Sunday, October 31, 2021

Ai sao mình vậy !



Nhắc đến câu nói này thì hồi còn ở VN nghe hoài, nhất là những buổi tiễn đưa. Bến xe bến đò, sân ga đưa tiễn, những đứa con lên đường nhập ngũ, lên rừng xuống biển, nghĩa vụ lao động, thanh niên xung phong, Tây Nam Tây Bắc, xuống thuyền ra đi, vô SG lập nghiệp, ra Hà nội làm quan ....v.v... Những bậc cha mẹ nước mắt rưng rưng, dúi tay con chùm bánh ú, gói mứt gừng, bịch cá khô, nhắn nhủ với theo "ai sao mình vậy" nghen con. Thực ra cũng không biết quan niệm này xuất xứ từ đâu, có từ bao giờ, có liên quan gì đến sự hiền hoà của nền văn hoá lúa nước, hoặc đạo lý dĩ hoà vi quý lâu đời của dân tộc hay chăng ? Chịu ! Nhưng theo thiển ý của mình thì quan niệm này có những mặt tiêu cực và tích cực của nó. Tuỳ theo cách nghĩ của mỗi người mà có thể dẫn đến những hệ lụy rất khó khăn trong việc phát triển xã hội và cải thiện an sinh đời sống con người.

Bên phương Tây phần lớn con cái được cha mẹ khuyến khích là hãy thể hiện chính mình (Be yourself !) . Ở truờng học, thầy cô cũng dạy dỗ học sinh hãy mạnh mẽ, độc lập, thể hiện chính kiến, sống thực với nguyện vọng của bản thân, không nên dựa dẫm hoặc sợ hãi một thế lực nào khác. Những lời khuyên bảo thường được nhắc nhở như - “It’s better to walk alone than with a crowd going in the wrong direction. - Diane Grant)” (Tạm dịch: Đi một mình tốt hơn là hùa theo một đám đông đi ngược đường). Albert Einstein thì nói -"The one who follows the crowd will usually get no further than the crowd. The one who walks alone, is likely to find himself in places no one has ever been.” (Tạm dịch là: Lẽo đẽo theo đám đông thì không thể đi xa hơn họ được. Những ai đi một mình thì có thể đi đến những nơi mà chưa ai từng biết đến). Tất nhiên là ông Einstein muốn nói đến nghĩa bóng của nó, và mục đích hướng đến của ông là những phát hiện, những khám phá, những tư duy hoặc tư tưởng có thể đem lại lợi ích cho nhân loại. Còn ở thời này, có nhiều điểm đến là cõi riêng, là hang động bí ẩn của các quan chức hoặc trọc phú đại gia. Họ vốn không cần phải "đi một mình" mới tìm ra những chỗ đấy. Mà đó là những nơi chốn thuộc về cõi trên, những người dân đen không thể tìm đến được :-).

Nói đúng ra thì trong cuộc sống này, không phải ai cũng có đủ khả năng để nhận ra sự sai trái của đám đông, hoặc có đủ dũng khí, bản lĩnh để chọn một lối đi riêng cho chính bản thân mình. Ông Gandhi có nói - “It's easy to stand in the crowd but it takes courage to stand alone !”. (Tạm dịch: Rất dễ dàng để hùa theo đám đông, nhưng phải có dũng khí mới đứng riêng một mình đươc). Quả nhiên là vậy, đặc biệt ở một số quốc gia, không phải muốn đứng riêng là được, ngay cả muốn thể hiện chính kiến cũng không phải là chuyện dễ dàng. Nên nhiều lúc con người chỉ vì mưu cầu sự yên ổn cho bản thân và gia đình, mà phải cam chịu lối sống "ai sao mình vậy". Lần hồi, trở thành một thuộc tính hoặc phản xạ có điều kiện, cứ nghe đến chuyện gì có tính "đột phá" là sợ, là né, mặc dù có những sự việc đúng sai rõ ràng trước mắt cũng không dám làm khác đi. Thậm chí, nhiều người trong giới khoa học kỹ thuật R&D (nghiên cứu và phát triển), giáo dục đào tạo, nhiệm vụ canh tân đất nước, mà cũng lặng lẽ "ai sao mình vậy". Mắt nhắm mắt mở, nghe theo nói theo, thì làm sao có được những đột phá ? 

Thực ra những ứng xử "ai sao mình vậy" trong đời sống hàng ngày của dân ta, thì cũng là những chuyện quen thuộc. Từ chuyện đi họp đi hành, đọc báo nghe đài, nghe diễn văn tin tức trên TV .... đôi khi quay chụp lẫn nhau giống từng câu chào lời nói. Có nhiều khi diễn giả chưa nói hết, người ngồi dưới đã đóan ra được câu kế kiếp là câu gì. Từ ngữ, câu cú, hình thức mở đầu kết thúc như nhau, rập khuôn. Đi tiệc tùng cưới gả ở quê nhà cũng vậy, nhiều lúc cứ tưởng mấy ông MC học chung một thầy, coi chung một sách. Ra đến nước ngoài cũng vẫn giữ gìn bản sắc truyền thống, giống nhau trong mỗi sinh hoạt. Xe cộ, ăn mặc cũng có gu giống nhau, hết 4Runner thì qua Lexus, hết Hummer thì qua Tesla, hết áo thần tài thì qua quần ông địa :-). Chuyện tổ chức đám cưới đám tang, lễ hội đình đám, uống bia uống rượu, cái gu ăn nhậu cũng thế, ai sao mình vậy. Hết cognac XO chuyển qua whisky, single malt, hết bia vàng bia đen chuyển qua vang trắng vang đỏ, hết sushi chuyển qua crawfish, hết tôm hùm chuyển qua ốc vòi voi, hết gà đồi chuyển qua heo tộc, hết chồn hương chuyển qua tê tê, hết anh vũ cá hô chuyển qua sturgeons, hết trứng cá hồi Alaska chuyển qua caviar Beluga, Almas ..v.v...Cứ ai sao mình vậy, nên đến chỗ đông người, sân ga phi trường, cũng dễ nhận ra đồng hương của mình. Ngay đến chuyện học hành cũng vậy, đa số chọn nghề nghiệp giống nhau, hết phần cứng tới phần mềm, hết nha đến dược, hết bác sĩ đến kỹ sư, hết đời trước đến đời sau. Có lẽ cũng có những lý do chủ quan và khách quan nhất định nào đó, nên đi dự hội đồng hương cộng đồng thường nghe được những câu chuyện na ná như nhau. Về quê ở tận miền xa xôi hẻo lánh cũng nghe những câu chuyện giống nhau. Nhiều người có bà con, bạn bè ở Mỹ, ở Tây, ai cũng làm to làm lớn, bằng này bằng nọ, nhà lầu biệt phủ, hết Harvard tới NASA, hết phát minh này đến bằng sáng chế nọ. Nhiều người VK còn mang cả “hàm” thứ trưởng, bộ trưởng ở nước ngoài về cho quê nhà. Hôm rồi coi tin tức, có người gốc Việt bên Mỹ đổi họ của gia đình anh ta thành Trump, biết đâu mai mốt trăm họ của người Việt Nam lại được cộng thêm một họ mới, đã từng làm tổng thống Mỹ ... Kể ra thì nhiều chuyện vô vàn, cứ ai sao mình vậy mà mần. Tất nhiên không hề có chuyện đúng sai ở đây, mà chỉ là nhu cầu và sở thích. Ai cũng có nhu cầu mơ ước, và có quyền tự do chọn lựa sở thích phù hợp cho riêng mình. Có khi những điều đó đã làm cho cuộc sống của họ trở nên thiết tha hơn, hưng phấn hơn. Cho nên quan niệm "ai sao mình vậy" cũng có những mặt tích cực của nó.

Mình cũng không hề có ý kỳ thị vùng miền ở đây, mà chỉ dựa vào những điều mắt thấy tai nghe, hạn hẹp trong sự hiểu biết của mình. Càng đi ra miền ngoài, thì nhu cầu "liền chị liền em", càng nặng nề ghê gớm hơn. Từ nhà cửa dinh thự, cơ ngơi thú lạ gỗ quý, cho đến mồ mả khuôn viên chôn cất, hơn thua nhau, to lớn đến nỗi không quốc gia nào trên thế giới có thể sánh kịp. Nhìn những món nội thất quý hiếm chạm trổ như vua chúa, cho đến những gian thờ sừng ngà điêu khắc vô giá, mới hiểu được cái mãnh lực của nhu cầu "ai sao mình vậy” to lớn đến dường nào. Suy cho cùng thì đó cũng là những nhu cầu bình thường trong đời sống, ai cần gì thì tìm nấy. Nhưng có tìm được hay không lại là một vấn đề khác !
Và đó cũng là hiện tượng nổi bật ở quê nhà trong vài thập niên gần đây. Ngày xưa dường như những hiện tượng này hiếm hoi hơn. Có lẽ nhu cầu "ai sao mình vậy" của ngày trước không nặng về tiền tài vật chất như hôm nay, mà chú trọng hơn ở những giá trị khác trong đời sống như tiếng tăm, địa vị, kiến thức, đạo đức, tư duy .v.v.. hoặc dựa trên những thành tựu cống hiến cho xã hội, cho đất nước, cho con người.

Thiết nghĩ mọi nhu cầu "ai sao mình vậy", "liền chị liền em", chạy đua “vũ trang” hình thức ...v.v. cuối cùng cũng chỉ là những ứng xử bên ngoài, nhu cầu tâm lý, mang nặng tính thời cuộc, rồi sẽ thay đổi dần theo năm tháng. Nửa thế kỷ trước không có, giờ lại có, thì biết đâu nửa thế kỷ sau lại biến mất. Vô thường là một quy luật của vũ trụ. Trên thế giới có nhiều quốc gia giàu có, phát triển hơn VN rất nhiều lần, nhưng cuộc sống họ không đặt nặng lắm về hình thức, mà chú trọng về nội dung nhiều hơn. Suy cho cùng những cuộc chạy đua so đo hình thức cũng chỉ là nhu cầu cá nhân  bình thường, tuỳ theo sở thích của mỗi người. Điểm chính mà mình quan tâm là có nhiều trường hợp quan niệm "ai sao mình vậy" một cách máy móc mà không suy xét kỹ lưỡng vấn đề đúng sai, hoặc chỉ hùa theo đám đông, sẽ dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng cho người, cho mình. Dĩ nhiên bất kỳ một quan niệm sống nào cũng có ảnh hưởng nhất định lên những khía cạnh khác nhau trong cuộc sống. Ở đây mình chỉ mạn phép trao đổi vài ba lãnh vực nổi trội thôi.

Thứ nhất, tin đồn. Đồn đãi tin tức, chuyện trên trời dưới đất, ông này bà kia, không ai kiểm chứng. Ai cũng biết, xã hội ngày càng nhiều tin đồn thất thiệt. Ông bà ngày xưa thường nói "Lời đồn sợ người có trí khôn". Nhưng thời nay thì dường như tin đồn không còn sợ "người có trí khôn" nữa :-). Nhiều người thông thái, bằng kia cấp nọ, ở nước ngoài nước trong, nhưng không những chỉ nghe theo tin đồn thất thiệt, mà còn góp phần phát tán mạnh mẽ. Có trường hợp không chịu phân tích kiểm chứng tin tức, cứ "ai sao mình vậy", dẫn đến những ngộ nhận, gây nên hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, gia đình, và cho xã hội. Nhiều người còn phải vướng vào vòng lao lý, tù tội, vì hùa theo đám đông mà chẳng biết đúng sai. Ví dụ như vụ bạo loạn ngày 6 tháng Giêng ở quốc hội Mỹ vừa qua. Cho nên nhiều người nói rằng thời nay giết người không cần đến gươm dao, mà chỉ cần tin đồn !

Thứ hai, thần tượng. Xưa nay, đất nước nào càng tôn thờ thần tượng một cách mù quáng, thì càng bị lôi cuốn vào những vấn đề huyễn hoặc, vô lý. Đa số các quốc gia phương Tây thường quan niệm con người thì ai cũng có những lỗi lầm, chuyện rất ư bình thường, nên ít khi thần thánh hoá nhân vật. Bất kỳ ông to ông lớn nào cũng có những ưu khuyết điểm nhất định của họ. Dẫu là những chính khách như Washington, Napoleon, Lincohn, FDR, Churchill, hoặc nhà khoa học như Edison, Tesla, Marie Curie, Einstein, Pasteur ... thì ai cũng có lúc đúng, lúc sai. Ai tò mò muốn biết các ưu khuyết điểm của họ, thì thông tin tin tức cũng nhiều, đầy đủ và minh bạch, cứ hỏi bác "gục gờ chấm cơm". Nhưng ngược lại, ở một số địa phương khác, khi đã là "thần tượng" thì không ai được đụng đến điểm xấu hoặc khuyết điểm của họ, bất khả xâm phạm, bơm tới mây xanh luôn :-). "Thần tượng" nói gì cũng đúng, làm gì cũng đúng, và cứ thế khăng khăng nhất mực nghe theo làm theo. Có lần nhìn thấy đám đông thanh niên VN chen lấn gào thét khóc lóc như điên dại chào đón một ngôi sao Hàn Quốc ngoài sân bay, mà mình thấy sợ. Hiện tượng cuồng tín đó không phải chỉ xảy ra trong đời sống thực, mà gần đây trên không gian ảo mạng XH còn đáng sợ hơn nhiều. Mới hôm rồi đọc tin tức ở VN, có ai đó còm đụng chạm đến một nhân vật "thần tượng" lai chim, giang hồ mạng kéo đến tận nhà hành hung. Một người livestream nói nhăng nói cuội trên mạng XH, mà có thể kích động cả một rừng người đu theo bất kể đúng sai. Xu thế hùa theo đám đông là một vấn nạn nguy hiểm của xã hội hiện nay, khắp nơi khắp chốn tuỳ theo dân trí và văn hóa của mỗi vùng miền, chứ không phân biệt một quốc gia nào. Nguy hiểm hơn là có nhiều tổ chức hoặc cá nhân hiểu rõ điều đó, lợi dụng đám đông thích "ai sao mình vậy" để dẫn dắt vấn đề lệch lạc, hòng phục vụ cho mục đích riêng tư của họ. Với bản tính cả nể của người Á đông, những câu chuyện đồn đãi vô căn cứ lại càng được dễ dàng chấp nhận hơn. Hiện nay chính phủ ở các nước phát triển và các nhà khoa học, nghiên cứu công nghệ, rất quan tâm đến lãnh vực này.

Một khía cạnh khác, càng thần tượng hoá, càng duy ý chí, thì càng có những tác hại đối với khả năng hoặc phương thức suy luận logic, tư duy phản biện của bản thân. Nhớ có lần mình ghé thăm một gia đình người quen, nghe ca tụng rất nhiều về một người "nữ tu" gốc Việt, mà bao nhiêu người VK đang rầm rộ tôn vinh. Nhưng khi thắc mắc hỏi thăm là cô ta hay chỗ nào, thì người bạn trả lời - "Không biết, chỉ thấy có rất nhiều tín đồ đi theo". Mình nghĩ chắc cũng một dạng của đức tin "ai sao mình vậy" nên cũng không hỏi thêm. Lâu nay không còn nghe tin tức về cô ấy nữa. Thời kỳ mới về VN đi làm cũng vậy, ban đầu nghe nhiều bạn bè và người thân của mình tôn vinh nói về một "cao tăng" thuyết giảng rất nổi tiếng. Mình lặn lội tìm cho được mớ băng đĩa về coi, rồi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Ngạc nhiên về người giảng, và ngạc nhiên cả về người nghe. Là một tín đồ PG, mình luôn kính trọng chư vị tăng ni, hiểu rõ được giá trị và công đức của việc truyền thừa đạo pháp của chư vị tăng đoàn. Tuy nhiên, nếu một bài giảng có những sai phạm cơ bản, quá nhiều lầm lẫn, mang màu sắc chính trị tuyên truyền, thế mà một số  người vẫn cứ theo quan niệm "ai sao mình vậy", mặc nhiên chấp nhận và nghe theo làm theo, thì đó không phải là sự tôn trọng, mà là phỉ báng đạo pháp !

Thời buổi này cũng không hiếm những người lạm dụng việc khoác áo tu hành, lạm dụng đức tin tôn giáo của người khác, để phục vụ cho những mục đích riêng tư, kể cả mục đích chính trị. Và điều đó làm cho nhiều người thất vọng, cho rằng đây là thời kỳ mạt pháp, nên bỏ đạo, bỏ chùa, bỏ nhà thờ, không thèm tu tập nữa. Nhưng nếu ứng xử như vậy thì cũng quá cực đoan, mình nghĩ vậy. Mình quan niệm rằng để hiểu rõ vấn đề, càng phải đến gần tôn giáo hơn, càng cố gắng để học hỏi hiểu biết giáo lý một cách rõ ràng hơn, thì mới phân biệt được cái nào đúng cái nào sai, mới hiểu được ai tu thiệt tu giả. Tin mà không hiểu thì chỉ là mê tín. Còn nếu cứ hùa theo số đông, ai sao mình vậy, lễ bái cung phụng mà không hiểu rõ thực chất vấn đề, thì có khi từ một tôn giáo rất khoa học, rất trí tuệ, lại có thể bị dẫn dắt đi vào con đường mê tín dị đoan, dựa dẫm vào những "thần tượng" mơ hồ. Tin vào những khái niệm lệch lạc hoang đường, hoặc tôn vinh những hình thức nghi lễ rườm rà vô lý !

