vậy, nguyên nhân không nằm ở chỗ những người lính, đặc biệt là lính quân y. Nhưng cuối cùng khi cuộc chiến kết thúc thì bao nhiêu người trong số đó được trọng dụng như BS Đông A, và bao nhiêu người phải rơi vào những số phận bi thảm khác ?

Cho nên cũng hy vọng những câu chuyện như thế này sẽ là cơ hội tốt để nhìn lại những được mất của đất nước từng bị ảnh hưởng bởi tư duy hận thù, phân biệt đối xử dựa trên lý lịch nhân thân nhiều đời, "thành phần chính trị"..v.v. Nhất là trong bối cảnh cả gần nửa thế kỷ một đời người trôi qua, mà nhiều người nhìn đâu cũng còn thấy "ta" với "địch". Một nỗi ám ảnh mơ hồ !

Nhân nói đến chuyện ứng xử thời hậu chiến, mỗi khi nhắc về cuộc nội chiến Nam-Bắc ở Mỹ, nhiều người thường ca tụng sự cao thượng của tướng Grant (miền Bắc - bên thắng cuộc). Vì ông đã ra sức bảo vệ tướng Lee (miền Nam - bên thua cuộc) và cả binh sĩ đôi bên được an toàn trở về quê hương cùng nhau xây dựng đất nước. Thời đệ nhị thế chiến cũng thế, cả thế giới ca tụng sự cao thượng vĩ đại của tướng MacArthur (Mỹ) đã bảo vệ cho ngôi vị của Nhật Hoàng Hirohito (bên thua trận) và giúp đỡ xây dựng lại một đất nước Nhật Bản phồn thịnh. Mãi cho đến ngày hôm nay, đất nước Nhật vẫn tôn kính và biết ơn tướng Douglas MacArthur (bên thắng cuộc) như một anh hùng "dân tộc" của đất nước họ. Còn mình thì lúc nào cũng tự hào về anh hùng Nguyễn Trãi và câu chuyện Hội thề Đông Quan của nước Việt. Quả nhiên "một chiến thắng hoàn hảo nhất là chiến thắng không có kẻ chiến bại !"

Ngài Gandhi của Ấn độ có một câu nói rất nổi tiếng "The weak can never forgive. Forgiveness is the attribute of the strong". (Tạm dịch: Kẻ yếu không thể tha thứ, bởi sự tha thứ là thuộc tính của kẻ mạnh). Mình thì không muốn lạm bàn về chuyện mạnh yếu ở đây, nhưng vẫn thường nghĩ rằng con người ai cũng mong muốn được phụng sự cho tổ quốc và đồng bào của họ dưới nhiều hình thức khác nhau. Một thể chế tiến bộ và xã hội văn minh là xã hội tận dụng được sự đa dạng đó, chứ không phải là một xã hội phân biệt kỳ thị, mang nặng định kiến hận thù !


Wednesday, July 08, 2020

Làm gì dữ dzậy ?



Ở những nước dân chủ, thì các chức vụ thị trưởng, tỉnh trưởng, hội đồng thành phố, các cấp lãnh đạo quận hạt ...v.v.. là do dân chọn lựa và bầu lên. Còn ở VN thì giám đốc các sở ban ngành, các cấp lãnh đạo tỉnh thành phố, đặc biệt là bí thư & phó bí thư (vị trí này đặc biệt chỉ có ở vài quốc gia trên thế giới) .....đều do sự chỉ định phân bổ. Còn tại sao bố trí hoặc phân bổ người này mà không phải người khác, thì lại là những câu chuyện dài. Tóm lại, như cái ông phó bí thư Phú yên gì đấy, thì chắc chắn không phải là dân bầu lên. Nên chuyện mấy hôm nay mạng xã hội, báo chí, lôi ông ra mà dũa, chê trách trình độ, văn hoá ứng xử, thì cũng không công bằng cho ông ấy. Phương tây cũng có câu "You do not know what you do not know". Tư duy ông ta tới đâu, sự hiểu biết thế nào, thì ông ta ứng xử thế thôi. Nếu biết thế là sai chắc ông đã không làm. Đúng quy trình ! :-)

Mình ngày xưa mỗi lần đọc báo thấy các vị phát biểu ngớ ngẩn hoặc ứng xử không phù hợp với chức vụ, thường thắc mắc là cả một quãng đường sự nghiệp dài vậy, bằng cách nào họ lọt qua hết mà lên được tới vị trí đó ? Nhưng sau này mới nghiệm ra rằng quan niệm đúng sai cũng chỉ là sản phẩm tư duy của mỗi con người. Chắc gì quan điểm của mình là quan điểm của thiên hạ. Sự chủ quan nào cũng gây ra những hạn chế nhất định. Mà văn hoá ứng xử thì được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tuỳ thuộc vào trình độ, đạo đức, giáo dục gia đình, ý thức hệ, môi trường tiếp cận ..v.v. Cho nên ở đâu cũng vậy chứ chẳng là VN, nếu quan chức mà không được số đông chọn lựa, công khai đánh giá, minh bạch bầu bán... thì chỉ là chuyện hên xui, ai biết họ có làm việc được không, giỏi dỡ trúng trật gì đâu mà phê bình thắc mắc ? Giống như đang ngồi gặm củ khoai sùng mà phê bình Ace of Spades Champagne & Almas Caviar. Ai nói ai nghe ? và thay đổi được điều gì ?

Tuy nhiên có một điểm chung mà mình muốn nói, đó là "ảo giác quyền lực" của một số vị quan chức. Mình không muốn so sánh và phán xét điều gì, nhưng chỉ nói theo những kinh nghiệm bản thân đã gặp. Đại đa số quan chức ở các nước dân chủ Tây phương thì hoà đồng, bình đẳng, và trọng thị kẻ dưới hơn các quan chức những nước CS. Có lẽ họ trân quý vị trí do người dân tín nhiệm bầu lên, hoặc tôn trọng giá trị đóng góp của người dân cực khổ mỗi ngày. Cũng có thể là "ăn cây nào rào cây nấy". Khi người dân quyết định vị trí và quyền lợi của họ, thì họ trọng thị người dân. Còn nếu một tổ chức hoặc ông A bà B nào đó quyết định vị trí quyền lợi của họ, thì họ o bế người đó. Nguyên tắc đơn giản là thế, đâu cũng vậy !

Có một câu nói mà mình rất tâm đắc, đó là "Giá trị của con người là một phân số, mà tử số là giá trị có thực của họ, mẫu số là giá trị họ tưởng họ có. Mẫu số càng lớn, thì giá trị phân số càng nhỏ".
Mà nếu "mẫu số" đã lỡ lớn rồi, thì sợ gì mà không chơi lớn luôn, nên những chuyện như đem xe ra tận máy bay đón người nhà là cái đinh gì, có gì mà ghê gớm ầm ỉ ? Làm gì dữ dzậy :-)
Những câu chuyện tương tự như thế đã từng xảy ra, đang xảy ra, và sẽ còn mãi mãi xảy ra. Bởi văn hoá và tư duy không phải là thứ chửi rủa có thể làm thay đổi được !

Thôi nghe một bài nhạc đi cho nhẹ nhàng chút .....:-)



Monday, June 01, 2020

Phiếm: Bao giờ mới hết kỳ thị ?




Mấy hôm nay những người theo dõi tin tức đều biết đến vụ anh cảnh sát Mỹ trắng (Derek Chauvin) ở Minnesota đè cổ anh Mỹ đen (George Floyd) lâu quá, dẫn đến tử vong. Mới nhìn vô thì dường như ai cũng nhận ra là lỗi của người cảnh sát, đã hành xử quá đáng trong lúc thi hành công vụ. Nhưng đối với luật pháp ở Mỹ cũng như các nước dân chủ khác, nếu chưa được toà án xét xử, thì cũng chưa dám kết luận điều gì. Tất nhiên là sự việc này có thể chỉ là sai phạm cá nhân, chứ chẳng liên quan gì đến ông sếp hoặc ông thị trưởng, hoặc ông tổng thống, hay chính sách chủ trương gì cả. Cũng có khi chưa chắc là vì kỳ thị đen trắng, nhưng phản ứng đám đông thì bao giờ cũng dẫn dắt vấn đề đi theo những lối rẽ khác nhau, khó mà dự đóan được.

Thế là mấy ngày nay dân chúng Mỹ (đủ sắc dân, kể cả da trắng) biểu tình rầm rộ ở nhiều nơi đòi công lý và đòi chấm dứt tình trạng phân biệt màu da. Đây là việc làm đúng và hoàn toàn hợp pháp, thể hiện quyền tự do biểu đạt của người dân, đòi hỏi sự thoả đáng của pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh đó lại là những đám quá khích lưu manh, thừa gió bẻ măng, đập phá, hôi của, và xâm phạm tài sản người khác. Dĩ nhiên là thời đại nào, quốc gia nào, cũng có thành phần "tát nước theo mưa", "mượn gió bẻ măng "như thế, khó mà tránh khỏi. Đây là loại tội phạm nghiêm trọng, cần phải ngăn chận và trừng trị.

Hôm qua có anh bạn hỏi "Thế tình trạng kỳ thị này có được chấm dứt không ?" Theo thiển ý của mình thì cơn sốt biểu tình bạo loạn rồi cũng qua đi, nhưng sự kỳ thị trong lòng con người vẫn sẽ còn kéo dài. Bởi đó là thuộc tính của con người. Luật pháp chỉ là những lá chắn để bảo vệ sự bình đẳng cho xã hội thôi, nhưng không thể làm thay đổi được trí tuệ & tư duy của những con người nhỏ nhen thiển cận. Kỳ thị màu da, kỳ thị giới tính, kỳ thị địa vị, kỳ thị vùng miền, kỳ thị gốc gác....v.v... Đó là những ý niệm thuộc về tư duy và đạo đức của từng cá nhân, mà chỉ có giáo dục và sự tỉnh thức hiểu biết mới làm thay đổi được tư duy đó.