Chuyện mê tín trong tôn giáo đã vậy, chuyện cuồng tín thần tượng trong chính trị chính em lại càng phức tạp hơn. Sử liệu biên soạn bao giờ cũng có những góc khuất tuỳ theo đứng ở góc cạnh nào. Xưa nay trong sách sử của một số quốc gia kém minh bạch, chuyện hư cấu thần tượng, triều đại sau bêu xấu triều đại trước, phe này dựng chuyện kết án bên kia, cũng là thường tình. Tìm hiểu sơ sài, chạy theo đám đông, không phân tích cẩn trọng, có khi lại vô tình bóp méo sự thật, biến không thành có, biến có thành không, làm ảnh hưởng đến nhiều thế hệ con cháu. Lịch sử thế giới vẫn có những tai họa này.

Thứ ba, "quy trình" và "ai sao mình vậy". Đúng vậy, ở quê nhà, quy trình là một từ ngữ thông dụng nhất, đơn giản nhất, mà cũng phức tạp nhất. Từ kinh doanh thương mại, hành chánh luật lệ, quan trường thi cử, toà án tối cao cho đến trung ương quốc hội, đâu đâu cũng có những quy trình “khó hiểu”, mà không nhất thiết phải là trắng đen rạch ròi. Có nhiều trường hợp, chữ quy trình được dùng như một chiếc đũa thần để trả lời mọi khúc mắc nghịch lý. Ở những nước tiên tiến thì họ có những phương cách minh bạch tiếp nhận ý kiến người khác, cải tiến quy trình để canh tân thay đổi chứ không mặc nhiên chấp nhận "ai sao mình vậy". Đại đa số các công ty, trường học, bệnh viện, cơ quan, nhà xưởng ... luôn có những quy trình cải tiến CIP (continuous improvement process) trong từng mỗi bộ phận ban ngành, để cải tiến công việc ngày càng hiệu quả hơn. Nói chi xa, đi xin visa hoặc đi phỏng vấn với phái đoàn Mỹ, năm ngoái năm nay cũng đã khác rồi. Riêng ở quê nhà, thì ai cũng ít nhiều có những trãi nghiệm với các "quy trình", nên không cần thiết nói thêm nữa ở đây. Nhiều nơi đến nay vẫn còn giữ những quy trình lạc hậu bao nhiêu năm không thay đổi, có người còn cho đó là sự chung thuỷ "trước sau như một", rất đáng giữ gìn :-). Thực ra trong những năm gần đây, cũng có nhiều quy trình được thay đổi, và luật lệ được cải tiến, nhất là ở những lãnh vực dịch vụ công cọng. Nhưng có thứ thay đổi để gọn gẽ hơn, thì cũng có thứ thay đổi để phức tạp hơn. Và giải pháp hiệu quả nhất của đám đông vẫn là an ủi nhau - "Thôi, ai sao mình vậy", rồi lại tiếp tục đợi chờ một quy trình mới. Như trong mùa dịch bệnh vừa qua, mình thường email gọi điện hỏi thăm bạn bè, người thân. Câu nói được nghe nhiều nhất vẫn là "Ai sao mình vậy !". 

Tóm lại những câu chuyện này nói sao cho hết ý trong phạm vi vài dòng tản mạn cuối tuần. Những kinh nghiệm thừa hưởng từ bao thế hệ đi trước, những năm dài tháng rộng với nhiều vốn sống để tự hào, thì đâu dễ dàng gì thay đổi một sớm một chiều được. Có người cho rằng quan niệm "ai sao mình vậy" là một sự khôn ngoan, thức thời. Cũng có người cho đó là một nguyên tắc sống hoà đồng, dĩ hoà vi quý. Có người lại cho đó là một sự cam chịu bất hạnh. Rồi cũng có người cho đó là sự bàng quang, vô trách nhiệm ..v.v...Và chắc chắn cũng có nhiều người không đồng ý với những quan niệm đó. Không đồng ý với quan điểm "ai sao mình vậy" không có nghĩa là tham vọng, ham muốn, tranh giành thêm cái biệt phủ này, miếng đất nọ. Mà nó mang ý nghĩa tích cực hơn về sự tự chủ của bản thân, tự nhận thức để thay đổi cho phù hợp, không bị lôi cuốn vào những điều nghịch lý, và không bị đồng loã với những sai phạm chung quanh. Cũng câu nói đó nhưng chắc chắn là ông nông dân nghĩ khác, ông lái buôn nghĩ khác, ông quan nghĩ khác, và ông lãnh đạo lại càng nghĩ khác hơn. Ai cũng có những lý do riêng của họ. Riêng mình, với khả năng hạn hẹp, luôn tin vào quy luật thay đổi của vũ trụ. Và con người cũng như xã hội cần phải thay đổi để phù hợp với quy luật đó. Tất nhiên là đất nước nào cũng thế, luôn hy vọng vào những đổi mới tiến bộ hơn, luôn tin tưởng vào thế hệ sau. Đó sẽ là thế hệ tiến bộ hơn, mạnh mẽ hơn, giỏi dang hơn, và thực tế hơn. Một đất nước không thể đi xa hơn nếu phải cứ gồng gánh những định chế cũ kỹ, lạc hậu, cam chịu chấp nhận, hoặc thoả mãn hài lòng với những mặc định "ai sao mình vậy". Chợt nhớ đến Elon Musk, một người thuộc thế hệ trẻ, được cho là người giàu nhất thế giới hiện nay, có một câu phát biểu rất hay - "Some people don’t like change, but you need to embrace change if the alternative is disaster". Mình tạm dịch là - "Nhiều người không thích sự thay đổi, nhưng chúng ta cần phải hoan nghênh và chấp nhận sự thay đổi nếu như hướng đi kia đang là thảm hoạ" :-) .

Cũng nhân nói đến đề tài "thay đổi", làm nhớ đến một bài hát mà ngày xưa mình rất mê, cho tới bây giờ cũng còn thích. Đó là bài "Wind of Change" nổi tiếng của băng nhạc Đức Scorpions. Bài hát này xuất hiện như một hiện tượng vào những năm cuối cùng của cuộc "Chiến tranh lạnh", khi bức tường Berlin sụp đổ. Sau đó bài hát đã được trình diễn tại một đại nhạc hội ở Liên bang Xô Viết, gây nên rất nhiều cảm xúc đối với khán giả cũng như giới trẻ Liên Xô thời bấy giờ. Tay guitar lừng danh của Scorpions là Rudolf Schenker đã từng xúc động kể lại rằng "We wanted to show the people in Russia that here is a new generation of Germans growing up, and they're not coming with tanks and guns and making war, they're coming with guitars and rock 'n' roll and bringing love !". (Tạm dịch là: Chúng tôi mong muốn nói với người Nga rằng, đây là thế hệ trẻ của Đức lớn lên. Họ đến đây không phải mang theo xe tăng và súng đạn để gây chiến tranh, mà mang theo những cây đàn guitar, nhạc rock, và tình thương yêu !). Quả nhiên là một thông điệp rất đáng trân trọng. 

Mình để đường dẫn bài hát phía dưới đây. Nếu ai nghe được thì nghe, không nghe được thì vô Youtube tìm bài "Wind of Change" nghen. Chúc mọi người cuối tuần vui vẻ.

PN




Saturday, October 16, 2021

Nobel hoà bình & sự thật

 


Năm nay, giải Nobel Hoà bình được trao cho 2 nhà báo người Phi luật Tân và Nga, có tên là Maria Ressa và Dmitry Andreyevich Muratov. Thông thường, giải Nobel Hoà bình về tay nhà báo là trường hợp rất hiếm hoi. Lần cuối cùng và duy nhất là gần 90 năm trước (1935), Carl von Ossietzky, một nhà báo người Đức đoạt được giải thưởng cao quý đó. Vậy tại sao năm nay hội đồng Nobel có quyết định như vậy ? Nhiều người cho rằng ngoài việc vinh danh sự hy sinh & lòng dũng cảm đấu tranh cho tự do ngôn luận tự do báo chí, Hội đồng giải Nobel Hoà bình năm nay còn đặc biệt hướng đến một giá trị vô cùng quan trọng trong xã hội hiện tại. Đó là giá trị của sự thật trong đời sống !

Quả nhiên trong đời sống hàng ngày của chúng ta, sự thật luôn nắm giữ một vai trò tối quan trọng. Từ tin tức thời sự cho đến các dữ kiện, số liệu thống kê, cũng như thông tin tin tức trong mọi quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa chính quyền với người dân. Tất nhiên là không phải cho đến bây giờ, "sự thật" mới trở thành một vấn đề mà xã hội cần quan tâm. Xưa nay, "sự thật" bao giờ cũng là nền tảng chính của mọi niềm tin và quan hệ xã hội, thương mại, ngoại giao…Tuy nhiên, cho dù ở quốc gia nào, thể chế chính trị nào, thì cũng đều tồn tại những vấn đề nan giải về "sự thật". Nạn tuyên truyền, bóp mép lịch sử, tin tức dối trá, luận điệu vu khống, hoặc bưng bít sự thật, cấm đoán cưỡng ép, vẫn xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Chế độ nào càng kém văn minh dân chủ, thì thông tin càng dễ bị che đậy lấp liếm. Có những cơ chế chính trị đặc thù, mang tính hệ thống, thì dẫu muốn nói thật cũng không thể, thậm chí còn có thể bị loại trừ hoặc buộc tội. Cũng không phải vấn nạn thông tin dối trá chỉ xảy ra ở những quốc gia độc tài, mà ngay cả ở những nước dân chủ hàng đầu trên thế giới cũng tồn tại điều đó, chỉ là nhiều hay ít, hình thức khác nhau, hoặc động cơ khác nhau. Tất nhiên mỗi quốc gia đều có những cơ chế luật pháp nhất định để bảo vệ hoặc tố tụng những vi phạm làm phương hại đến quyền lợi người dân.

Nhìn lại trong những thập niên gần đây, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ. Các phương tiện truyền thông và phương thức liên lạc ngày càng đa dạng hơn. Con người cũng tiến bộ hơn và tinh vi hơn trong những cách thức dối gạt nhau, gây nhiễu loạn tin tức, hoặc làm lũng đoạn "sự thật". Ví dụ như thông tin nguồn gốc dịch bệnh covid từ TQ thì đừng hòng ai có thể tìm ra sự thật. Ngay cả ở những quốc gia tương đối dân chủ và minh bạch như Mỹ, mà lùm xùm vụ bầu cử từ năm ngoái đến nay vẫn còn chưa dọn dẹp sạch sẽ được. Mấy tuần qua nhiều vị cựu quan chức cao cấp của chính phủ, từng là thân tín của tổng thống tiền nhiệm, cũng bị trát toà kêu ra điều trần. Chưa biết diễn biến trong những ngày tới sẽ ra sao. Sự thật bị đánh tráo, còn tin hay không là tuỳ ....... người đối diện :-). Chuyện “đúng sai” cũng còn tuỳ thuộc vào việc chơi với ai, nghe đài nào, coi kênh you tube nào, đọc báo nào, bạn bè theo phe nào, theo đảng nào..v.v. Mấy hôm trước nước Mỹ cũng xôn xao về vụ một cựu nhân viên của Facebook, cô Frances Haugen, ra điều trần khai báo các thủ thuật của FB trong việc xử lý thông tin của họ. FB bị cáo buộc chạy đua theo lợi nhuận, bất chấp đạo đức. Ngay hôm sau đó FB đã có sự cố trong một khoảng thời gian dài, chưa rõ nguyên nhân, và cổ phiếu bị tụt dốc đáng kể. Nhưng chắc hẳn là sự việc không chỉ dừng lại ở đó. Và đây cũng là một câu chuyện liên quan đến sự thật của thông tin tin tức.

Tất nhiên lâu nay ai cũng biết mạng xã hội như Facebook, Instagram, Youtube ... là những sân chơi không tốn mặt bằng, để người ta tương tác với nhau. Thật có, giả có, muôn kiểu hoá thân. Bên cạnh việc nhiều người coi đó là một công cụ để liên lạc với bạn bè người thân, thì cũng có rất nhiều người coi đó là một môi trường kép bên đời sống thực, để sống ảo với nó, hoặc để phô diễn phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, kể cả thương mại và chính trị. Rồi dần dà một số người vô tình bị lệ thuộc hoặc bị nghiện sâu không thể sống thiếu nó được. Đơn giản là ở nơi đó họ có thể tự do biến thành những "hình tượng" khác nhau để thoả mãn cảm xúc hoặc nhu cầu cá nhân. Để gặp gỡ, để hẹn hò, để chia xẻ trong những phạm vi tự chọn, hoặc có thể biến bất kỳ ai trở thành những thiên thần hay quái vật theo ý riêng của họ. Và mặt trái của nó còn ghê gớm hơn. Không hiếm những trường hợp mượn gió bẻ măng, bóp mép sự thật, vu khống mạ lị, nhan nhản xảy ra mỗi ngày. Chuyện chính trị chính em trên mạng cũng vậy, như một bữa tiệc buffet, xào qua xào lại, nấu tới nấu lui, món nào thấy ngon, hợp khẩu vị thì lấy ra để dành. Siêng thì xào nấu lại, không siêng thì bê nguyên gói, gởi cho bạn bè người thân cùng ăn. Có món ngon thật, nhưng cũng có món bị bội thực cả đời. Ngay cả nhiều người có bằng này cấp nọ, tự hào là thông thái rồi cũng bị lôi cuốn vào cái mê hồn trận đó. Cũng cay đắng, cũng chiêu trò, cũng lệch lạc tin tức một chiều, khuya sớm lục lọi tìm tòi những trang mạng, những kênh tin tức "vịt bầu" hợp ý, để vừa coi vừa phát tán rộng rãi. Ai cũng cho mình là hiểu biết hơn người khác, tin tức của mình là đúng, tin tức của bên kia là sai. Cuối cùng rồi ai cũng trở thành người "yêu nước thương dân" được, ai cũng trở thành người tốt được, và ai cũng trở thành "kẻ xấu xa" được. Lần hồi, tính công bằng trong ứng xử, tính logic trong nhận định vấn đề, và thông tin "sự thật" trong đời sống đã trở thành những món hàng xa xỉ, hiếm hoi. Đáng sợ hơn là nhiều lúc thiên hạ cũng chẳng còn cần thiết quan tâm đến chân tướng của vấn đề, mà chỉ cần họ và những người thân quen tin rằng đó là "sự thật" là đủ. Bên cạnh đó, cũng có nhiều người đành nhắm mắt đưa chân, sống chung với lũ, vì muốn tìm hiểu sự thật cũng chẳng biết đâu mà mò !

Quả nhiên là vậy, và các nhà mạng xã hội cũng như giới truyền thông đã nắm bắt điều đó rõ hơn ai hết. Bởi chính họ là nhân chứng của sự truy tìm "kiến thức" thông qua những từ khoá, còm men, xì ta xì tút, "like", "subscribed", "views", lai chim lai chuột .v.v... Cũng chính họ là kẻ có thể "lèo lái" con tàu kiến thức chạy theo nhu cầu của mỗi cá nhân. Anh nào thích mắm tôm có mắm tôm, thích bồ hóc có bồ hóc, thích Trump có Trump, thích Biden có Biden. Ví dụ như nhiều lúc truy tìm cùng một từ khoá, nhưng ở hai nơi khác nhau, hai máy tính khác nhau, hai "đảng" khác nhau, có khi lại nhận được đường dẫn về hai cõi thiên thai khác nhau. Như cô kia tố cáo Facebook có những công cụ để phát hiện ra và "đổ dầu vô lửa” đối với những đề tài nào còm nhiều, cãi lộn nhiều, hoặc thu hút được đám đông, bằng cách tung chiêu kết nối thêm người xử dụng có cùng sở thích hoặc cùng “chí hướng”, bơm bong bóng cho các anh hùng mạng “điếc không sợ súng”… Bởi vậy, một số người có tầm nhìn xa hơn về một thế giới AI (trí tuệ nhân tạo) trong tương lai, cũng không khỏi có chút ngậm ngùi lo lắng !

Trở lại vấn đề mà nhiều người quan tâm, đó là liệu có một phương pháp nào, công nghệ nào, hay luật pháp nào có thể bảo vệ và duy trì "sự thật" trong thông tin tin tức chăng ? Mình nghĩ là không. Đơn giản là không thể nào hoàn toàn được. Ngay cả ngồi lục lại mớ kiến thức hoặc cái "biết" mà mỗi chúng ta đang có, thì trong đó có bao nhiêu là sự thật ? 

Tính đến nay, thì cho dù là theo khoa học hay theo tôn giáo, nhiều người cũng đồng ý với nhau là kiến thức con người có được là do sự cảm thụ (perceived) và tương tác với thế giới chung quanh thông qua cửa ngõ của ngũ quan (tai, mắt mũi, lưỡi, thân) và ý thức (mind). Mà nói đến kho tàng kiến thức của con người, thì cho dù là thiên tài hay ngờ nghệch, ông nghè ông tổng hay ông nông dân, ông bí thư chủ tịch hay kẻ trộm cướp ăn mày... cũng đều được hình thành từ 4 nguồn giống nhau dưới đây. Không ai ngoại lệ cả, tiếng Anh gọi đó là "Modes of Knowledge". (Vì hơi súc tích nên mình cố gắng dịch ý thôi, hy vọng là không sai lệch nhiều quá :-)

1. Knowledge from Direct Veridical Perception: Là kiến thức được ghi nhận trực tiếp bằng ngũ quan. Ví dụ như thấy trái cam, nghe tiếng chim hót, ngửi bông hoa, đọc cuốn sách..v.v.. là những gì xảy ra tức thời ngay tại thời điểm đó. Thấy sao, nghe sao, biết vậy, không đánh giá, không phán xét gì thêm.

2. Knowledge from Inference (true or false): Là kiến thức sau khi các giác quan ghi nhận, đã có gắn mác thêm phần xử lý của con người. Có sự so sánh, phân tích, đánh giá dựa vào tư duy, suy nghĩ, kinh nghiệm và kiến thức của bản thân họ. Nên chắc chắn là có đúng, có sai, không còn giống như sự ghi nhận nguyên thủy ban đầu nữa. Ví dụ như: thấy trái cam đó mỏng vỏ nghĩ chắc ngọt, nghe tiếng chim đó hót nghĩ là hoạ mi, thằng đó hách dịch chắc là nhà mặt phố bố làm quan, cuốn sách này nói đúng, cuốn phim kia rất hay, bà này bị khùng, ông kia hoang tưởng..v.v...Đây cũng là trường hợp thường gặp và đa dạng nhất trong cuộc sống.

3. Knowledge from fallacious reasoning: Là kiến thức có được từ sự tưởng tượng, hoang tưởng, hoặc nằm mơ. Ví dụ như dưới địa ngục chắc là ghê lắm, phải đốt đô la xuống cho bạn mình hối lộ. Đế quốc Mỹ dữ lắm chuyên ăn thịt người. Trăng Liên Xô tròn hơn trăng nước Mỹ. Thế giới đại đồng sướng như thiên đường ..v.v...
(Khác với hai cách ghi nhận (1) và (2) ở trên, sự cảm nhận luôn có chủ thể (subject) và sự vật (objects) . Nghĩa là có cái để tương tác, để nghe, ngắm, ngửi, nếm, trực tiếp. Còn hai cách ghi nhận phía dưới (3) và (4) chủ yếu chỉ là nghe đi nghe lại, hoặc tưởng tượng, hoặc nằm mơ, hoặc hư cấu hoang tưởng mà tạo thành kiến thức.

4. Knowledge from Saints and/or Trust-worthy Source: Là kiến thức có được do đức tin, niềm tin, hoặc nghe được từ nguồn nào mà họ cho là đáng tin cậy. Ví dụ như những câu chuyện, giáo lý nghe từ trong kinh sách tôn giáo, hoặc nghe từ các bậc tu hành phẩm hạnh, tri thức đáng kính ..v.v. Còn kiến thức có được từ nguồn "đáng tin cậy" thì cũng không đơn giản chút nào, vì ngay cái chữ "đáng tin cậy" cũng là một sự thật khác cần được kiểm chứng. Ví dụ như có thằng em ở NASA nói vậy, có thằng bạn làm cho chính phủ nói thế, hoặc nghe ông chú làm ở Viettel có tin nội bộ, hoặc đi họp lớp nghe chị bạn VK giải thích vậy, hoặc nghe ông trưởng thôn bảo thế, hoặc nghe dư luận nói rằng anh ấy thế nọ thế kia, hoặc báo nói thế này, ông ts gs nói thế kia .v.v..

(Nói mới nhớ hôm bữa có ai gởi cho mình đọan YouTube video của bác Phạm Tuân kể về chiếc máy bay B-52 của Mỹ, dài 600m rộng 60m. Thấy thiên hạ phê phán quá. Mình thì nghĩ chắc bác ấy lớn tuổi nhầm lẫn thôi, hoặc là bác mê Kiều, học theo cách của Nguyễn Du tả Từ Hải. Nhưng nếu lỡ ai mà nghe được, tưởng tượng ra B-52 to như một cái hàng không mẫu hạm trên không, thì đó lại trở thành một kiến thức khác :-))

Nôm na, toàn bộ kiến thức của loài người có được đều đến từ 4 nguồn kể trên. Cho dù tây hay ta, văn minh hay lạc hậu, dân chủ hay độc tài gì cũng thế. Ai nghĩ ra được thêm nguồn nào nữa thì cho mình biết :-). Còn chuyện xử lý thông tin, khả năng nhận định, phân tích vấn đề, chủ quan hoặc khách quan ...là vốn riêng của từng người dựa vào nhiều yếu tố duyên nghiệp khác nhau, không ai giống ai. Ai cũng có cái bộ lọc trí tuệ và cặp kính râm “ego” của riêng mình. Nói tới đây thì dễ dàng nhận ra là cho dù nhiều người cùng đọc một cuốn sách, nghe cùng một câu chuyện, ở cùng một ngôi nhà, ăn cùng một món ăn, thấy cùng một món đồ vật, cũng chắc gì đã có cùng những kiến thức giống nhau. Vậy nghiệm lại với cách hình thành kiến thức như thế, thì mớ kiến thức của chúng ta có được là bao nhiêu phần trăm sự thật ? Cái gì mới là bản chất thực thể của vấn đề ? Đây là điều đáng để suy gẫm. Nên có nhiều người học Thiền, thường cố gắng thực hành để đầu óc họ chỉ dừng lại ở Mode thứ nhất (Direct veridical perception), đó cũng là cách sống với hiện tại trong khoảnh khắc đó.

Trở lại chuyện đời thường, trong những năm gần đây, hiện tượng "fake news" (tin giả) trở thành vấn nạn của cả thế giới. Mạng xã hội càng phát triển thì nạn "tin giả" càng thăng hoa. Nước Mỹ cũng vậy, đặc biệt là trong nhiệm kỳ tổng thống vừa qua và kỳ bầu cử năm 2020. Quá nhiều vấn đề về "sự thật" dẫn đến những phân hoá trầm trọng, mà cho đến nay vẫn còn đang diễn ra. Không những chỉ xảy ra trên chính trường, mà ngay cả trong bạn bè thân hữu với nhau, ngày càng bộc lộ nhiều tư duy cực đoan đáng sợ. Trong khi đó, ở một số quốc gia khác thì tự do ngôn luận vẫn còn bị hạn chế. Những vấn nạn tuyên truyền, hư cấu, định hướng dư luận vẫn thường xuyên xảy ra, nên mức độ khả tín của nguồn thông tin chính thống ngày càng mơ hồ, không còn là điều quan tâm của người dân nữa. Mạng xã hội lề trái nhanh chóng trở thành những sân chơi sôi động cho đủ mọi thành phần, đủ mọi hình thức, thiệt giả khó phân, nên nhu cầu tìm kiếm "sự thật" lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Vậy "sự thật" là gì ? Sự thật dưới mắt của người này có là "sự thật" của người kia ? Và công cụ nào có thể gạn lọc được "sự thật" cho riêng họ ? Chắc ai cũng có cách tự trả lời cho riêng mình.

Mặt khác, trong cuộc sống này không phải ai cũng có đủ can đảm hoặc khả năng để chấp nhận được sự thật cho dù nó có hiển hiện ngay trước mắt họ. Nên có những câu hỏi sẽ không bao giờ có lời giải đáp, và có những sự thật sẽ mãi mãi nằm im. Lịch sử xưa nay vẫn thế !

Thôi. chúc tất cả cuối tuần an vui.

PN 


Monday, October 04, 2021

Ý nghĩ và đích đến ! (Thoughts & Destiny )

 


Mấy tháng nay quê nhà dịch bệnh nặng nề. Chết chóc đói khổ nhiều nơi, nhất là ở SG. Phong toả, đóng chốt, rượt đuổi, bao vây ... SG không còn nữa những "con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về", mà thay vào đó là hình ảnh những cung đường lặng lẽ, lạnh lùng, người lạy nhau trên phố. Những đoàn người lũ lượt trốn đi trong đêm như hành trình thập tự chinh của người Do Thái. Mùng, mền, chiếu, gối và những ước mơ đổi đời được gói gọn sau những chiếc ba ga gầy guộc. Những em bé vẫn còn bồng bế trên tay chưa biết gì, và những đôi mắt tròn xoe ngơ ngác quấn khăn quàng đỏ, lở dở tương lai. Những người nghèo khó đùm bọc nhau, chia xẻ từng gói mì chai nước, giúp nhau từng đồng bạc đổ xăng về quê. Những giọt nước mắt đã nhỏ xuống ngậm ngùi và cái ngoái đầu nhìn lại. Những thân thể cuộn tròn bên lề đường chợp mắt ru con. Những bàn tay nhỏ bé bất lực chào nhau lần cuối, rồi quay nhanh dấu nỗi nghẹn ngào... Còn bao nhiêu cảnh tượng đáng thương nữa, nhìn những hình ảnh đó ai lại chẳng đau lòng ? 

Ở nước ngoài, những người con xa quê cũng đau lòng không kém. Nhiều người đau đáu hướng về quê nhà. Mấy ông bạn, ông anh bên Đức, bên Mỹ, bên Tây, thỉnh thoảng lại email, ai cũng mong dịch bệnh chóng qua, để về thăm lại quê nhà, ai còn ai mất. Nhiều người gởi cho nhau những bài thơ khúc nhac. Cũ có, mới có, chia xẻ nỗi buồn. Có những câu, những chữ, dường như đã qua đi lâu lắm rồi, giờ nghe lại, thấy buồn man mác !

Mẹ tôi em có gặp đâu không ?
Bao xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em bé nhỏ
Bao năm rồi xác trẻ trôi sông !
(Quang Dũng)

Tuần trước, ngồi xem lại mấy cuốn phim tài liệu của thời kỳ dịch cúm năm 1918 (Spanish Flu) và các giai đoạn phục hồi sau năm 1920. Rồi nghĩ đến cơn dịch của ngày hôm nay, có những điểm tương đồng mặc dù đã hơn 100 năm trôi qua. Bỗng nhớ đến Erich Maria Remarque. Nhớ "Bia mộ đen và bầy diều hâu gãy cánh" (The Black Obelisk), nhớ "Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống" (Flotsam)..... Rồi cả một thời sinh viên hoang dại trở về !

(Ngoài lề chút, cho đến nay mình vẫn cảm thấy may mắn được sinh ra trong buổi giao thời của đất nước. Để được thấy sự khác biệt giữa chế độ cũ và chế độ mới, để sống với những đổi thay của con người và xã hội, để được tận mắt chứng kiến những biến động cũng như bao sự kiện lịch sử quan trọng của thế giới và quê nhà. Trong đó, có cả cơn đại dịch Vũ Hán lần này. Tất nhiên một số người quan niệm khác, cho rằng đây là một thế hệ bất hạnh và đầy hệ luỵ khổ đau. Cũng có một số người cho rằng đây là một thời kỳ rực rỡ, hãnh tiến chưa từng có. Mình tôn trọng những quan niệm đó, riêng mình vẫn nghĩ rằng khi nhìn nhận vấn đề với một thái độ tích cực và công bằng sẽ giúp cho cái nhìn trung thực hơn).

Nhớ lại thời mình còn đi học, cả một đất nước khó khăn nghèo đói. Bên cạnh đó là những biến cố xã hội xảy ra liên tục và bất ngờ, nhiều người hoảng loạn, bối rối, và sợ hãi. Thời kỳ "quá độ", cơ chế bao cấp, chuyên chính vô sản, hợp tác xã, kinh tế mới, đi cải tạo, đánh tư sản, đánh địa chủ, đổi tiền, điều tra lý lịch, chiến tranh Tây Nam, chiến trường Tây Bắc .v.v... Cái gì cũng mới, cũng lạ, cũng lần đầu. Còn hạnh phúc hay đau khổ, hân hoan hay cay đắng, là tuỳ vào vị trí và hoàn cảnh của mỗi người. Nhưng đại đa số người miền Nam nói chung và người Sài gòn nói riêng, đã sống cam chịu và nhẫn nhịn, cố hy vọng và chờ đợi sự thay đổi ở ngày mai để làm động lực vượt qua những tháng ngày khốn khổ. Cũng có nhiều người chịu đựng không nỗi, đã liều chết ra đi, và hàng trăm ngàn người đã ngã xuống giữa rừng sâu hoặc vĩnh viễn nằm lại dưới lòng đại dương.

Rồi mấy chục năm trôi qua, cuộc sống đất nước có thay đổi chăng ? Chắc chắn là có. Quy luật vô thường của vũ trụ, tất cả mọi thứ đều sẽ phải thay đổi, không ai có thể làm ngược lại. Có những thứ thay đổi tốt hơn, cũng có thứ thay đổi xấu hơn. Ngày hôm nay phải khác ngày hôm qua. Ngày mai sẽ khác hơn ngày hôm nay. Đó là chuyện tất nhiên, nhưng khác thế nào mới là quan trọng. Rồi cho đến ngày hôm nay, cuộc sống của người dân có còn phải cam chịu và nhẫn nhịn nữa không ? Ai cũng có thể dễ dàng tự tìm ra câu trả lời cho chính bản thân mình !

Có nhiều người thường dùng yếu tố thời gian để so sánh sự đổi thay hoặc tiến bộ của một đất nước. Mình nghĩ là sự so sánh nào cũng khập khiễng, vì sự thay đổi luôn lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Quả nhiên là vậy. Chỉ cần 30 năm, một quốc gia thất trận, bị tàn phá như Nhật đã có thể vươn lên trở thành một đất nước có nền kinh tế hùng mạnh thứ hai trên thế giới thời bấy giờ. Chỉ cần 35 năm Singapore trở thành một đất nước có nền kinh tế phồn thịnh hàng đầu thế giới. Đài Loan, Hàn Quốc cũng vậy, không cần đến 30 năm đã trở thành cường quốc về kinh tế và dân trí trên thế giới. Nhưng chúng ta không thể đem Liên Xô, Triều Tiên hoặc Cuba mà so sánh với họ được. Những nước Đông Âu cho đến ngày nay vẫn còn vất vả để đuổi kịp các nước Tây Âu láng giềng của họ. Suy cho cùng, yếu tố quan trọng nhất cho sự thay đổi và phồn thịnh không phải là thời gian, càng không phải là thành tích chiến tranh, mà là ở tư duy, ở trong từng ý nghĩ của mỗi con người.

Thời đại hôm nay, các ngành tâm lý học hoặc xã hội đương đại, ai cũng biết đến nguyên tắc chung “Thoughts become actions. Actions become habits. Habits become character. Character becomes destiny”. Tạm dịch là: “Ý nghĩ dẫn đến hành động. Hành động dẫn đến thói quen. Thói quen dẫn đến tính cách. Tính cách dẫn đến vận mạng”. Cá nhân cũng thế mà đất nước cũng vậy. Điều này thì rõ ràng quá, lại dễ dàng chứng minh, nên cũng chẳng ai tranh cãi gì nhiều. Có chăng là nhiều người lâu lâu vẫn còn tranh cãi ai là tác giả câu này. Người thì cho là của Lão Tử, người thì cho là của Gandhi, người thì bảo là của bà Thatcher. Thực ra người nào có đọc hoặc nghiên cứu về Yogacara (tên khác là Yogachara, Vijnanavada, Vijnaptimatra, Consciousness Only, Duy thức ....) thì những điều này đã được nói đến từ hơn 2500 năm trước rồi. 

Xin mở ngoặc chút, một số người xưa nay vẫn thường ngộ nhận quy chụp nhiều quy luật tự nhiên là của đức Phật tạo ra, hoặc là sở hữu của đạo Phật. Ví dụ như vô thường, nhân quả, hoặc đạo lý đang nói đến ở đây. Thực ra Đức Phật không phải là đấng tạo hoá, Ngài cũng không phải là Thượng đế như theo quan niệm ở một số tôn giáo khác. Cho nên những gì trong kinh sách mà Ngài đã giảng dạy truyền lại đều là những quan sát thực tế, trãi nghiệm và thực chứng dưới con mắt trí tuệ (prajna, wisdom) của một đấng giác ngộ, chứ Ngài không tạo ra những quy luật đó, và càng không muốn tranh giành công lao, lập thành tích, hoặc đăng ký sở hữu trí tuệ bản quyền :-).

Nói thêm chút, đạo Phật vốn cho rằng mọi thứ trên cuộc đời này đều xuất phát từ ý nghĩ (thoughts). Không những chỉ là số phận, mà cái tôi, cái tớ, cái "bố mày", cái chủ tịch, cái giám đốc, cái cu li, cái nô lệ, cái tự chủ, cái có, cái không, cái hạnh phúc, cái khổ đau....v.v.. nôm na đều bắt nguồn từ sự tương tác của thân và ý (body & mind) với môi trường chung quanh mà tạo thành. Ai muốn tìm hiểu sâu hơn thì mình nghĩ nên đọc tài liệu nói về 8 thức (consciousness), và 5 uẩn (skhandas). Còn đối với dân thường sửa máy tính như mình, thì đơn giản coi "body" như là phần cứng (hardware), coi "mind” như là phần mềm (software). Cho nên anh nào muốn thay đổi tư duy, thì kiếm phần mềm khác bỏ vào chạy thử xem sao :-).