Mấy hôm nay cũng có nhiều người bình phẩm và phê phán về sự kỳ thị chủng tộc của Mỹ rất nặng nề. Mình thì quan niệm là thấy lỗi thiên hạ bao giờ cũng dễ hơn thấy lỗi của mình, phê phán thiên hạ bao giờ cũng dễ hơn thay đổi bản thân mình. Ở đâu cũng có sự phân biệt kỳ thị, chỉ là ít hay nhiều. Riêng nói về tư duy kỳ thị, thì VN ta cũng "không phải dạng vừa", có nguồn gốc xa xưa và kéo dài qua nhiều thế hệ. Từ thời phong kiến đã hình thành những sự phân biệt kỳ thị nặng nề, giàu nghèo, địa vị xã hội, gốc gác, ông sơ bà cố, bằng cấp, môn đăng hộ đối ..v.v. Ngay đến thời nay, cho dù có chấp nhận hay không, thì các hiện tượng ganh ghét, kỳ thị, phân biệt đối xử .... vẫn nhan nhản xảy ra hàng ngày đấy thôi. Nhiều người đến chết đi chôn vẫn còn bị kỳ thị mả mồ. Ngay cả ở những buổi tiệc họp mặt bà con láng giềng gần gũi, họp tộc, họp làng, họp đồng hương, hội họp bạn bè chung trường, chung lớp, thì chuyện kỳ thị vẫn thỉnh thoảng xảy ra, huống hồ chi là với mấy anh tây trắng tây đen có lịch sử phân biệt kỳ thị chồng chất lâu đời. Mỹ là hợp chủng quốc, một đất nước hình thành bởi dân di trú, có nhiều nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Đúng ra là họ dễ dàng chấp nhận sự khác biệt hơn là các quốc gia "thuần chủng" khác. Tuy nhiên thực tế không hẳn là như vậy, vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố xã hội và cá nhân khác. Cứ lâu lâu lại xảy ra một sự kiện đình đám, biểu tình la hét rầm rộ, chủ yếu vẫn là kỳ thị, phân biệt đối xử, đánh đập bắn nhầm, cảnh sát da trắng, nghi phạm da đen da màu .v.v... Chỉ là lần này xảy ra trong lúc mọi người đang bị áp lực nặng nề về dịch bệnh kéo dài, nên phản ứng có vẻ bộc phát mãnh liệt và căng thẳng hơn. Cũng không loại trừ khả năng có những bàn tay lông lá vẽ rồng vẽ rắn, lợi dụng thời cơ, mở đường truyền thông cho cuộc bầu bán tổng thống cuối năm hoặc những mục đích chính trị khác. Who knows ?

Cuối cùng thì chắc chắn mọi chuyện xáo trộn rồi cũng sẽ được giải quyết, bạo lực biểu tình rồi cũng sẽ qua đi như bao lần trước. Nhưng câu chuyện kỳ thị thì sẽ còn kéo dài vì đó là thuộc tính của con người. Chỉ hy vọng là với thời gian, giáo dục và luật pháp sẽ lần hồi xây dựng được những nếp suy nghĩ mới, để xã hội có cái nhìn công bằng hơn & ứng xử nhau tử tế hơn. Rõ ràng là như ở Mỹ hiện nay, thế hệ con cái của mình có quan niệm bình đẳng hơn thế hệ mình và những thế hệ trước đây. Ví dụ ở nhà, đôi khi mình sơ ý dùng từ "Mỹ đen" thôi, chứ chưa nói đến tốt xấu gì cả, là đã bị 2 đứa con chỉnh sửa ngay. Điều đáng lưu ý hơn nữa là tụi nhỏ tôn trọng giá trị của bình đẳng và công bằng một cách chân thực, chứ không phải chỉ "diễn tuồng" như những thế hệ đi trước.