Tuy nhiên nói vậy chứ không dễ chút nào. Mỗi người mỗi cảnh, mỗi quốc gia mỗi cách. Rất nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, hằng ngày nổ lực tìm kiếm và cổ vũ những tư duy sáng tạo, đề cao những lối suy nghĩ mới lạ. Bởi họ cho rằng đó là động lực chính để nâng cao giá trị đời sống con người, canh tân đất nước, cải tiến xã hội, thay đổi thế giới (changing the world). Những đứa trẻ đi học từ nhỏ đã được thầy cô, cha mẹ, khuyến khích nên suy nghĩ độc lập, tư duy rộng rãi, đa phương đa chiều, và luôn đeo đuổi giấc mơ "thay đổi thế giới". Thế nhưng bên cạnh đó, thì cũng còn một số quốc gia, giáo dục tư tưởng đi theo những khuôn mẫu nhất định, không dám phản biện lại hoặc đi theo lối khác. Thử hình dung nếu như sự đào tạo, tuyển chọn nhân sự, bao năm qua vẫn duy ý chí bằng một cách thức giống nhau, vẫn hồng hơn chuyên, vẫn hạt giống vẫn nguồn giống nhau, vẫn lựa chọn tư duy và cách nghĩ giống nhau, thì điều gì sẽ xảy ra? Tất nhiên là khó có thể mong đợi những đột phá về tư duy hoặc phương cách ứng xử khác biệt. Hãy nhìn vào hiện trạng thực tế của năng lực nhân sự ngày nay (nhất là qua đợt chống dịch vừa rồi) để có những nhận định cụ thể hơn. Thỉnh thoảng chắc cũng có những trường hợp ngoại lệ, nhưng đó là thiểu số rất ít.

Nhớ có lần ngồi nói chuyện với một người quen, anh ta nói mấy đứa nhân viên của anh bây giờ "phản động" lắm. Nghe nghiêm trọng quá, nhưng hỏi ra mới biết là mấy đứa trẻ có những tư duy mới mẻ, khác với lối suy nghĩ cổ xưa của các bậc trưởng bối. Mình góp ý với anh ta nên phân biệt được chữ "phản biện" và "phản động", không nên cứ nghe người ta nói bậy rồi nói theo, mà không hiểu được cái nghĩa của chữ "động" là gì. Rất nhiều trường hợp xưa nay vì không hiểu thấu vấn đề, hoặc thiển cận, hoặc sợ hãi mơ hồ, mà bóp chết nhiều tư tưởng và ý kiến cải cách có thể đem lại sự phồn thịnh cho quốc gia dân tộc. Ngày xưa thời phong kiến đã đành, ngày nay thời văn minh cũng không hiếm. Mình thì vốn nghĩ rằng một quốc gia có chính quyền, có quân đội, có quan to quan lớn, có luật pháp, sao lại sợ hãi một vài tư tưởng khác biệt ?  Chắc có lẽ chỉ là một vài cá nhân địa phương kém hiểu biết, hoặc chưa biết cách chấp nhận sự khác biệt, nên không xử dụng được cái hay cái mới của người khác thôi. Ngoài ra cũng có thể một số người ngộ nhận cho rằng phải có bằng này cấp nọ, hoặc con ông này cháu bà kia mới có khả năng suy nghĩ “đúng”. Buồn cười là những vị lãnh đạo quốc gia tên tuổi và thành công trên thế giới lâu nay, đại đa số chẳng có học vị cao, cũng chẳng ông nào có trình độ chính trị cao cấp trung cấp gì cả. Nhưng họ đều có điểm chung là suy nghĩ đúng và dám vì quốc gia hy sinh quyền lợi cá nhân !

Nói đến đây mình nhớ đến một câu chuyện thời Đức Phật còn tại thế. Hàng năm vào những mùa mưa lũ lớn, các tăng đoàn thường xin vào tá túc ở nhà dân vài ngày rồi đi tiếp. Lần đó, tăng đoàn xin trú chân tại một ngôi làng nhỏ. Sau khi tất cả mọi người sắp xếp được nơi trú ngụ, chỉ còn lại Ananda, đệ tử của đức Phật, và một ngôi nhà thổ của cô gái điếm trong làng. Mọi người trong đoàn đều cảm thấy bối rối và lo lắng, Ananda cũng vậy, bèn kéo nhau đến hỏi ý kiến đức Phật là có nên vào đó ở chăng ?

- Cô ta có mời ngươi vào ở không ? Đức Phật hỏi .

- Dạ có. Ananda trả lời .

- Vậy thì tại sao không ?

Nghe Đức Phật nói thế, cả tăng đoàn xôn xao, ồn ào thắc mắc tại sao đức Phật lại để cho đệ tử của Ngài, Ananda, vào nhà thổ ở dài ngày. Nhiều người cho rằng Ananda sẽ bị cô gái ấy (thế lực thù địch) dụ dỗ mất thôi. Nhưng Đức Phật từ tốn trả lời :

- “Ta đã khổ công tìm tòi học hỏi và thực chứng được con đường tu tập này. Ta cho rằng đây là phương pháp tối thượng để giúp các ngươi cùng chúng sanh tu tập, giác ngộ và thoát khỏi khổ đau. Nếu bây giờ cô gái đó có phương pháp còn hay hơn ta, có thể khiến Ananda bỏ pháp của ta mà đi theo cô ấy. Thì các ngươi cũng không nên theo ta nữa, mà nên đi theo cô ta. Bởi nếu các người thực sự là những người muốn tìm kiếm sự thật, cầu tiến, và luôn mong muốn đạt tới cảnh giới cao hơn của trí tuệ, thì hãy nên mạnh dạn đi theo những gì tốt đẹp hơn”.

Quả nhiên là vậy, xưa nay vẫn thế. Nếu ta đúng, ưu việt, thì ngại gì người bỏ ta đi. Còn nếu không, thì dẫu mọi cố gắng chiêu trò cũng gượng ép được bao lâu ? Mà nếu người không đủ khả năng phân biệt tốt xấu đúng sai, thì lo lắng có thay đổi được gì chăng ? Cả tăng đoàn lắng nghe theo Ngài, nhưng cũng còn nhiều bậc trí giả ấm ức, hậm hực. Một số người trong tăng đoàn vẫn không đồng ý để Ananda ở chung nhà với "thế lực thù địch", vì e sợ làm ảnh hưởng đến uy tín của họ, nên đã âm thầm theo dõi, để về báo cáo :-).

Khi đó, chiếc y của Ananda đã cũ, mỏng manh quá. Cô ấy may cho Ananada một tấm y mới bằng lụa quý, đắp lên người của Ngài. Mấy anh theo dõi nghĩ rằng "thôi rồi lượm ơi" !

Khi đó, mùa giá lạnh, cô ta nấu những chén cháo nóng dâng lên cho Ananda. Ngài Ananda ăn ngon lành, mấy anh theo dõi báo cáo "Ananda bị thế lực thù địch dụ dỗ rồi" !

Đêm đến, cô ta múa cho Ananda coi. Mấy anh theo dõi báo cáo "Ananda bị văn hoá đồi truỵ ảnh hưởng rồi" !

.... Và cứ thế, ngày nọ đến ngày kia, nhiều báo cáo “tối mật” đồn đãi trong tăng đoàn là Ananda đã bị thế lực thù địch âm mưu mua chuộc rồi. Cho đến cuối cùng, khi những ngày mưa gió qua đi, tăng đoàn tập trung lại để cùng với Đức Phật tiếp tục cuộc hành trình. Ananda cũng trở về với tăng đoàn, đi sau lưng Ngài là một vị ni sư mới, đó chính là cô gái điếm của "thế lực thù địch" :-).

Một câu chuyện đáng cho đời sau suy ngẫm, đặc biệt là những người luôn đặt sự nghi ngờ lên hàng đầu, và luôn quy chụp những gì khác biệt đối với cách nghĩ của bản thân. Mà cũng không phải chỉ có trong PG mới đề cập đến tầm quan trọng của tư duy và ý nghĩ (thoughts). Thực ra khi ngành tâm lý học bắt đầu hình thành và phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ 19, thiên hạ cũng đã tranh luận rất nhiều về những quan điểm này. Nhiều nhà tâm lý học đã lục lại những di sản quan trọng của Aristotle, Descartes, Jean-Jacques Rousseau ...để làm tiền đề cho các nghiên cứu thời bấy giờ. Một câu nói nổi tiếng của Descartes là "I Think Therefore I Am" cũng được nhắc đến thường xuyên, và mãi cho đến ngày hôm nay. Vào đầu thế kỷ 20, James Allen, có cho ra cuốn sách ngắn có tên là "As a Man Thinketh", nói đến sức mạnh thực sự về sự suy nghĩ của con người. Và nó đã nhanh chóng trở thành một tác phẩm đình đám thời bấy giờ. Tác phẩm có những điểm tương đồng rất hay giữa triết học hiện đại và PG cổ đại, đó là nghiệp lực, năng lượng, và hậu quả sinh ra bắt đầu từ trong ý niệm.

Lan man quá, giờ trở lại chuyện dịch bệnh ở quê nhà. Rất không may mắn, VN từ một đất nước tự hào về cách chống dịch giỏi nhất, nhưng chỉ một năm sau cũng với cách chống dịch đó, lại đưa đất nước VN, đặc biệt là SG, vào con đường bế tắc, rớt xuống cuối bảng xếp hạng của thế giới. Đại đa số các quan chức và giới hữu trách đã nổ lực hết sức của họ. Nhưng nổ lực nhất chưa hẳn là hiệu quả nhất. Nhiều sự hy sinh của các nhà hảo tâm, các bác sĩ, y tá, các lực lượng tuyến đầu đã làm rung động lòng người, nhưng kết quả thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhất định. Và mãi cho đến hôm nay, cả nước vẫn còn loay hoay giữa phương cách vừa sống chung với dịch vừa phục hồi kinh tế. Tất nhiên, chưa bao giờ ngoại lệ, và còn hơn bao giờ hết, VN cần những suy nghĩ tỉnh táo và đúng đắn để cứu dân cứu nước trong giai đoạn khó khăn này. 

Thiết nghĩ lối mòn suy nghĩ thường không phải là cách nghĩ dẫn ta ra khỏi lối mòn. Rất cần những tư duy mới, ý nghĩ mới, để có được cách làm mới hơn, hiệu quả hơn. Rất mong dịch bệnh chóng qua, đời sống người dân và xã hội trở lại an bình. Cũng mong VN ngày càng mạnh dạn thay đổi, từ cách bầu bán tuyển chọn nhân sự cho đến cách điều hành nhất quán, quan tâm hơn đến những suy nghĩ độc lập có chính kiến, cũng như tôn trọng hơn những ý kiến đóng góp chân chính, để góp phần tạo dựng đời sống xã hội an vui hơn, đất nước giàu mạnh hơn. Và tất nhiên là mọi hành động dẫn đến sự thay đổi lớn lao nào cũng đều bắt đầu bằng một cách nghĩ mới !

PN


Friday, September 17, 2021

Phiếm: Câu chuyện hai mũi tên !


Trong sách nhà Phật, có câu chuyện "2 mũi tên" kể về thời Đức Phật còn tại thế. Một ngày kia, có người đến xin Ngài dạy dỗ cách nào để vượt qua nỗi đau khổ tuyệt vọng của anh ta, rồi kể lể ra nhiều tình tiết dông dài. Cuối cùng đức Phật giải thích cho anh ta rằng, sự đau khổ của con người giống như bị 2 mũi tên bắn vào cùng một chỗ. Mũi thứ nhất bắn vào tất nhiên là bị đau (pain), nhưng mũi thứ 2 càng làm cho đau đớn hơn, đó là khổ (suffering). Trong cuộc sống hàng ngày, thông thường chúng ta khó có thể tránh được mũi tên thứ nhất, vì nó tạo ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể liên quan đến nghiệp lực mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ. Ví dụ như bị mất đi người thân yêu, bị thất bại, mắc bịnh nan y, tuổi già, bị tai nạn, bị vu oan giá họa, bị covid ...v.v.. và chúng ta phải chịu đựng những nỗi đau đó. Còn mũi tên thứ 2, chính là những phản ứng (reaction) và thái độ của chúng ta đối với mũi tên thứ nhất, ví dụ như than thân trách phận, so sánh, tiếc nuối, phán xét, đổ thừa đổ lỗi, giận dữ, căm ghét, hận thù, hổ thẹn...v.v...Chính những điều này mới làm cho con người phiền não khổ lụy hơn. Mũi tên thứ nhất, thường là không tránh được vì chúng ta không hề làm chủ được nó, nhưng mũi tên thứ hai thì con người hoàn toàn có khả năng tránh được !

Câu chuyện này rất nổi tiếng và được nhắc đến rộng rãi lâu nay, đặc biệt là ở các nước Tây phương trong các lãnh vực trị liệu tâm lý (y khoa), therapy, hoặc giáo dục, văn hoá, nguyên tắc ứng xử, tư duy logic ..v.v... 

Tất nhiên khi nghe đến câu chuyện này thì ai cũng hiểu là đức Phật muốn nói đến cái "thọ", cái "tưởng", cái “hành”, cái "thức"…sự cảm nhận và trạng thái ứng xử xuất phát từ bên trong của mỗi con người trước những biến cố thay đổi chung quanh. Tuy nhiên, riêng đối với mình thì nhận thấy câu chuyện này cũng có thể được hiểu theo nghĩa đen đơn giản của nó, và là bài học đáng quý cho những vấn đề đất nước xã hội.

Như xưa nay nhìn lại bản thân, gia đình, và đất nước thì có biết bao nhiêu câu chuyện để nói, dài như những thước phim nhiều tập của quê nhà. Thực ra thì trong cuộc sống ai cũng có những kinh nghiệm bản thân, hạnh phúc hoặc khổ đau, dù ít hay nhiều, mắt thấy tai nghe những biến cố đã từng xảy ra chung quanh. Nên ai cũng có thể tự suy gẫm, "ôn cố tri tân", và tự rút ra kết luận cho riêng mình. Từ chuyện chiến tranh cho đến hậu chiến tranh. Từ chuyện "dùng người" cho đến "không dùng người". Từ chuyện thời bao cấp cho đến thời đổi mới. Từ chuyện nói và làm, từ chuyện hứa hẹn và thực hiện, từ chuyện lý thuyết đến thực hành, từ chuyện đày tớ đến ông chủ, từ chuyện "hồng" đến "chuyên" ..v.v.. Và mới đây nhất là chuyện chống dịch covid 19. Thực ra nói bao nhiêu cho hết, mà nói cũng bằng thừa, vì thời gian và thực tế đã quá dư đủ cho bất cứ ai để hiểu nhau và tin nhau (nếu có). Mình thì vốn không hề có ý đổ thừa đổ lỗi cho ai, vì đổ thừa đổ lỗi cũng là mũi tên thứ 2 :-). Tuy nhiên trong cuộc sống này, thiết nghĩ cho dù ở bất kỳ quốc gia nào, nếu như chúng ta không nhận ra được nguyên nhân của những sai phạm đã từng xảy ra trong quá khứ và hiện tại, thì nói gì cho đến tương lai? Đặc biệt là những sai phạm đó đều có cùng những tính chất giống nhau, nghịch lý giống nhau, và lập đi lập lại dai dẳng giống nhau. Cứ rút kinh nghiệm, cứ cảnh cáo, cứ kiểm điểm, cứ xin lỗi, cứ doạ nạt, cứ hình thức, rồi lại cứ tiếp diễn những quy trình sai phạm như cũ, thì khác nào bắn hàng trăm hàng ngàn mũi tên vào cũng một chỗ, chứ sá gì chỉ có 2 mũi tên !

Xin nói chút về chuyện chống dịch ở quê nhà. VN ta từ lúc tự hào chống dịch giỏi nhất thế giới đến lúc bị đánh giá xuống hàng thấp nhất, là cả một quá trình dài đầy nổ lực và kịch tính, làm sao kể hết. Ở đó, có biết bao nhiêu sự hy sinh cao quý của những nhân viên y tế, bác sĩ y tá, cán bộ công nhân viên tuyến đầu, đồng bào đồng hương trong và ngoài nước, đã tương trợ giúp đỡ nhau, ngày đêm cùng nhau đối đầu dịch bệnh. Nhiều người đã ngã xuống, đã hy sinh cả tính mạng, gia đình, tài sản, ước mơ, để góp sức cứu nguy giúp đỡ đồng bào đồng loại trong cơn khốn khó. Quả nhiên không thể nào tỏ bày đầy đủ hết được lòng biết ơn đối với sự hy sinh của họ. Xưa nay mỗi lúc trãi qua những biến cố to lớn như vậy, quốc gia nào cũng đều bộc lộ rõ nét điểm mạnh và yếu của đất nước họ, VN cũng không ngoại lệ. Điểm mạnh lớn nhất của đất nước VN là tình người, sự chia xẻ và đồng cảm của người dân với nhau, đặc biệt là những người đã từng có cùng hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói. Rất cảm động và trân quý !

Bên cạnh đó thì cũng phải hoan hô sự nhiệt tình đóng góp sức lực và tư duy “chống giặc” của chính quyền trong sự nghiệp chống dịch lần này. Nhiều vị chỉ trong một thời gian ngắn mà tiều tụy hẳn ra, không còn được dáng vẻ đầy đặn như xưa. Hôm trước có người bạn quen nói với mình là "chính quyền đã cố gắng hết mức". Mình cũng đồng ý như vậy, và rất trân trọng những sự cố gắng đó. Tuy nhiên trên thực tế thì nhiều khi dẫu "cố gắng hết mức" cũng chưa chắc đạt được kết quả mong muốn và hiệu quả cao nhất. Bởi lẽ cái "mức" của mỗi người khác nhau, vả lại còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau nữa. Người Tây phương cũng quan niệm "work hard" khác với "work smart". Cho nên sự duy ý chí trong nhiều trường hợp rất cần thiết phải được thay đổi, cần mở lòng và khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm của những quốc gia đi trước, đặc biệt là những nước có kinh nghiệm khống chế dịch bệnh thành công. Đó cũng là một trong những cách làm hiệu quả. Nhớ trong Tạp chí Tuyên giáo VN từng trích câu nói của Lê Nin "Lòng nhiệt tình cộng với sự ngu dốt bằng sự phá hoại”. Tất nhiên thời nay không còn ai "ngu dốt" như thời ông ấy nữa rồi, nhưng có lẽ câu nói này cũng còn có một giá trị nhất định nào đó nên vẫn được nhắc lại chăng ?

Theo thiển ý của mình thì mỗi quốc gia đều có những phương cách ứng xử với dịch bệnh khác nhau tuỳ vào điều kiện của đất nước họ. Mỗi giai đoạn mỗi tình huống, đều có những thay đổi khác nhau để cho phù hợp. Tất nhiên có cách làm đúng thì cũng có cách làm sai, và kết quả cuối cùng bao giờ cũng là thước đo trung thực nhất cho những cách làm đó. Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, cũng từng có những sai phạm nghiêm trọng buổi ban đầu, nhưng họ nhanh chóng học hỏi kinh nghiệm và thay đổi để tốt hơn. Đâu ai tuyệt đối bao giờ, đặc biệt là trong lúc phải đối đầu với cơn đại dịch thế kỷ như lần này. Cho nên chưa hề thấy quốc gia nào lại duy ý chí, khư khư giữ lấy những cách làm đầy nghịch lý và sai trái trong thời gian dài mà không thay đổi, bởi hậu quả khó lường !

Nhiều người mỗi khi thấy những ứng xử lạ thường hoặc việc làm trái cách ở một số quốc gia, thường thắc mắc về năng lực  nhân sự của nước này nước kia. Mình thì quan niệm rằng ở đâu cũng có những người tài giỏi đức độ. Suy cho cùng cho dù sinh ra và lớn lên ở bất kỳ quốc gia nào, thì những giá trị chuẩn mực của xã hội như đạo đức, tư duy, kiến thức, và kinh nghiệm, đều luôn được tôn trọng. Tuy nhiên nếu như nguyên tắc tuyển chọn nhân sự ở quốc gia đó không tôn trọng những chuẩn mực chung, cũng không dựa vào bầu cử công khai của dân, mà chỉ bố trí sắp đặt dựa vào một vài tiêu chí “đặc biệt”, thì giá trị của tư duy, của khoa học, của kinh nghiệm, của chuyên môn, của sự cầu thị, của sự khiêm tốn....đều trở thành vô nghĩa. Tất nhiên mỗi người đều có một khả năng nhất định nào đó, nhưng trong công việc thì chắc chắn có người này phù hợp hơn người kia. Nhìn lại lịch sử dân tộc VN, thì xưa nay chưa bao giờ thiếu người tài giỏi và hiền đức, chỉ là cần phải có cách chọn lựa và bầu bán như thế nào cho công bằng hợp lý thôi !

Nhân nói đến chuyện người "người tài giỏi", mới tối qua đọc mấy bài báo nói về kế hoạch sắp tới của SG, sống chung với dịch và khôi phục kinh tế như thế nào. Mình thấy tên các vị chuyên gia quen quen, lục lại báo cũ ra coi, thì ra cũng là mấy vị cách đây mấy tháng đã phân tích và dự đóan "dịch ở SG sẽ nhẹ thôi, mấy con covid sẽ sớm khăn gói ra đi trong tháng 8". Thoáng nghĩ qua không biết thân nhân của hơn chục ngàn người chết và bạn bè anh em của họ, cũng như bao nhiêu người công nhân, nông dân, dân nghèo, lao động đường phố đang vất vưởng mong cầu sự sống mỗi ngày, có cảm nhận được dịch bệnh lần này là "nhẹ" không ? Mình thì nghĩ rằng đại dịch cúm Vũ Hán chính là “mũi tên thứ nhất” đã bắn vào đất nước VN, không thể tránh né được. Phần quan trọng còn lại là mũi tên thứ 2, đang nằm trong tay của con người VN, đặc biệt là giới lãnh đạo điều hành đất nước hôm nay. Cho nên hơn bao giờ hết, người dân cả nước ai ai cũng mong muốn được thấy “đúng người đúng việc” phen này !

Chợt nhớ đến câu chuyện tiếu lâm đã được nghe lâu rồi. Có anh VK áo vest về làng, phải đi qua một con sông. Ngồi trên ghe rãnh rỗi, đang thưởng thức trời mây non nước, bỗng hỏi anh chèo đò :

- Anh có biết gì về khoa học không ?

- Dạ thưa không. Người chèo đò ngạc nhiên trả lời.

- Vậy anh đã mất đi 30% cuộc đời. Thế anh có biết gì về âm nhạc nghệ thuật không ?

- Dạ cũng không ! 

- Vậy là anh lại đánh mất thêm 30% phần trăm nữa của cuộc đời. Chắc là anh biết qua chính trị thời sự chứ ?

- Dạ cũng không. Em chỉ biết chèo đò mỗi ngày.

- Vậy thì phí phạm quá. Coi như anh mất cả 90% cuộc đời rồi.

Lúc đó trời đang có cơn giông, sóng gió hơi lớn. Anh lái đò thật thà hỏi anh "trí thức" VK:

- Dạ thưa anh biết bơi không ?

- Không 

- Thế thì anh sắp mất hết cả cuộc đời rồi !

Đó là chuyện tiếu lâm, nhưng trong cuộc sống hàng ngày thì cũng không hiếm những câu chuyện khôi hài như thế. Dĩ nhiên kiến thức phải được xử dụng đúng lúc đúng nơi mới phát huy hết vai trò của nó. Nhưng ngay cả bên Tây bên Mỹ cũng không hiếm cảnh lấy râu ông kia cắm cằm bà nọ. Ví dụ như mấy đài tin tức cây nhà lá vườn, hết người, nhờ mấy ông ts gs chuyên môn kỹ thuật mà đi phân tích chuyện chính trị chính em, cũng là chuyện thường. Bên VN thì càng không hiếm trường hợp mời các ông nghè ngành nghề không liên quan ra làm cố vấn chuyên môn, cứ có danh xưng là được. Ví dụ như hành chánh, kinh tế, giáo dục, ra làm tư vấn chống dịch, rượt đuổi F0, F1. Mà cũng thật là bất công, khi đoán đúng thì hoan hô, đóan sai lại phê phán người ta "ếch nằm đáy giếng". Chắc gì là lỗi của họ, biết đâu chính sự tung hô quá trớn của đám đông đã làm cho nhiều người bị ảo giác đa năng ? Nhớ hồi còn nhỏ ở dưới quê, bạn bè tụi mình đi thả trâu, chăn vịt. Đứa nào cũng biết là cách rượt bắt vài con vịt lẻ bầy chạy lạc khác xa với chuyện rượt đuổi vài trăm con sổng chuồng chạy rông. Mà đó chỉ là chuyện nhỏ nhặt vịt gà, huống hồ chuyện đại sự dịch bệnh mạng người, đâu phải chuyện đùa !

Cũng là chuyện mới hôm qua, ngồi coi những tấm hình và clip ngắn mùa dịch SG mà ai đó đã đăng trên mạng. Nào là, cả xóm đem thau ra để trước nhà, nào là những bà mẹ bò lết chui qua những hàng rào tấm chắn với túi đồ ăn rách nát, nào là người mẹ ngồi canh con ngủ trong ống cống, nào là những người y tá bác sĩ lả người nằm bệt xuống sàn, nào là những đứa bé mồ côi ngơ ngác sụt sùi, nào là những đứa con quỳ lạy trên vỉa hè đưa tiễn người thân.... Thế rồi lại vô tình nhìn thấy cái cơ ngơi chôn cất của một vị cựu quan chức vừa mới qua đời ở VN. Thực ra, mình cũng thuộc loại may mắn đi qua nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới, nhưng chưa từng được thấy ở đất nước nào lại có những miếng đất chôn cất, hoặc lăng tẩm mồ mả của quan chức to lớn đến như thế. Bỗng nghĩ đến bao nhiêu người ngoài kia còn đang chờ đợi từng đồng trợ cấp, thuốc men, miếng sống mỗi ngày. Nghĩ đến nhiều vị quan chức dãi dầu đường xa vạn dặm "ngoại giao" từng mũi thuốc ngừa. Nghĩ đến còn bao nhiêu người dân vô tội sắp sửa ra đi ? … Chạnh lòng ! 

Rồi ngồi đó thẩn thờ cả lúc, mà cũng không biết mũi tên nào đã bắn trúng tim mình ? Thôi, chúc mọi người luôn may mắn và một cuối tuần bình an. Cầu mong dịch bệnh chóng qua, nước nhà sớm an lành.

PN 




Saturday, September 11, 2021

Phiếm: Con đường tơ lụa và chiếc chiếu rách của Ngài Huyền Trang !

 


Xưa nay nếu có ai hỏi mình nhân vật nào vĩ đại nhất của TQ, thì mình sẽ không chút đắn đo nói ngay rằng đó là Ngài Huyền Trang (Xuanzang). Quả nhiên đối với mình nhân vật lịch sử đáng kính nhất của TQ chẳng phải là Lưu Bang, Lý Thế Dân, Chu nguyên Chương, Hạng Võ, Tần Thuỷ Hoàng .....càng không phải là Mao Trạch đông, Đặng tiểu bình, mà là nhà sư Tam Tạng. Nhân hôm nay nhắc đến chuyện "con đường tơ lụa" của TQ, lại nghĩ đến Ngài. 

Trước hết phải nhắc sơ qua về con đường tơ lụa (Silk Road) để nhiều người tiện theo dõi. "Con đường tơ lụa" (Silk Road) của TQ đuợc cho rằng đã có từ thời nhà Hán, người TQ tạo ra như những con đường mòn để đem tơ lụa và các hàng hoá khác qua bán cho các nước, chủ yếu là Trung Đông và Châu Âu. Những con đường mòn này ngày càng được mở rộng và dài hơn. Từ sau thế kỷ 12,13 trở đi các nhà thám hiểu châu Âu cũng đã sử dụng Silk Road để trao đổi hàng hoá ngược lại với TQ. Rồi đến thời kỳ cận đại, khi các phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ thì vai trò của những con đường đó không còn quan trọng nữa. Thế nhưng trong những năm gần đây, thì nhà cầm quyền TQ lại rầm rộ đưa ra những chiến thuật và kế hoạch đầy tham vọng "một vành đai một con đường", với dụng ý thiết lập hệ thống thuỷ bộ bao trùm cả thế giới, dựa theo lý thuyết của con đường tơ lụa ngày xưa. Nhiều kế hoạch đã được triển khai như xây dựng tuyến xe lửa tốc hành kết nối đa quốc gia, ngang ngược cưỡng chiếm vùng biển của các nước nhỏ, thiết lập bẫy nợ ở các nước nghèo, vay mướn đặc khu kinh tế trên các trục lộ trọng điểm .... v.v.. Bởi vậy gần đây có nhiều thuyết âm mưu cho rằng TQ đã gây ra dịch bệnh covid tạo ra suy thoái kinh tế thế giới, rồi dùng "ngoại giao thuốc ngừa", "cây gậy và si-rô", hoặc "âm mưu ràng buộc" để khống chế các nước khác, thực hiện mưu đồ bá chủ. Tuy nhiên thuyết âm mưu thì vẫn chỉ là "thuyết" thôi, không nên tin hết cho đến khi có bằng chứng hẳn hoi. Và tất nhiên là để tìm được bằng chứng ở TQ thì cũng không đơn giản chút nào. Ví dụ như đợt dịch vừa qua, gần cả năm sau, đợi dọn dẹp xong hết, mới cho phái đoàn thế giới vô Vũ Hán, thì cho dù có mời mấy nhà ngoại cảm VN qua cũng phải đành chịu thua. Ráng đợi thôi :-) !

Trở lại câu chuyện của Ngài Huyền Trang. Thực ra, do ông Ngô Thừa Ân viết truyện Tây Du Ký quá hay, nên đã xây dựng nên một hình ảnh của nhà sư Tam Tạng hoàn toàn khác với thực tế. Viết truyện hay đến nỗi mà nhiều người cứ tin rằng Tây Du Ký là có thực. Nhớ mấy năm trước có ông quan chức gì ở Quảng Nam Đà Nẵng còn tưởng rằng núi Non Nước Ngũ Hành Sơn là chỗ Phật tổ nhốt Tề thiên năm xưa, nên kêu gọi đầu tư xây dựng du lịch về "vùng đất vàng" đó. Tất nhiên thực tế thì không phải vậy, cũng chẳng có vua Đường nào mà kêu ngự đệ đi thỉnh kinh rồi cho cái bát vàng và tấm y quý giá đem theo làm của. Cũng chẳng có ma nữ nào mà thèm thịt của nhà tu hành Tam tạng, và cũng chẳng có Tề thiên, Trư bát giới nào đi theo. Lại càng không có vụ Đường Tăng phải hối lộ cái bình bát bằng vàng nơi đất Phật để đổi lấy kinh Phật. Nhưng ngẫm lại thì đôi khi những sự hiểu lầm cũng có cái hay riêng của nó :-) .

Trên thực tế thì Ngài Huyền Trang cũng chỉ là con nhà lương dân bình thường ở TQ vào thời Tuỳ/Đường. Trước Ngài Huyền Trang cũng có nhiều bậc tu hành khác từng đi qua Ấn độ để học Phật, như nhà sư Pháp Hiển (Faxian) rất nổi tiếng. Nhưng khi Ngài Huyền Trang tu học, thì thấy trong kinh sách thời đó có nhiều mâu thuẩn nghịch lý, nên Ngài quyết chí ra đi học hỏi cứu nước cứu dân. (Cứu nước ở đây không phải là để đánh nhau, mà để đem kinh sách về dạy dỗ cho người dân hiểu đúng, tu đúng, chung sống hiền hoà hạnh phúc, tạo phúc cho đất nước dân tộc). Thời đó Đường thái Tông mới giành được nước từ nhà Tuỳ nên còn nhiều luật lệ cấm đoán, ngăn sông cấm chợ. Ngài Huyền Trang phải trốn đi vượt biên theo con đường tơ lụa để sang Ấn độ học Phật. Thời gian đi và về tốn hết 7,8 năm trên đường bộ giữa Ấn-Trung. Còn lại 10 năm ở trên đất Ấn, Ngài vừa học ngôn ngữ, vừa học đạo pháp, và sau đó đi dạy ở đại học PG Nalanda. Tính ra, ngài Huyền Trang chỉ cần 10 năm có thể học và hiểu thấu những ngôn ngữ tiếng Phạn (Pali, Sanskrit..) và những đạo lý kinh điển PG sâu sắc đến mức như vậy. Ngài có thể sáng lập ra Pháp Tướng tông, và sau đó khi trở về nước, dịch ra rất nhiều tạng kinh điển giá trị của PG Bắc tông, từ Đại Niết bàn cho tới Bát Nhã Ba La Mật, từ Duy Thức tông cho đến Tịnh độ đông ..v.v..Ngài thông hiểu cả 3 phần quan trọng nhất của kinh sách PG (Kinh tạng, Luật tạng, Luận Tạng), nên thiên hạ gọi ngài là Tam Tạng chứ không phải là do ăn được thịt Ngài thì trường sanh bất tử :-). Nhờ vậy mà còn có nhiều tạng kinh điển giá trị được lưu truyền cho nhân loại đến ngày hôm nay, trong đó có PG VN. Tất nhiên là để dịch giải được bao nhiêu kinh sách đó trong một thời gian hữu hạn thì cũng không thể tránh được những khó khăn và hạn chế nhất định.

Mà nói tới đây mình cũng cảm thấy hổ thẹn. Ngài chỉ có 10 năm mà làm ra bao nhiêu thành tựu vĩ đại cho thiên hạ. Còn kẻ phàm phu như mình ra nước ngoài đã mấy chục năm nay, tiếng Anh tiếng U còn chưa rành, chỉ quanh quẩn mấy chuyện cơm áo gạo tiền, mà cũng chưa xong. Hơn thua nhau cái đài cái xe, cái phone, chai rượu, món này món kia, ăn nhà hàng này ghé quán ăn nọ, so đo chuyện làm mướn làm thuê cho hãng này hãng khác, hết đời mình đến đời con ....lẩn quẩn. Ngồi nhậu chút, khoe tới khoe lui, uống nhiều uống ít, hơn thua chuyện tào lao, rồi cãi nhau chí choé. Chính trị, chính em thì cứ như những người mù sờ voi, sờ đưọc khúc đầu chê người khúc đuôi, cả ngày chính sự ra rả, mà không thay đổi được điều gì. Thậm chí có nhiều ông mình quen đã mấy chục năm nay mà sự nghiệp chửi vẫn còn chưa xong. Làm hết chức chủ tịch, qua đến chức hội trưởng, xuống chức hội phó, lớn tuổi trở lại chức hội viên, rồi ra đi trong nuối tiếc. Ước mơ "to tát" vẫn còn nguyên một gói chưa kịp mở ra. Đó là chuyện ngoài nước, còn trong nước thì cũng nhiều thứ lòng vòng hơn. Như hiện nay chuyện dịch bệnh thì đã mấy tháng nghĩ bàn đủ chiêu đủ kế, chống dịch như chống giặc, mà giặc thì còn chưa biết mặt mũi ra sao, người thân quen thì cứ chết rụng rơi mỗi ngày. Bằng này cấp nọ, chữ nghĩa một bụng, cũng chỉ để chê nhau, hơn thua là chính. Nói ra thì lắm người buồn. Bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Lý Bạch ngày xưa mà nhà thơ Tản Đà đã dịch lại:

....
Do lai chinh chiến địa,
Bất kiến hữu nhân hoàn.
Thú khách vọng biên sắc,
Tư quy đa khổ nhan,
Cao lâu đương thử dạ,
Thán tức vị ưng nhàn.