Nhớ lại vào thời cuối thập niên 70, đầu 80 ở VN, chính sách phân biệt thành phần chính trị và lý lịch gia đình được thi hành triệt để, nhất là ở các tỉnh miền Trung. Nhiều gia đình và cá nhân phải gánh chịu những hậu quả đắng cay, mất mát. Rất nhiều người không được đi học, đi làm, một cách bình đẳng như những người khác. Đặc biệt là đối với những gia đình miền Nam, từng có người thân làm việc cho chính phủ VNCH ngày trước. Dĩ nhiên là bên cạnh đó cũng không hiếm những cán bộ địa phương hiểu biết hạn hẹp, ý thức sai lệch, đã lợi dụng luật pháp (như anh cảnh sát Minnesota hôm nay), mà trù dập thiên hạ vì những lý do khác nhau, hoặc mâu thuẩn vì quyền lợi cá nhân. Cho nên đã có rất nhiều người phải đau lòng, gạt nước mắt rời bỏ làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn của họ, để ra đi tìm miền đất dung thân mới. Mình cũng có người bạn rất thân, đậu thủ khoa ĐHBK ĐN thời bấy giờ, nhưng địa phương không cho đi học, bắt phải đi nghĩa vụ lao động trên rừng núi cao nguyên. Đến khi mãn hạn về lại, thi đậu, đi học ở ĐHKT ở SG, cũng không xong. Thế là cuối cùng đành bỏ xứ ra đi, và chết trên biển cả mất xác !
Cũng nhớ vào thời đó, có quyển truyện dịch "Hãy để ngày ấy lụi tàn" của Gerald Gordon (nguyên tác là Let The Day Perish), nói về nạn kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi. Giới trẻ xôn xao, chuyền tay nhau đọc. Có lẽ họ cảm thấy gần gũi vì tìm được phần nào những cảm xúc tương đồng. Nhiều người đọc xong đã khóc sụt sùi như khóc cho chính bản thân của họ. Nhưng đó là chuyện ngày xưa, hy vọng đất nước VN ngày càng văn minh hơn, những lỗi lầm đó sẽ không còn tái diễn nữa.

Lâu nay mình vẫn nghĩ rằng tôn giáo là giải pháp tốt nhất cho nạn kỳ thị và bất bình đẳng giữa người với người. Bởi lẽ tôn giáo nào cũng dạy dỗ sự chung sống hoà bình, và kêu gọi không phân biệt đối xử. Đúng là như vậy, nhưng thực tế thì không phải lúc nào thiên hạ cũng làm theo giáo lý. Thỉnh thoảng vẫn nghe vẫn gặp những câu chuyện kỳ thị ngay cả giữa các tín đồ với nhau, trong các giáo hội, giáo xứ, hoặc tổ chức nhân đạo. Những câu chuyện phân biệt chùa to chùa nhỏ, nhà thờ giàu nhà thờ nghèo, cúng nhiều cúng ít, đại gia thiếu gia, ông này bà nọ, đạo hữu quan chức, tín đồ doanh nhân, công đức lớn công đức nhỏ, đệ tử thầy này sư nọ .v.v.... vẫn cứ nhan nhản xảy ra. Thậm chí xảy ra ngay cả ở những đất nước văn minh, thành phố văn hoá, chứ không phải chỉ có ở những làng quê nghèo nàn chậm phát triển. Cho nên quả nhiên là sự kỳ thị có mặt khắp nơi, không ai có thể dự đóan và khẳng định được điều gì. Mà suy cho cùng thì cũng chẳng có ông Phật, ông Chúa nào mà bứng nỗi được cái cục vàng "kỳ thị phân biệt" trong lòng con người, nếu như bản thân họ không tỉnh thức, vẫn muốn khư khư bảo thủ, giữ làm của riêng đem theo về chốn thiên đường  :-).

Còn câu chuyện về dân thiểu số da màu ở Mỹ và nguồn gốc kỳ thị từ đâu, lại là một câu chuyện dài khác. Nói ra thì cả một lịch sử từ thời lập quốc, giải phóng nô lệ, phong trào bình đẳng nhân quyền dân chủ ... cho đến những con số thống kê tội phạm dài đăng đẳng mỗi ngày. Đó cũng có thể là nguyên nhân ít nhiều gây ra những thành kiến nhất định đối với một số ít cảnh sát có tầm nhìn hạn hẹp, và những người có định kiến xấu về dân da màu. Thực tế thì người da màu chiếm tỉ lệ rất cao trong hàng ngũ cảnh sát, và lãnh đạo các cơ quan hành pháp của chính quyền Hoa kỳ. Còn nhìn chung thì đại đa số cảnh sát & nhân viên công lực ở Mỹ là tốt, họ tuân thủ lời thề bảo vệ luật pháp, bảo vệ người dân, và gìn giữ trật tự an ninh xã hội. Thế nhưng làm sao tránh khỏi chuyện "con sâu làm rầu nồi canh". Cho nên chuyện "bad cop, good cop" thì ở đâu cũng có, chỉ là ít hay nhiều.

Tóm lại, rất mong mọi chuyện sớm được giải quyết. Mong toà án và chính quyền sớm xét xử thoả đáng, công lý sớm được thực thi, để cho người dân yên lòng hả dạ. Còn mấy anh hôi của ăn ké, tát nước theo nước, mong sớm bị tóm cổ hết, để trả lại sự bình an cho xã hội. Cũng cầu mong những con người chất chứa hận thù & nặng nề chuyện phân biệt kỳ thị, thì ngày mỗi trưởng thành hơn để công bằng với chính bản thân họ, và đối xử tử tế với kẻ khác, đặc biệt là đối với những kẻ nghèo hèn cô thế, thấp cổ bé miệng hơn họ....

Viết tới đây tự nhiên nhớ đến bài thơ "Mộng Ngày" của Thầy Tuệ Sỹ, chép lại để các bạn thưởng thức:

Ta cỡi kiến đi tìm tiên động
Cõi trường sinh đàn bướm dật dờ
Cóc và nhái lang thang tìm sống
Trong hang sâu con rắn nằm mơ

Đầu cửa động đàn ong luân vũ
Chị hoa rừng son phấn lẳng lơ
Thẹn hương sắc lau già vươn dậy
Làm tiên ông tóc trắng phất phơ

Kiến bò quanh nhọc nhằn kiếm sống
Ta trên lưng món nợ ân tình
Cũng định mệnh lạc loài Tổ quốc
Cũng tình chung tơ nắng mong manh

Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh
Ngoài hư không có dấu chim bay
Từ tiếng gọi màu đen đất khổ
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời?

Ta gọi kiến, ngập ngừng mây bạc
Đường ta đi, non nước bồi hồi
Bóc quá khứ, thiên thần kinh ngạc
Cắn vô biên trái mộng vỡ đôi

Non nước ấy trầm ngâm từ độ
Lửa rừng khuya yêu xác lá khô
Ta đi tìm trái tim đã vỡ
Đói thời gian ta gặm hư vô 
(Tuệ Sỹ 1984)


PN (2020)












Thursday, May 21, 2020

Tản mạn: Yếu hay mạnh ?





Trước tiên phải nói là từ ngày dịch bệnh Vũ Hán xảy ra, thế giới xảy ra lắm chuyện. Con người và trật tự xã hội cũng thay đổi nhiều. Từ cách nhìn, cách giao tế, cách ăn, cách ở, cách suy nghĩ, cho đến cách sống, cách chết. Nhiều người ngày đêm sợ chết, sợ mất cái đài cái xe, thì bên cạnh đó cũng không hiếm người cho rằng đó chỉ là những chuyện bình thường xảy ra trong cuộc sống này. Có thịnh tất có suy, có sinh tất có diệt....

Còn trên chính trường, truyền thông, thì biết bao nhiêu là câu chuyện ngắn dài, thiệt giả khó phân. Người thì phê phán cái mạnh cái yếu của ông này bà kia, kẻ thì ca tụng cái đúng cái sai của nước này nước nọ. Thực tình mà nói thì tranh luận kiểu như khảo sát hàm số mà chẳng cùng hệ trục toạ độ, nên mạnh ai nấy phán. Tràn lan, ai nói được cứ nói, cuối cùng vẫn là hồn ai nấy giữ. Nhưng nhân nói đến chuyện yếu mạnh, mình lại nghĩ đến những khái niệm trong sách kinh nhà Phật ngày xưa. Rảnh rang tản mạn chút cho vui ....

Theo đạo Phật, cuộc sống luôn luôn tồn tại 3 bản chất tự nhiên, đó là vô thường (anicca), khổ (duḥkha), và vô ngã (anatta). Tiếng Anh gọi là "Three Marks of Existence", một số tu sĩ VN dịch là Tam Pháp Ấn. (Một só quan niệm PG đại thừa cho là Vô thường, Vô Ngã, và Niết bàn). Đây cũng là những triết lý cơ bản nhất của đạo Phật rút ra từ bản chất tự nhiên của cuộc sống. Cho nên dẫu không có Đức Phật giảng dạy những điều này, thì những bản chất đó vẫn tồn tại chung quanh ta mỗi ngày.

Cuộc sống thì đương nhiên là có "phiền khổ". Còn "vô thường" là quy luật tất nhiên của vũ trụ rồi. Nhà bác học Einstein khi nói về tôn giáo cũng nói "If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism". (Lưu ý là ở đây chỉ nói về bản chất nguyên thuỷ của PG. Còn thời buổi này nhiều nơi dẫn dắt đạo Phật đi theo nhiều hướng mê tín khác nhau, thì mình không bàn đến). Cho nên khi nói về 2 bản chất tự nhiên của "khổ" và "vô thường" thì ai cũng hiểu được, vì thực tế và rõ ràng. Nhưng để hiểu được "vô ngã" thì có vẻ khó khăn hơn, vì khái niệm trừu tượng hơn. Mà có hiểu được, thì cũng chưa chắc là thực hành được. Chứ nếu dễ dàng thực chứng được cái đạo lý "vô ngã" như vậy, thì thiên hạ này đã có lắm thánh nhân. Mà có khi lại chẳng có những ông sư chức sắc đình đám, hoặc những câu chuyện hấp dẫn như nhà sư Tam Đảo gạ tình, hay chùa Ba Vàng gọi hồn, trừ tà bắt ma, đuổi COVID 19 :-) ..v.v.