Phỏng dịch:
...
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà,
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đến nay than thở ắt là chưa nguôi !

Mà ngẫm nghĩ lại thì quả nhiên lịch sử cũng có nhiều chuyện thú vị. Lâu nay người TQ rất tự hào về vua Đường Thái Tông, khen nhà Đường thịnh, biết trọng nhân tài, thông hiểu đạo pháp. Nhưng mình nhớ là khi Ngài Tam tạng về lại TQ, ông vua Đường hỏi Ngài có muốn làm quan không, đem chức quan ra mà ban thưởng. Mình thì không nghĩ Đường Thái Tông thông hiểu đạo pháp khi xách chức quan ra chiêu mộ Ngài Huyền Trang. May là hồi đó chưa có quốc hội, chứ có dám cho Ngài Huyền Trang làm đại biểu quốc hội luôn rồi :-).

Trong truyện của Ngô Thừa Ân, thấy ông không chú trọng đến đường về của Ngài Huyền Trang. Đó cũng là thắc mắc của mình. Có lẽ NTA cho rằng khi Đường Tăng thỉnh được kinh sách là viên mãn rồi, mission accomplished. Hoặc là đoạn đường về không còn bị kiếp nạn nữa chăng ? 

Mình thì có suy nghĩ khác, cho rằng đoạn đường về mới là quan trọng. Nếu không thì cũng tương tự như ráng cho dữ vào, cực khổ để kiếm được cái bằng, rồi chỉ để được lên chức, để in cạc visit, để đi ăn giỗ hoặc họp lớp, giới thiệu chút rồi xong, thì quả nhiên uổng phí. Cũng như làm quan, chiêu này chiêu kia leo lên được chức này chức nọ rồi chỉ để ký giấy và đi họp thì cũng uổng. Bởi ăn thua là có làm gì được cho dân cho nước, mới là quan trọng. Tất nhiên là Ngài Huyền Trang đã không chọn con đường về dễ dàng như vậy. Ngài đã từ chối những ân huệ và sủng ái đoàn tuỳ tùng tiền hô hậu ủng của vua Harsha ban cho, mà chọn đi về bằng một "con đường tơ lụa" khác, để có cơ hội giảng giải những điều đã học được cho nhiều người khác biết, cũng như giúp khám phá ra những lối đi mới. Thời đó trên những con đường tơ lụa này, biết bao nhiêu thương nhân đã bỏ mạng, ra đi không có ngày về. Nên kinh nghiệm và kiến thức càng là những điều cần thiết. Và chắc chắn sự chọn lựa này của Ngài không thể sánh bàn với những chuyện phàm phu như áo gấm về làng, tiền bạc, chức sắc bổng lộc, danh xưng vô nghĩa, hoặc vài ngôi chùa to chùa lớn. Tuy nhiên, mình vẫn có chút thắc mắc là thời đó Ngài có nghĩ ra được những kẻ hậu bối có thể lạm dụng con đường đó để làm ra những chuyện xấu xa trong tương lai chăng ? Nói vậy thôi, chứ đương nhiên là sự vật vô tội, con đường vô tội, biển đảo vô tội, chỉ là do bị con người lợi dụng thôi !

Nói đến chuyện những ngày cuối đời của Ngài, Ngài Huyền Trang căn dặn người thân chung quanh gói ông trong chiếc chiếu nhỏ, rồi đem chôn chỗ nào xa xa, vắng vẻ, đừng để thiên hạ bị ô uế mùi hôi. Nhưng tất nhiên là mấy ông vua quan, và hàng ngàn Phật tử đạo hữu, đâu dễ gì để Ngài yên ổn và toại nguyện như vậy. Chắc hẳn cũng là cờ xí rình rang cho xứng tầm. Nhưng thực ra với những bậc trí huệ như Ngài Huyền Trang thì có lẽ chiếc chiếu rách hoặc nghi lễ quốc tang cũng giống nhau, bởi đó chỉ là công cụ chôn cất. Cái còn lại của Ngài chính là những kiến thức và phẩm hạnh cho nhân loại hôm nay và mai sau, còn nghi lễ quốc táng hay cư tang rình rang, thì thiên hạ này cũng đã quên đi từ lâu lắm rồi. Ngày nay bên Nalanda Ấn độ vẫn còn khu tưởng niệm của Ngài (Xuanzang Memorial Hall), nhưng không biết TQ có ngày nào để tưởng niệm Ngài không ? Một kẻ độc tài tham vọng như Mao Trạch Đông, từng đưa ra quốc sách giết chết 45 triệu người TQ trong thời kỳ Great Leap Forward (Đại nhảy vọt/Bước quá độ); buộc 2 triệu người tự sát và bị giết, 20 triệu người bị cuỡng bức bắt bớ, và hàng trăm triệu người đói khát trong cuộc Cách mạng Văn hoá (Cultural Revolution); lại có ngày tưởng niệm to lớn. Trong khi đó một người truyền bá tư tưởng hoà bình, dịch giải đạo pháp đem lại sự giải thoát, sự an lạc và hạnh phúc cho nhân loại như Ngài Huyền Trang, mà lại không có ngày để người dân TQ ghi nhớ, thì quả là nghịch lý !

PN





Friday, August 20, 2021

Tản mạn về "vô úy thí" !

 


Hôm trước viết bài tản mạn về từ thiện, mình có nhắc đến chữ "vô úy thí". Có vài bạn gởi email hỏi thêm, nhưng bận rộn rồi cũng chưa có dịp trả lời. Sáng nay đọc tin dịch bệnh ở quê nhà, thấy ngày càng căng thẳng, mình muốn viết thêm chút về đề tài này. 

Như trước đây mình có nói, rất nhiều kinh sách và kinh tụng của VN thường được phiên âm hoặc phiên dịch với những từ Hán Nôm, làm cho nhiều người khó hiểu, khó nhớ, nên dễ bỏ qua, đặc biệt là giới trẻ. Ví dụ như cụm từ "vô úy thí" này cũng vậy, mình tạm dịch ra tiếng Việt là "giúp cho người khác không sợ hãi". (Cũng xin nhắc lại đây là những tiêu chí thực hành trong lục ba la mật (six paramitas), hướng dẫn cho những người muốn tu tập, thực chứng bản thân, tìm đến sự giác ngộ. Ai muốn thực hành cũng được, không phân biệt phải là tín đồ PG. Còn nếu không thực hành, thì mọi lý thuyết lớn nhỏ, chùa to thầy giỏi, đều trở thành vô nghĩa).

Trong tiếng Anh, chữ "vô uý thí" được diễn nghĩa đơn giản là "giving protection from fear" hoặc là “the gift of fearlessness”. Nghĩa là sự bảo vệ hoặc giúp đỡ kẻ khác vượt qua nỗi sợ hãi. Đây là một trong những việc làm khó nhất của hạnh bố thí, hay nói cách khác là sự cho đi" (generosity). Mở ngoặc chút để nhắc lại PG quan niệm có 3 loại bố thí, đó là tài thí, pháp thí, và vô uý thí. Tài thí thông thường là đơn giản nhất, cho đi tài vật, cúng dường, ủy lạo ..v.v. Còn pháp thí và vô úy thí là những thực hành tương đối khó khăn hơn. Tất nhiên là để giúp đỡ được kẻ khác, trước tiên họ phải vượt qua được nỗi sợ hãi của chính bản thân và có những hành động thiết thực hoặc sự khuyên bảo, hướng dẫn kẻ khác hợp lý hợp tình. Chứ chỉ nói cho có lệ, mà bản thân cũng sợ hãi, lẫn trốn, thì càng làm tăng phần sợ hãi cho người cho mình. Ở đây mình chỉ muốn nói đến một phạm vi nhỏ của "vô úy thí" trong mùa dịch bệnh covid-19 tại quê nhà. 

Rõ ràng đây là lần đầu tiên VN và nhiều quốc gia khác trãi qua kiếp nạn dịch covid này. Đại đa số người dân ở khắp nơi, ai cũng bị rơi vào trạng thái hoang mang, lo âu, sợ hãi. Không biết chuyện gì sẽ xảy ra, tương lai của họ cùng gia đình sẽ ra sao trong những ngày sắp tới ? Người chết ngày càng nhiều, ngay cả tang lễ, thể xác của thân nhân cũng không biết đi về đâu. Nên chắc chắc là họ sợ !
Vậy ai sẽ là người trấn an được họ ? Và ai sẽ là người giúp đỡ người dân vượt qua những nỗi sợ hãi này ? 

Lâu nay bất kỳ xã hội nào, quốc gia nào, cũng đều nói là vì dân vì nước. Thực ra nói suông thì bao giờ cũng dễ, đặc biệt là lúc bình yên, trà dư tửu hậu. Duy chỉ có những lúc lâm nạn hiểm nguy như thế này thì con người mới hiểu nhau được nhiều hơn, họ mới nhận ra được thế nào là một chính phủ “do dân” và “vì dân”. Ngày xưa trong các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng thế, người dân cũng chỉ hiểu được chính quyền sau khi cuộc chiến kết thúc. Vì đó là thời điểm thể hiện và chứng minh những lời hứa hẹn ! 

Sợ hãi thì có nhiều nguyên nhân, trước hết nói về chuyện tin tức. Có loại tin tức làm người ta an tâm, nhưng cũng có loại tin tức làm người ta sợ hãi. Năm ngoái ở Mỹ, thời gian cao điểm của dịch bệnh, ông Trump ngày nào cũng lên TV cùng với ban bệ chống dịch để cập nhật tin tức, và trấn an đồng bào. Trực tiếp thông báo những bước đi cũng như sự chuẩn bị kế tiếp. Lãnh đạo các quốc gia Canada, Anh, Pháp, Ấn ..... đều làm tương tự như vậy. Riêng ở Mỹ, thời gian đó cũng là thời gian cao điểm của cuộc tranh cử, nhưng ông Trump hầu như không bỏ sót một ngày nào. Tất nhiên không phải chỉ là ông Trump, mà bất kỳ một tổng thống tại vị nào khác, cũng đều sẽ làm như vậy. Vì chỉ có chính họ nhìn thẳng vào mắt người dân của họ, tuyên bố những điều có thực như trợ cấp đói nghèo, trợ cấp thất nghiệp, kế hoạch ngăn chận, phương án thuốc ngừa, bịnh bao nhiêu, chết bao nhiêu ..v.v... thì mới làm cho người dân yên tâm, bớt lo lắng sợ hãi. Mặc khác người dân cảm nhận được những người chủ quản quốc gia đang đồng hành và chia sẻ với họ, cho dù biết đó chỉ là những công thức chính trị. Người ta thường nói tin đồn gây ra hoang mang. Quả nhiên là đúng. Trong thời buổi cách ly chống dịch, ai cũng dựa vào cái phone, cái đài, cái TV, cái máy tính để biết tin tức phía ngoài. Nếu tin tức loạn xạ, nay nói này mai nói khác, không ai chịu trách nhiệm về những việc xảy ra, thì sự sợ hãi trong dân sẽ càng tăng thêm gấp bội !

Còn nói đến sự sợ hãi thì có nhiều thứ sợ. Sợ chết, sợ đói, sợ mất của, sợ bị lây, sợ lây cho người khác, sợ bị phạt, sợ bị giam, sợ bị chụp mũ, sợ nói thật, sợ liên lụy, sợ thuốc giả, sợ tin giả, sợ bị lừa ...v.v.. Có những thứ sợ mới nảy sinh trong mùa dịch bệnh, nhưng cũng có những thứ sợ đã ngấm sâu trong máu bao lâu nay. Có người thì biết mình đang sợ, biết mình đang ngậm miệng ăn tiền, nín thở qua sông. Nhưng cũng có người sợ mà không biết mình đang sợ vì đã quá quen thuôc, trở thành thuộc tính. Nên hôm trước có ông bạn kia nói chuyện với mình, nói về những điều anh sẽ làm cho người thân của anh ít lo sợ dịch bệnh hơn. Mình không dám có ý kiến, vì mỗi người có một góc nhìn khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nỗi sợ hãi cũng khác nhau. 

Tuy nhiên theo thiển ý của mình thì phần đông con người chúng ta, niềm vui hay nỗi buồn, cũng như sự hạnh phúc hay sợ hãi, đều có nguyên nhân hoặc xuất phát từ những hoàn cảnh hay tình huống bên ngoài. Còn đối với các bậc thiện tri thức, cao tăng trí huệ, hoặc những người thông hiểu đạo pháp, thì ngược lại, mọi thứ đến từ bên trong, nên sự nhiễu loạn bên ngoài chắc sẽ không làm ảnh hưởng đến sự an nhiên tự tại của họ.

Bởi vậy nói đến sự sợ hãi của đa số người dân trong thời kỳ dịch bệnh hiện nay chỉ có chính phủ mới giúp họ xoa dịu được. Một khi người dân cảm thấy hoàn toàn bất lực, không biết ngày mai ra sao, không biết kế hoạch tương lai như thế nào, thì chẳng có nỗi lo lắng nào lớn hơn. Không tự chủ được tình huống và không lo lắng được cho sự an nguy của người thân và gia đình. Cái ăn cái ở cũng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của họ, thì cho dù có tiền đống vàng bao cũng sợ, huống hồ chi là những người dân nghèo khổ, bữa đói bữa no, không nhà không cửa, tiến thoái lưỡng nan. Nói đến thì vừa thương vừa phục sự nhẫn nhịn, chịu đựng, của người dân SG nói riêng, dân VN nói chung.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong thời kỳ dịch bệnh, chính quyền bằng mọi cách nổ lực xoa dịu tình huống căng thẳng và nỗi sợ hãi lo lắng cho người dân. Họ thẳng thắn công bố số liệu dịch bệnh hàng ngày, công bố phương án kế hoạch và những thay đổi lên xuống rất là cụ thể để người dân đối diện với sự thật, không đóan già đóan non. Họ chi tiền, trích ngân sách khẩn cấp, để trợ giúp người nghèo, người thất nghiệp, gia đình hoặc doanh nghiệp khó khăn. Họ ký luật bảo vệ những người dân không đủ điều kiện trả tiền nhà, tiền mướn, tiền điện, tiền nước, để khỏi bị đuổi ra đường. Họ xây dựng những chương trình phúc lợi địa phương để giúp đỡ những hoàn cảnh ngặt nghèo, trường hợp khẩn cấp. Họ thành thật với người dân trong các kế hoạch tiêm chủng và mức độ hiệu quả của thuốc men (Tất nhiên sẽ không bao giờ có một số liệu chính xác, nhưng ít nhất là số liệu tối ưu đủ để tạo được niềm tin với người dân). Họ đưa ra lộ trình với những kế hoạch cụ thể, tránh tình trạng mục tiêu khống, gây thêm hoang mang. Họ luôn đưa giới chuyên môn, khoa học để phân tích hiện trạng dịch bệnh và dự đoán số liệu, chứ không đưa quan chức chính trị hoặc giới chức tuyên truyền phát ngôn, gây hiểu lầm nguy hiểm...v.v... Bên cạnh đó là các tổ chức dân sự vận động quyên góp giúp đỡ, hổ trợ tinh thần lẫn nhau. Đó là những cách thức ứng xử thường thấy ở một số nước trong thời gian dịch bệnh vừa qua, rất đáng học hỏi. (Tất nhiên ở đâu cũng không tránh khỏi những mặt trái tiêu cực, thành phần bất lương lợi dụng phá rối, nhưng đó chỉ là số ít). Mình nghĩ mỗi đất nước có hoàn cảnh khác nhau, nhưng chắc chắn là chính phủ nào rồi cũng sẽ quan tâm và lo lắng cho người dân của họ như vậy thôi. VN vốn có ưu thế rất lớn vì gần năm rưỡi qua không có dịch bệnh nặng, nên có nhiều thời gian để chuẩn bị cơ sở y tế và thuốc men dự phòng. Nhưng không rõ các vị lãnh đạo VN đã xử dụng ưu thế đó như thế nào mà mấy chục ngàn người dân ở SG đã chết vội vã như vậy ?

Thời gian qua, bản thân mình cũng như bao người khác, lúc nào cũng tôn quý các lực lượng y tá, bác sĩ, y tế, nhân viên ngày đêm ở tuyến đầu chống dịch. Cũng rất quý trọng những nhà hảo tâm, từ thiện, các anh chị em giao hàng, nhân viên siêu thị bán hàng, cung ứng, vệ sinh ... đã không ngại nguy hiểm khó khăn, xông pha giúp người. Tuy nhiên bên cạnh đó, trong cơn nguy biến hiểm nghèo, nhiều người cũng không khỏi thất vọng vì sự vắng mặt của một số trí thức, quan chức, đại biểu, biểu tượng tinh hoa, đã từng thường xuyên đóng góp ý kiến xây dựng xã hội đất nước. Có nhiều vị từng tuyên bố ầm ỉ “ta không sợ dịch”, nhưng khi dịch đến thật thì lại bối rối vô cùng. Đó cũng là điều bất hạnh cho nước nhà, nhất là trong giai đoạn nguy biến như thế này. Cũng có thể họ còn phải bận rộn với những nhiệm vụ cấp bách hơn mà tổ quốc giao phó chăng ? Tất nhiên là nước nhà còn lắm việc quan trọng hơn chuyện đi khám điền thổ giữa mùa dịch bệnh :-)

Thực tế trong một cuộc chiến có tầm cỡ ảnh hưởng đến hàng ngàn sinh mạng vô tội, tai ương đổ xuống hàng vạn gia đình, liên quan đến sự tồn vong sống còn của nền kinh tế quốc dân, thì vai trò quyết định đúng đắn của nhà nước và chính quyền là vô cùng thiết yếu. Hơn bao giờ hết, nỗi sợ hãi lo lắng của người dân đang cần một sự trấn an, bảo vệ. Và đương nhiên là sự an ủi quan tâm khác với sự đe dọa gây khó. Đó cũng chính là hành động "vô úy thí" tối thiểu mà một chính phủ có thể làm được cho người dân của họ !