Nhớ hồi còn ở VN, đi chùa thỉnh thoảng cũng được nghe mấy Thầy thuyết giảng về "vô ngã". Còn ở ngoài đời thì ôi thôi vô vàn, muôn màu muôn sắc. Nhiều học giả giáo sư, trí thức, thiện nhân, đại tri thức, tiểu giáo chủ, tửu đồ lưu linh, hiền triết, ẩn sĩ vô danh, cà phê, quán nhậu ...v.v tha hồ mà bình loạn cái đạo lý này. Lâu lâu gặp mấy ông đồng hương cũng thế, gật gù triết lý, trầm ngâm "mặc khải", úp úp mở mở, cao siêu vời vợi.... quả nhiên là u u bất tận :-).
Mình thì không dám lạm bàn về khái niệm này. Tuy nhiên nhận thấy ngày càng nhiều nguời phương Tây đi sâu nghiên cứu vào triết lý PG, và dường như họ lãnh hội sâu sắc hơn. Có lẽ do họ đi thẳng vào bản chất nguyên thuỷ của PG, mà không bị chi phối bởi những hình thức cúng bái, ngôn từ, dịch thuật diễn giải, hoặc tục lệ hư cấu như ở các nước phương Đông. Nên thỉnh thoảng mình được đọc và nghe một số bài viết về bản chất vô ngã (no self) rất hay.

Nôm na nói về "ngã" là nói về cái bản ngã, cái bản thể, cái thuộc tính, cái sở hữu, cái có, cái "tôi" của con người, của sự vật ....v.v..(Xin lỗi, có những khái niệm PG phải dùng ngôn ngữ để giải thích nhưng thực ra ngôn ngữ bị hạn chế nên không diễn tả hết được. Chịu khó suy diễn ra vậy :-)). Đức Phật ngày xưa thuyết giảng về "vô ngã" và "tánh không" rất nhiều. Bạn nào muốn nghiên cứu sâu hơn nên tìm đọc ở các bản kinh sách. Lâu nay nhiều nhà nghiên cứu và tu sĩ cho rằng có cái "ngã" sinh ra là do tự nhiên (Sankhara), cũng có cái "ngã" tạo ra là do sự tương tác mà thành (Sankhata). Còn theo cách hiểu hạn hẹp của mình, thì có "ngã" kiểu nào cũng u đầu sứt trán, cũng khổ. Cứ cái gì không có thực, mà mình tưởng là thực, rồi cứ tôn thờ bám víu theo, hoặc cứ lo âu nơm nớp sợ mất, là khổ rồi. Đơn giản thế thôi. Ví dụ giữ cái chức to cũng mệt, mà giữ cái chùa lớn cũng khổ. Huống hồ chi lo sợ những thứ ảo giác mơ hồ, mà kết quả là do tự chính mình tưởng tượng ra !

Trở lại chuyện dịch Vũ Hán. Mấy tuần trước, khi dịch bệnh dồn dập, chính phủ khuyến cáo ở nhà, rãnh rỗi ngồi đọc nhiều bài viết trên mạng xã hội mà thấy tràn đầy cảm xúc. Nhiều vị nói tới lúc dịch bệnh mới nhận ra rằng lâu nay đã sống chỉ để giữ cái "mác" mà thiên hạ cài đặt cho mình. Nghe thiên hạ khen vài câu, sướng. Nghe thiên hạ chê vài câu, buồn. Chưa đủ, bắt cả con cái học theo thị hiếu của thiên hạ, cưới gả cũng theo "chuẩn ISO" của thiên hạ. Nhiều vị nhận ra lâu nay so đo chắt chiu từng đồng, đến khi thấy thiên hạ trước lúc chết rải tiền qua cửa sổ, mới tiếc hùi hụi sao lâu nay phải sống kiếp trùm sò. Nhiều vị thấy nhiều đại gia tắt thở trong BV, mà không có người thân nào được phép vào tiễn đưa, ngậm ngùi sao lâu nay chỉ lo cơm áo gạo tiền, mà không dành thời gian cho gia đình, bạn bè, người thân. Nhiều vị còn đi xa hơn, ưu tư về tình hình chính trị chính em, kêu gọi buông bỏ nạn tham quyền cố vị, tỉnh mộng Tào khê, buông bỏ cái "tôi", cái tư lợi cướp đất xưng vương, mà sống vì bá tánh nhân dân ..v.v...và v.v . Có nhiều vị vừa trãi lòng vừa lo lắng sao mình ủy mị mất quan điểm quá. Đọc thấy rất cảm động, nhưng mình cũng thắc mắc không hiểu đến khi hết dịch, đại dịch qua rồi, thì những nỗi niềm đó có còn đọng lại hay chăng. Hay đó chỉ là những phút yếu lòng tức thời của những con người đã từng "mạnh mẽ" ?

Thực ra cái quan niệm yếu, mạnh trong nhà Phật cũng có khác. PG cho rằng yếu hay mạnh cũng chỉ là những trạng thái tự nhiên bình thường, sản phẩm của ngũ uẩn. Mà ngũ uẩn thì vốn thay đổi liên tục tức là "vô thường", cũng không có tự tánh tức là "vô ngã". Vậy thì có gì đáng phải quan tâm cho mệt. Khi nào buồn cứ khóc, khi nào vui cứ cười cho đã. Mình vẫn thường nghĩ có mạnh tất có yếu, ai cũng có lúc này lúc nọ, cần gì phải "gồng" hoài cho nó cực. Ngài Dalai Lama cũng nói "Mạnh không phải ở chỗ nhấc lên, mà ở chỗ đặt xuống". Mạnh không phải ở chỗ hùng hổ la to, mà ở chỗ bình tĩnh điềm đạm. Mạnh không phải ở chỗ thị uy bức hiếp kẻ yếu, mà ở chỗ nhẫn nhục giúp người. Tài giỏi không phải ở chỗ bằng này cấp nọ, mà là ở chỗ giúp gì được cho xã hội, cho cuộc sống. Tư tưởng lớn không phải  ở chỗ cao siêu, nói không ai hiểu, tự mình nói tự mình khen, mà là ở chỗ giúp được cho người cho mình, sống ngày mỗi tốt hơn. Thỉnh thoảng đọc tin tức cũng thấy nhiều ông lớn bên VN hồi còn làm quan, mạnh mẽ, la hét, đến khi ra toà khóc thút thít, thấy mà mủi lòng. Nghe mấy đứa bạn kể nhiều ông bên VN bị vợ la mắng, vẫn mạnh mẽ cương quyết "giữ vững lập trường", không khóc. Lẳng lặng đi ra quán nhậu, nạt lại mấy em phục vụ đáng thương thôi ....:-).

Nhân tiện, lấn sân qua chuyện chính trường một chút cho mang tính thời sự. Cũng là do con cúm Vũ hán, truyền thông nhắc nhở lại duyên tình của Mỹ và TQ ngày xưa, rồi lan man qua tận nguồn gốc của chiến tranh VN.
Nhiều học giả cho rằng nguyên nhân chính của chiến tranh VN là bắt đầu từ sự sợ hãi của tổng thống Harry Truman. Họ cho rằng nếu tổng thống Franklin D. Roosevelt không bị chết bất ngờ, thì cuộc chiến VN chắc chắn sẽ không bao giỡ xảy ra. Bởi T/T Roosevelt là một người nhìn xa trông rộng, và luôn phản đối chính sách thực dân (anti-colonialism) của Pháp. Nhưng cũng bởi sự tài giỏi bao quát đó của FDR, mà hình ảnh phó T/T Truman đã từng như một bóng mờ trong chính trường khi Roosevelt còn sống. Cho nên khi T/T Roosevelt bất ngờ ra đi, phó T/T Truman lên làm tổng thống, đã có nhiều ứng xử và đường lối đi ngược lại với quan điểm của người tiền nhiệm của mình. T/T Truman đã bỏ qua sự thỉnh cầu của chủ tịch VNDCCH là HCM thời bấy giờ. Thực ra đó cũng là một trạng thái tâm lý dễ hiểu thôi. Tuy nhiên ông Truman vẫn giữ thế dè dặt trung lập, mãi cho đến năm 1950 khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra. Và khi nhận thấy sự hổ trợ của TQ và Liên Xô cho Việt Minh, thì chính phủ Mỹ mới thực sự sợ hãi sự bành trướng của chủ nghĩa CS. Thuyết Domino & Chiến tranh Lạnh (Cold War) ra đời. Còn diễn biến sau đó thì ai cũng biết hết rồi. Suy cho cùng, đó cũng là những nhân duyên tạo ra bởi cái "ngã", nỗi lo âu và sự sợ hãi !

Lâu nay nhiều người cho rằng nếu ngày đó tổng thống Truman đáp ứng lời thỉnh cầu xin trợ giúp của ông HCM, thì chắc cũng chẳng bao giờ có cuộc "chiến tranh thần thánh chống Mỹ" như lâu nay thường nghe. Nhiều nhà phân tích chính trị khẳng định nếu VN ngày đó không chạy theo Quốc tế CS, mà chọn những giải pháp đấu tranh khác để giành độc lập, thì dẫu có trăm ngàn cuộc kháng chiến chống Pháp của VN chăng nữa, cũng không là mối đe doạ đến thế giới. Chắc chắn Mỹ và đồng minh cũng chẳng bao giờ lo lắng đến sự bành trướng của chủ nghĩa CS ở châu Á (Domino theory). Tất nhiên Mỹ cũng chẳng cần nhảy vào tham chiến ngăn chận CNCS ở VN, và cũng chẳng bao giờ có cuộc "chiến tranh Vietnam" đẫm máu kéo dài mấy chục năm.
Ông Archimedes Patti, trưởng toán OSS ở VN thời kỳ 1944-1945, người từng đọc bản "Tuyên ngôn độc lập" của VN trước ngày 2/9/1945 tại Hà Nội, trong cuốn "Why Vietnam" đã cho rằng cuộc chiến Vietnam War là hoàn toàn không cần thiết phải có. (Ref: Why Vietnam - Prelude To America's Albatross). Xin lưu ý OSS là tiền thân của CIA ngày nay, và là cơ quan huấn luyện cho lực lượng Việt Minh tại Tân Trào trước 2/9/1945.
Nhưng đó cũng là chuyện đã rồi. Ai muốn đoán già đóan non thế nào cũng không thay đổi gì. Chỉ thấy rõ ràng là đất nước và con người VN đã nhận lãnh những hệ quả tang thương nhất, kéo dài cho mãi đến ngày hôm nay !