Bên cạnh đó, trong hoàn cảnh khốn đốn vượt ngoài tầm tay trong giai đoạn này, không hiếm những người mất phương hướng, tìm đến tôn giáo hoặc các chùa chiền, nhà thờ, nhà nguyện, để cầu an cầu phúc và thỏa nguyện nhu cầu tâm linh của họ. Xưa nay đức tin vẫn thường giúp đỡ con người vượt qua những thời khắc khó khăn nhất. Đức tin càng mạnh mẽ, khả năng chịu đựng càng cao, sự sợ hãi càng thu nhỏ lại. Tất nhiên có những đức tin chỉ mang tính giai đoạn, có những đức tin tồn tại lâu dài, và cũng có những đức tin phản bội lại sự thật. Cũng không hiếm những nơi lợi dụng đức tin sai lệch để dẫn dắt con người vào chỗ mê tín, ru ngủ sự tỉnh thức và khả năng phân tích vấn đề của họ. Đó cũng là chuyện thường thấy trong xã hội. Mình không muốn bàn sâu vào lãnh vực này !

Tuy nhiên, theo thiển ý của mình thì một người sợ hãi sẽ khó giúp được người khác không sợ hãi. Một người ham muốn nhiều quá thì khó có thể truyền đạt được ý nghĩa buông bỏ cho người khác. Một người bảo thủ, định kiến cố chấp thì khó có thể thực chứng được đạo lý “vô thường”. Một người đề cao "cái tôi, cái tớ" nhiều quá, thì cũng khó giảng giải được cái "vô ngã" cho kẻ khác. Một người sở hữu quá nhiều sổ đỏ, chức tước, chùa to, xe đẹp thì cũng khó thuyết giảng được cái "không" cái “có” trong kinh điển nhà Phật. Đơn giản là vậy. Nhưng chuyện đời cái gì cũng có thể thay đổi. Đâu có gì là bất biến !

Bỗng nhớ đến một câu chuyện nổi tiếng của thiền sư người Nhật, Suzuki Roshi, một trong những người đặt nền tảng Thiền học ở Mỹ vào những thập niên trước. Ông có người học trò theo học đạo khá lâu, một hôm chịu đựng hết nỗi, giữa thiền đường đông đúc, đứng lên hỏi : "Suzuki Roshi, I've been listening to your lectures for years, but I just don't understand. Could you just please put it in a nutshell? Can you reduce Buddhism to one phrase?" (Tạm dịch: Ngài Suzuki Roshi, tôi theo học đạo của Ngài nhiều năm rồi, nhưng tôi vẫn không hiểu. Ngài có thể nói thẳng vào trọng tâm vấn đề không ? Có thể tóm gọn đạo Phật trong một câu được không ? 

Ai nghe câu hỏi cũng cười. Ngài Roshi cũng cười và trả lời:

"Everything changes" (Tạm dịch: Mọi thứ đều thay đổi)

Quả nhiên là vậy. Mọi thứ đều thay đổi, và không ai có thể ngoại lệ. Dịch bệnh, tuổi tác, tài sản, gia đình, con cái, chức tước ....đều sẽ phải thay đổi, không thể cưỡng cầu. Mỗi con người cho dù tài giỏi hoặc vùng vẫy tới đâu, thì cũng chỉ có thể làm tốt nhất trong khả năng hiểu biết của họ, và cũng chỉ có thể tồn tại trong một giai đoạn nào đó. Mọi chuyện có thể không xấu như mình đang nghĩ, và luôn luôn thay đổi. Chính sự cưỡng cầu làm cho mọi chuyện rối ren hơn. Hiểu thấu được quy luật này, cuộc sống cũng sẽ nhẹ nhàng hơn, hy vọng mỗi ngày bớt sợ hãi hơn .... 

PN



Tuesday, August 03, 2021

Phiếm: Cổ Loa lông ngỗng !


Nhớ ngày xưa còn nhỏ, đọc sách lịch sử có hình, mê lắm. Thưở đó, chưa phân biệt được đâu là chính sử, dã sử, điển tích, thần thoại, hư cấu, truyền thuyết... Cứ thương ghét dựa vào thiện ác. Sách nói sao tin vậy, từ thời dựng nước, chuyện con Rồng cháu Tiên, Sơn tinh Thuỷ tinh, Trọng Thuỷ Mỵ Châu, Thánh Gióng ...cho đến thời giữ nước, dời đô Thăng Long, Kim Quy mượn kiếm, Lý Công Uẩn "sơn hà xã tắc" ...v.v.. Nói chung lịch sử nước ta kéo dài đến mấy ngàn năm, thì có biết bao nhiêu chuyện để kể, để tự hào. Có những câu chuyện chỉ mang tính hư cấu, truyền thuyết, nhưng lại dựa vào một số sử kiện trùng hợp, nên cũng dễ làm cho người ta hiểu lầm về tính hư thực của nó. Lâu nay, thỉnh thoảng cũng gặp một số trường hợp tranh cãi gây ra do ngộ nhận lịch sử. Một trong những câu chuyện gây hiểu lầm nhiều nhất đó là chuyện Trọng Thuỷ - Mỵ Châu.

Thực ra, cho đến ngày nay thì tài liệu lịch sử cũng nhiều, kỹ thuật kiểm tra niên đại và phương pháp đối chiếu dữ kiện cũng chính xác hơn, nên khả năng phân tích vấn đề cũng hợp lý hơn. Theo nhiều tài liệu đối chiếu và nghiên cứu của các nhà sử học thì hoàn toàn không có câu chuyện Trọng Thuỷ Mỵ Châu, và tất nhiên ông Triệu Đà là người chịu nhiều oan ức trong lịch sử. 

Thứ nhất, chẳng có ông Triệu Đà nào đánh Lạc Việt cả, mà vào thời điểm đó phải là nước Tần (TQ) đánh Lạc Việt mới đúng. Ông Triệu Đà là người Việt chính gốc, sinh ra ở đất Thái Bình chứ không hề ở Hà Bắc, Trung Quốc. Triệu Đà (Triệu Vũ Đế) cũng lấy vợ (hoàng hậu Trình Thị) và sinh con ở Đồng Xâm, Thái Bình. Đền thờ của ông ngày nay vẫn còn ở đó. Cho nên ông không thể nào là người Tàu dẫn quân Tần đánh Lạc Việt được.
Thứ hai, nhiều sử gia VN dựa vào sách sử của TQ (Tư Mã Thiên) quá nhiều, và tin tưởng tuyệt đối vào điều đó thì cũng có khi nhầm lẫn. Có nhiều sách ghi lại, tính theo niên kỷ thì ông Triệu Đà sống tới 121 tuổi. Đại loại như ngày xưa nhiều sách sử ghi là 18 ông vua Hùng chứ không phải 18 đời vua Hùng, thành ra ông nào cũng sống cũng thọ vài trăm năm. Bởi vậy, đọc lịch sử mà không cầu thị, thu thập và phân tích dữ kiện tài liệu một cách logic, thì chuyện cãi nhau dài dài cũng không có gì là lạ. Đặc biệt ông nào càng cho mình là cái rốn của vũ trụ, thì cãi càng dữ hơn :-). Cuối cùng, chuyện nõ thần là yếu tố thần thoại hư cấu thôi. Chứ nếu chuyện nõ thần có thực, mình nghĩ chắc các vị Thần linh đã cho VN một cái đem ra biển Đông bảo vệ ngư dân, và lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa (một số đảo) bị TC cưỡng chiếm !

Thế nhưng câu chuyện Nõ thần và Trọng Thuỷ Mỵ Châu lại là một trong những giai thoại lịch sử mà mình yêu thích nhất. Mình nghĩ các vị tiền nhân đất Việt đã rất tâm huyết và trí tuệ khi để lại một di sản quý báu như vậy cho con cháu của họ. Quả nhiên là vậy. Có lẽ tổ tiên ta cũng chỉ mượn hình tượng của Trọng Thuỷ Mỵ Châu để dạy dỗ con cháu rằng kẻ thù thực sự của ta là chính mình. Kẻ thù lớn nhất đang ở đằng sau lưng, ngồi sẵn tự bao giờ, chứ tìm đâu xa :-).

Lâu nay chắc có nhiều người từng nghe qua câu nói "Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình". Nhiều sách vở cũng phân tích và giảng dạy về triết lý sống này, nên chắc cũng không lạ lẫm gì. Friedrich Nietzsche cũng nói "the worst enemy you can meet will always be yourself". (Tạm dịch: Kẻ thù lớn nhất mà anh gặp luôn chính là bản thân anh). Còn trong kinh điển PG thì cũng có quá nhiều câu chuyện và bài giảng về đề tài này, bởi đạo Phật quan niệm cái "Ngã" (cái tôi, cái tớ, cái tao, cái "bố mày", cái bản thân ...) luôn luôn tồn tại và là rào cản lớn nhất của mỗi con người trên con đường tìm đến sự tỉnh thức.

Nhìn lại trong cuộc sống, thì không ai có thể phủ nhận giá trị của câu nói trên được, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tuy nhiên chắc chắn là mỗi người sẽ có những cách hiểu khác nhau tuỳ theo khả năng nhận thức của họ. Một vị thiền sư có thể hiểu về câu nói đó khác hơn một nhà chính trị. Một nhà lãnh đạo có thể hiểu khác hơn một người nông dân. Một ông bác sĩ có thể hiểu khác với một kẻ giết người. Một nhà từ thiện có thể hiểu khác với một kẻ gian thương ... Nhưng chung cuộc thì có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra sự thất bại thường bắt đầu từ chính bản thân (ngoại trừ mấy ngài chuyên đổ thừa).

Nói cụ thể hơn, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ chuyện thành bại cá nhân đến quốc gia đại sự, kẻ thù sau lưng (nội hàm bản thân) bao giờ cũng đóng một vai trò quan trọng. Một cá nhân mà kiêu ngạo ảo tưởng, tham lam quyền lực tất sẽ gây ra bao hệ lụy cho người chung quanh. Một gia đình mà anh em mâu thuẫn, tranh giành xào xáo, tất sẽ dẫn đến tán gia bại sản. Một hội đoàn mà cứ hơn thua, đâm thọc, tất sẽ èo uột rã đám. Một cộng đồng mà cứ ganh ghét đố kị, chia rẽ đấu đá, hám danh, vu khống chụp mũ, làm sao mạnh mẽ và được tôn trọng ? Một đất nước mà cứ hận thù chia cắt, giết chóc lừa đảo, phe nhóm lợi ích, tham nhũng kiêu binh, bảo thủ lạm quyền, thì làm sao hạnh phúc và phồn thịnh ? Lịch sử thế giới lâu nay những nước giàu có nhất, hạnh phúc nhất, đáng sống nhất đều là những nước không có nội chiến triền miên, dân chúng họ không thù hận nhau, không dối gạt nhau, không nghi kỵ nhau .... Tất nhiên với thời đại internet ngày nay, thì không khó khăn lắm cho bất kỳ ai muốn kiểm chứng sự thật và hiểu đúng những vấn đề này. 

Nhớ hồi nhỏ đọc truyện Trọng Thuỷ Mỵ Châu, rất thương cho 2 cha con An Dương Vương. Thương cả Trọng Thuỷ yếu đuối, vì phải nghe lời cha mà bán đứng cả bản thân và người yêu. Chỉ có ghét Triệu Đà, vì là kẻ gian ác, tài hèn sức mọn, lợi dụng ngay cả người thân yêu con ruột của ông. Đúng là hồi nhỏ quan niệm ghét thương, thiện ác chỉ đơn giản đến thế. Bây giờ thì lại thấy thương Triệu Đà, vì chính ổng phải chịu oan khuất nhiều nhất, để cho đời sau có một điển tích giá trị "nõ thần" như thế này. Mà sự oan ức của ông, sự hy sinh của các bậc tiền nhân, hoặc những bài học lịch sử của dân tộc chắc gì đã được đời sau ghi nhớ và thực hành. Đôi khi vì một ít quyền lợi cá nhân, nhiều người sẵn sàng đem cái "nõ thần" vô tiệm cầm đồ ngay, chứ cần gì đến một Trọng Thuỷ lường gạt Mỵ Châu !

Nhớ năm ngoái bầu cử Mỹ, mấy ông bạn quen nói chính sự chia rẽ ở quốc hội và mâu thuẫn các đảng phái của Hoa kỳ làm cho đất nước ngày càng suy yếu, kẻ thù dễ lấn lướt. Mình thì nghĩ ở đâu lại chả thế, chỉ là lúc nọ lúc kia, lúc thịnh lúc suy. Hoa Kỳ là nước dân chủ minh bạch, người dân còn thấy đảng phái quốc hội tranh chấp, chứ nhiều quốc gia khác họ cứ im lìm mà đấu đá, thì còn khủng khiếp hơn nhiều. Lãnh đạo tài ba, nhìn xa, trung thực thì đất nước phát triển, dân chúng được nhờ. Còn lãnh đạo yếu kém, tham quyền, dối gạt, thì đất nước suy đồi. Vậy thôi, kẻ thù đâu xa !

Mới hôm vừa rồi, ngồi coi tin tức dịch bệnh ở quê nhà. Vừa lo lắng, vừa thương cảm, lại vừa cảm thấy bất lực. Từ chuyện "cách ly tập trung", chuyện phân bổ thuốc ngừa, chuyện xét nghiệm, chuyện ngăn đường cấm chợ ...cho đến hình ảnh từng đoàn người lũ lượt về quê mệt mỏi, thiểu não. Những đứa bé còn bồng bế trên tay, những cụ già mếu máo, với hành trình trăm dặm trở về cố hương. Để rồi gặm nhấm nỗi buồn sợ hãi và bế tắc "tiến thoái lưỡng nan" ngay chính trên quê hương mình. Thực ra VN đã có quá nhiều thời gian để chuẩn bị mua sắm các phương tiện dụng cụ y tế, và đặt mua các loại thuốc ngừa, mua thuốc đặc trị antiviral, monoclonal antibodies…v.v. Ngoài ra nước nhà cũng quá dư đủ thời gian để học hỏi kinh nghiệm cách chống dịch từ các nước khác. Thế nhưng vì quá bận rộn với những tung hô vô cớ và sự ngạo nghễ thiếu hiểu biết, nên đã không có được những chuẩn bị cần thiết khi dịch bệnh bùng phát. Còn hậu quả ra sao thì hôm nay ai cũng thấy rồi !

Nhớ lại ngày xưa thời còn mê chuyện Tàu. Có những mẫu chuyện nhỏ còn đọng mãi cho đến ngày hôm nay. Một Lưu Bị bỏ qua sống chết, cùng dân đi bộ rút về Giang Lăng, nhất định không bỏ dân chúng, vì cho rằng muốn làm việc lớn phải lấy dân làm gốc. Một Khổng Minh tài trí hơn người, lại dùng cách quan sát đối phương thua trận để biết tài năng và trí tuệ của đối phương. Nhìn cách quân địch thua trận mà không "vỡ trận", thất bại mà không bát nháo, rút lui mà không sợ hãi, thì có thể đoán biết tướng địch là kẻ đại trí hay kẻ tiểu nhân. Nhưng đó là những chuyện ngày xưa lắm rồi, so với thế giới ngày nay chắc đã lạc hậu !

Gần đây hơn, thời mình còn là sinh viên, mê lắm những tác phẩm của Eric M. Remarque và Mikhail Sholokhov. Những cuốn sách cũ nát còn sót lại, lén lút chuyền tay nhau, đọc để biết những nỗi bất hạnh của đất nước và con người vào những thời kỳ biến động khó khăn, dịch bệnh. Những "Chiến Hữu", "Bia mộ đen và bầy diều hâu gãy cánh", "Sông Đông êm đềm", "Đất vỡ hoang", "Số phận một con người"  ..v.v.. nghiệt ngã và thực tế. Nghĩ đến vẫn còn như mới hôm qua !

Lan man quá rồi, từ đông sang tây. Nhưng cuộc sống vốn có những lúc cảm xúc như thế. Túm lại, mình nghĩ mọi chuyện rồi cũng sẽ qua đi, dịch bệnh cũng thế. Mọi việc rồi sẽ được thay thế bằng một điều gì đó mới hơn, tốt hơn hoặc xấu hơn, hoặc là một sự bình thường mới (new normal). Từ biến cố của bản thân hoặc gia đình, cho đến biến động của xã hội đất nước, đều có lúc phải trãi qua những giai đoạn rất khó khăn. Mỗi tình huống sẽ có những ứng xử khác nhau, nhưng cái triết lý "kẻ thù lớn nhất là chính mình" thì bao giờ cũng đúng. Những "rào cản tư duy" sẽ càng được thể hiện rõ nhất trong những lúc nguy biến, mà không ai có thể che dấu được. Mấy hôm trước đọc tin tức quê nhà, nghe câu "Diệt dịch cũng như diệt giặc". Tự nhiên, mình liên tuởng đến câu chuyện nỏ thần diệt giặc năm xưa. Ước gì ông thần ngày xưa lại cho VN quê ta một chiếc nõ thần chống dịch. 