Rồi cho đến thời T/T Nixon và tên phù thuỷ Kissinger, cũng vì muốn chấm dứt cuộc chiến tranh VN & chiến tranh lạnh (Cold War), mà lân la đến với TQ, sẵn sàng bán đứng đồng minh VNCH mà họ đã từng xương máu hứa hẹn. Thế là ngàn năm một thưở, TQ mới có dịp nắm bắt cơ hội cọng tác cùng thế giới tư bản. Mặc kệ lý tưởng chuyên chính vô sản, bỏ Liên Xô theo Mỹ. Chạy theo triết lý "mèo trắng mèo đen" của họ Đặng, hợp tác với thế giới tư bản tự do để kéo đất nước TQ ra khỏi cơn đói nghèo của nền kinh tế XHCN. Trong khi đó Mỹ và các nhà tư bản phương Tây, từng một thời ám ảnh lo sợ chủ nghĩa cọng sản đến thế, nhưng khi tìm được một thị trường lao động giá rẻ TQ, vì lợi nhuận đã không ngần ngại ào ạt đổ vốn vào để đầu tư bất chấp hậu quả. Một TQ nghèo đói đã nhẫn nhịn chịu đựng, bằng tất cả những xảo thuật tinh vi nhất để trở thành công xưởng của thế giới, và cuối cùng đạt thành tựu như ngày hôm nay. Nhưng rồi cũng chính sự phát triển ào ạt đó và tham vọng bá quyền Đại hán của TQ lại là nỗi lo của các nhà tư bản phương Tây đã từng đóng góp tạo ra nó. Quả là thế sự xoay vòng, đạo lý nhân quả, vô thường. Còn trên chính trường tất nhiên là không có kẻ thù hoặc bạn bè nào vĩnh viễn !

Mấy tháng nay trên thế giới, mỗi lúc dân càng chết, người ta càng nghĩ đến TQ. Nhìn cách hành xử và thái độ của TQ trong thời dịch bệnh, cọng với những thành kiến lâu nay, không hiếm người đã lên án và chỉ trích TQ tận mạng. Nhiều báo nhiều đài, nhiều nhà phân tích, dân cư mạng xã hội ... tha hồ mà bàn tán, so sánh đến cái yếu và mạnh của Mỹ và TQ. Ngày nào cũng nghe cũng đọc, đến phát chán mà dịch vẫn chưa qua. Đạo lý "người mù sờ voi" thì chưa bao giờ lỗi thời. Cứ ngã mạn càng to, thì con voi càng lớn, sờ hoài không hết. Bên này cứ chửi bên kia ngu dốt miệt mài. Chuyện thị phi hơn thua trong cuộc sống thì ở đâu cũng thế !

Mình thì luôn tin vào nhân quả, tin vào đạo lý vô thường, và càng tin vào thuyết nhân duyên trong cuộc sống. Cho nên mình luôn nghĩ rằng sự yếu mạnh của một quốc gia, hay sự tồn vong của một thể chế chính trị, là kết quả của những nhân duyên trong đời sống xã hội của quốc gia đó. Tuỳ theo nhân quả của vấn đề và bản chẩt của sự việc mà sẽ thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Có khi đã đến lúc nước Mỹ cần tỉnh giấc và thay đổi. Cũng có khi lãnh đạo TQ cần tỉnh thức về tham vọng của mình. Rõ ràng là biết bao nhiêu máu và mạng sống của những người dân đen đã bỏ ra để khơi dậy sự tỉnh thức đó. Mong rằng đây không phải chỉ là một trò chơi của sự yếu mạnh hơn thua tức thời, mà là sự thay đổi để bình ổn cho xã hội và trật tự của thế giới.

Trong lúc mình ngồi viết bài này, thì lại thấy tin tức của Đài Loan và Hồng Kông. Thực ra mình cũng không hiểu một chế độ mà chỉ dùng bạo lực để bắt người ta tuân phục theo mình, hoặc cưỡng chiếm nhân tâm thiên hạ, thì liệu đến bao giờ mới có được giờ phút thảnh thơi cho chính họ và cho đất nước của họ ? Xưa nay ai cũng biết chỉ có những quốc gia an dân thì mới tạo được hạnh phúc.

Hong Kong từng là một trong những trung tâm tài chánh, dân chủ và phồn thịnh nhất thế giới. Từ lúc về tay Cọng sản TQ, chỉ có đi xuống với những bạo lực, máu và nước mắt. Thế mà lại lăm le tiếp đến Đài Loan. Nhưng đó là những câu chuyện tạo nghiệp bởi cái tham vọng, vô luân của nhà cầm quyền CS TQ. Bao giờ mới hết....?