Nghĩ đến mấy câu thơ của Tố Hữu:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu...

Chuyện cô du kích xóm Lai Vu
Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù:
“Mỹ hại trăm nhà, lo diệt trước
Rắn, mình em chịu, có sao đâu ”

Giặc thời nay chắc khác giặc ngày xưa. Và cũng không hiểu chuyện Mỵ Châu Trọng Thủy lại có liên quan gì đến cô du kích không sợ rắn xóm Lai Vu. Tiếc là ông TH đã mất. Nếu không, mình sẽ xin ông đổi lại là "Dịch hại trăm nhà, lo diệt trước. Thiệt, mình em chịu, có sao đâu". Nhưng đó lại là một câu chuyện không có thực, chưa bao giờ xảy ra !

Thôi lan man chút, chúc mọi người bình an may mắn. Cầu mong dịch bệnh sớm kiểm soát được, và tất cả bà con đồng bào có được miếng ăn, chỗ ngủ an toàn.

PN




Saturday, July 24, 2021

Tản mạn về dịch thuật kinh sách

 


Nói đến chuyện dịch thuật, mình nghĩ một trong những lãnh vực khó nhất là dịch kinh sách. Tôn giáo nào cũng thế, cho nên ngày xưa nhiều nhà truyền giáo phải ráng học cho rành rẽ tiếng địa phương. Thậm chí nhiều vị còn góp phần tạo ra hoặc hoàn chỉnh một số ngôn ngữ để dễ dàng diễn giải hơn. Trong tiếng Anh có cụm từ "Lost in Translation" mang tính hài hước để nói đến sự sai lệch ý nghĩa trong dịch thuật, dịch gà ra cuốc. Nhưng đó chỉ là nói đến chuyện thông dịch, thông ngôn hàng ngày. Dịch kinh sách còn khó hơn nhiều, vì để dịch được sát nghĩa, người dịch phải hiểu đúng ý nghĩa bao hàm của từ ngừ đó. Nếu không rất dễ gây ra ngộ nhận, và dẫn đến nhiều hệ lụy phiền phức. Đó là còn chưa nói đến nhiều người vô tình hoặc cố ý lợi dụng sự lệch lạc trong dịch thuật, dẫn dắt bản thân họ và người khác vào con đường mê tín, dị đoan.

Ví dụ như câu kinh 6 âm trong PG (The Six syllables) "Om Mani Padme Hum", rất ngắn gọn và sâu sắc, tán dương khả năng tự tỉnh thức và tự giác ngộ của tất cả chúng sinh như đóa sen vượt lên từ chốn bùn dơ. Câu kinh còn mang hàm ý sâu sắc hơn là không nên tìm kiếm "ông Phật" ở bên ngoài, mà là từ “Phật tánh” sẵn có bên trong. (Mỗi chữ Om, Mani, Padme, Hum đều mang hàm ý sâu sắc khác nhau. Có rất nhiều tài liệu về câu kinh này từ nhiều ngôn ngữ khác nhau kể cả tiếng Việt trên mạng, nếu ai muốn tìm hiểu).

Thế nhưng phiên âm (chứ không phải phiên dịch) tới lui một hồi, sao lại thành ra câu tiếng Việt "Án ma ni bát rị hồng". Rồi một số ông thầy bùa, thầy chú, thầy cúng, thầy làng, bắt ma bắt hồn, oan gia trái chủ ...lại đem ra xử dụng với đầy màu sắc mê tín !

Giờ trở lại câu chuyện chữ "Bát Nhã" trong kinh sách nhà Phật. Lâu nay ai ở VN cũng ít nhiều nghe qua chữ này, đặc biệt là những người có đọc qua kinh sách PG hoặc có đi chùa chiền. Thỉnh thoảng mình còn thấy mấy ông làm thơ, viết truyện, và cả mấy ông "nhậu sĩ", đem "Bát Nhã" lên thớt của họ hoặc cho vào quán nhậu để mổ xẻ nữa, nên chắc chữ này thì cũng không lạ lẫm gì với nhiều người VN.

Thực ra chữ Bát Nhã có nguồn gốc từ tiếng Phạn, đó là chữ Prajna, được kết hợp bởi 2 chữ Pra- và -jna. Để giải thích chi tiết của 2 từ này thì hơi dài và trừu tượng. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trên mạng nhé. Theo Wiki thì "Prajna" được nói đến như thế này (is used to refer to the highest and purest form of wisdom, intelligence and understanding. Prajna is the state of wisdom which is higher than the knowledge obtained by reasoning and inference). Nôm na là một trạng thái trí tuệ cao nhất bao gồm nhiều góc cạnh khác nhau, vượt qua các ngưỡng cửa của sự thông minh, hiểu biết, và kiến thức thông thường. Ví dụ như trí tuệ của một ông giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, na sa na séo, ha va ha viếc, chủ tịch, giám đốc, nhà phát minh ra đèn đom đóm, keo dính chuột..v.v.. đều là nhừng kiến thức chuyên môn, trí óc thông minh, kiến thức rộng rãi, nhưng đó không phải là trí tuệ "bát nhã". Bởi thế để dịch được chữ "Prajna" ra một ngôn ngữ khác cho đúng nghĩa thì quả là vô vàn khó khăn, mà có khi chẳng bao giờ diễn đạt cho trọn vẹn, thế nào cũng thiếu đầu thiếu đuôi. Thực tế là trong cuộc sống có những từ ngữ chỉ hiểu, “ngộ”, nhưng rất khó diễn đạt. Đặc biệt là trong các lãnh vực triết học, tôn giáo,  hoặc tâm linh. Cho nên các Ngài ngày xưa đã để nguyên chữ "Prajna" không dịch. Khi những tạng kinh này đến Trung quốc, cũng chỉ phiên âm ra tiếng địa phương na ná như “Pra-jna”, rồi qua đến Việt Nam thì trở thành “bát nhã" như ngày hôm nay.

Rồi cũng chính vì ý nghĩa bao la của chữ "bát nhã", mà lôi cuốn không biết bao nhiêu vị tu sĩ, triết gia, trí thức, nhân sĩ  ...vào cuộc, tìm tòi, mổ xẻ, phân tích ra nhiều tầng, nhiều lớp khác nhau. Cuối cùng có nhiều người bị lạc vô cái mê hồn trận chữ nghĩa đó, thành ra vô tình đi ngược lại với cái mục đích giải thoát mà họ đã tìm kiếm ban đầu. Tất nhiên cũng không hiếm những người hiểu biết và nhận ra được giá trị cốt lõi của cuộc sống và sự giác ngộ, nên lựa chọn con đường đi riêng cho họ. Bên cạnh đó, cũng có nhiều người tuy nhận thức được vấn đề, nhưng lại bị những hệ lụy chằng chịt trong cuộc sống, những rào cản trói buộc của đời thường, nghiệp cơm áo gạo tiền quá nặng, hoặc tham vọng thành tựu quá lớn, mà không thoát ra nỗi. Rồi cuộc sống ngắn ngủi chóng qua đi, tháng ngày cứ quanh quẩn với những trách nhiệm và “thành tựu”, đầy rẫy những vướng mắc. Vướng vào hình thức thay vì nội dung, vướng vào lý thuyết suông thay vì thực hành, vướng vào ảo tưởng thay vì thực chứng, ráng kiếm thêm cho nặng chứ không phải bỏ đi cho nhẹ, ráng hiểu biết để hơn thua chứ không phải để nhẫn nhịn …v.v. Ham muốn (desires) và gắn bó (attachments) ngày càng nhiều, đời này chưa hết đã muốn lôi kéo đời khác. Cho nên cuối cùng là thuyền "bát nhã" của họ cứ quay vòng vòng trong bờ, hết xăng bao nhiêu lần rồi, mà vẫn còn chưa định hướng đi đuợc, chứ đừng nói tới chuyện bến bờ bên kia. Tất nhiên trong đám phàm phu đó có bản thân mình :-).

Và dĩ nhiên là mình không muốn bàn luận xa hơn về ý nghĩa và nội dung của chữ "Bát Nhã" trong phạm vi ngắn ngủi của bài viết này, mà chỉ muốn nói đến vấn đề dịch thuật kinh sách. Vì nếu không cẩn thận, đôi lúc sẽ làm mất đi cái ý nghĩa thâm diệu của chữ nghĩa, mà thậm chí còn dẫn đến những hiểm lầm đáng tiếc !

Ví dụ như bản kinh "Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh" ở VN. Theo mình, khi dịch cái tựa của kinh "Prajna-paramita Hrdaya Sutra" (The Heart Sutra of Perfect Wisdom) ra thành "Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh", mà không giải thích rõ ràng, là đã vô tình làm mất đi một số ý nghĩa vô cùng quan trọng của bản kinh ! 

(Còn tại sao như thế ? Trước hết xin nói rõ, đây chỉ là ý nghĩ cá nhân của mình. Tất nhiên đây là một vấn đề rất quan trọng, mà đã có biết bao nhiêu vị cao tăng tu sĩ VN, đức độ trí huệ cao cả, từng nghiên cứu dịch thuật trong bao nhiêu năm qua, nên mình không hề có ý dám xúc phạm hoặc phê phán.)

Trước hết nói sơ qua về ý nghĩa của kinh Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh. Là một trong những kinh căn bản và phổ thông nhất trong đạo Phật, thường dùng để đọc tụng. Nguyên gốc từ tiếng Phạn là "Prajna-paramita Hrdaya Sutra", dịch sang tiếng Anh là "The Heart Sutra of Perfect Wisdom". Gọi cho đơn giản là Tâm kinh. Kinh này ngắn, có khoảng chừng 260 chữ (bản ngắn tiếng TQ), hiện nay được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Có nhiều giả thiết khác nhau về nguồn gốc và thời điểm ra đời của Tâm Kinh, không đồng nhất. Và toàn bộ bản gốc của bộ kinh lớn Đại Bát Nhã (Maha Prajna Paramita) cũng đã bị quân Hồi giáo tiêu hủy khi họ đánh chiếm Đại học PG Nalanda Ấn độ vào thế kỷ 12.

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Tâm kinh đọc tắt là Tâm kinh (The Heart Sutra), là tóm lược của bộ kinh Đại Bát Nhã Ba la Mật (Great Perfecton of Wisdom Sutra, tiếng Phạn gọi là Maha-prajna-paramita-sutra), gồm có 600 quyển. Tâm Kinh có nhiều bản dịch từ tiếng Phạn ra tiếng TQ. Trong đó bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập (402-412) và Ngài Huyền Trang (Tam Tạng) vào thế kỷ thứ 7 sau CN, là thông dụng nhất, được truyền qua VN và lưu hành cho đến ngày nay. Còn phiên bản tiếng Anh thì đến thế kỷ 19,  mới được Samuel Beal dịch ra. Ngày nay có rất nhiều sách vở tài liệu nói về Tâm Kinh của nhiều tác giả, nhiều tu sĩ khắp nơi trên thế giới . Tất nhiên là cũng không hiếm những tranh luận đối đáp gay gắt, bất đồng quan điểm, như bao vấn đề khác của tôn giáo và xã hội lâu nay. Có người đọc kinh sách để gom hết về một mối, rồi buông bỏ hết coi như không đọc chữ nào. Thì bên cạnh đó cũng có những người càng đọc, càng ôm, càng rối, càng lụy, sợi tóc chẻ làm năm làm bảy. Đọc để tranh luận hơn thua, đọc để trói chứ không phải để mở, đọc để chứng tỏ chứ không phải để thực hành, nên càng đọc càng nặng nề. Âu cũng là chuyện bình thường thôi. Như trong Tâm kinh có một câu rất nổi tiếng "Form is emptiness (śūnyatā), emptiness is form", mà nhiều nhà nghiên cứu, học giả phương Tây cũng thường nhắc đến. (Tạm dịch là: Sắc tức là không, không tức là sắc). Ai cũng nói được nhưng mấy ai thực chứng được điều này ?

Mở ngoặc chút, ngài Huyền Trang (Xuanzang), tức là ngài Đường Tăng Tam Tạng trong truyện hư cấu Tề thiên đại thánh của Ngô thừa Ân, đã tốn 3 năm đi bộ từ TQ qua Ấn độ để tìm học kinh Phật và thỉnh kinh đem về cho TQ. Rất nhiều người cũng đã từng đi như thế và bị chết trên đường vào thời kỳ đó. Tất nhiên là thực tế thì chẳng có Tề thiên, Trư bát giới .. nào đi theo cả, mà Ngài chỉ đi một mình. Sau khi đến nơi, ngài lưu lại Ấn độ 17 năm để học tiếng Phạn tiếng Ấn, rồi được vua Ấn độ mời làm "quốc sư" hiệu trưởng trường đại học Nalanda. Nhưng sau đó ngài xin hồi hương đem kinh sách về cho TQ. Về đến TQ, vua Đường cho lập khu dịch thuật rất lớn, tuyển dụng nhiều người phụ giúp Ngài. Với lực lượng hùng hậu như thế, mà phải tốn gần 5 năm sau, Ngài Huyền Trang mới dịch xong bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 cuốn. Thế mà kinh Bát Nhã Ba la mật Tâm kinh, nói gọn là (Heart Sutra) tóm lược được ý nghĩa của bộ Đại Bát Nhã đó, thì cũng tưởng tượng ra ý nghĩa súc tích của Tâm Kinh đến mức độ nào. Tuy nhiên cho dù là thâm thuý và uy lực đến đâu, thì cũng không phải chỉ cần ngồi đó đọc tụng mà giác ngộ được !

Giờ trở lại nói về chuyện phiên âm dịch thuật cái tựa "Prajna paramita Hridaya Sutra" ra tiếng VN, vô tình làm mất đi một số ý nghĩa quan trọng. Khi phiên âm chữ Prajna thành ra "Bát Nhã", paramita phiên âm thành ra "Ba la mật” hoặc “ba la mật đa", Hrdaya (dịch ra thành"Tâm"), Sutra (dịch ra thành “Kinh"). Thì người VN đọc câu "Bát Nhã Ba la Mật tâm kinh" không có ý nghĩa gì đặc biệt, mà chỉ đơn giản là một cái tựa đề của 1 bài kinh, như bao nhiêu kinh sách khác, kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Cú, kinh Hoa Nghiêm ...v.v..Thậm chí một số ít người nghe đến chữ ba-la-mật còn tưởng có liên quan gì đến mật tông mật pháp hoặc phương pháp bí mật nào đó. Điều này quả nhiên là không chính xác, và làm mất đi những ý nghĩa rất quan trọng của câu chữ "Prajna paramita Hridaya Sutra". Cũng tương tự như trường hợp đọc "Om mani padme hum" thành ra "Án ma ni bát rị hồng", không hiểu được hàm ý sâu sắc bên trong, mà chỉ mơ hồ hiểu được cái ý nghĩa “tâm linh” của nó !

1. Prajna (bát nhã) được ghép từ 2 chữ : Pra-jna ; Pra là Tối thượng và duy nhất, Jna là hiểu biết, là trí tuệ 

2. Paramita (sự hoàn hảo) được ghép lại từ Parama (the other shore, tức là bờ bên kia) , và Ita (that which has arrived tức là đến, sẽ đến, hoặc đã đến ...)

3. Hrdaya (là tâm, là chính yếu, trọng tâm, điểm chính), chứ không phải nghĩa đen của trái tim, nhịp đập trong cơ thể.

Có những vị cao tăng, thiện tri thức ngày xưa chỉ giảng giải câu "Prajna paramita Hrdaya Sutra" mà tốn tới hàng tháng, hàng năm mới nói hết ý nghĩa của nó. Trong khi đó chúng ta chỉ đọc lướt qua câu "Bát nhã ba-la-mật tâm kinh" như một cái tựa đề thì uổng phí quá.

Chỉ cần qua cái tựa đề, Tâm Kinh đã giải thích cho người ta thấy được cái ý nghĩa quan trọng tối thượng của trí huệ Bát Nhã trong việc tìm đến sự tỉnh thức & giác ngộ. Đó là phải tự mình học hiểu và thực chứng mới đi đến được bờ bên kia. Không nên chờ đợi ở bất cứ ai và cũng không ai có thể ban bố sự giác ngộ được cho mình. Những đạo lý vô thường, vô ngã, có, không, được, mất ....trong bản kinh là những diễn giải, chỉ ra cho con người hiểu thấu và thực hành để thực chứng, để đạt được trí huệ Bát Nhã, chứ không chỉ để đọc và cầu nguyện. Các vị Bồ Tát xưa nay cũng đã phải đi theo con đường đó mà tìm đến giác ngộ, chứ không hề có ngoại lệ hoặc phải nhờ đến thân thế, quen biết, hay lý lịch tốt :-).
Thực tế, thì cũng có rất nhiều người loay hoay nhầm nhẫn giữa các phương pháp tu tập, cũng như các loại trí tuệ và kiến thức thông thường trong cuộc sống với cái trí tuệ "bát nhã" được nhắc đến trong kinh sách. Nên xã hội vẫn thường xảy ra ngộ nhận về những giá trị có liên quan đến địa vị, bằng cấp, chức tước, giàu nghèo, sang hèn, hình thức (tu sĩ, trí thức..) ..v.v.. trong đời sống tâm linh, và trên con đường tìm kiếm những giải đáp cho bản thân của họ. Ví dụ: Một nhà khoa học sáng chế ra bom nguyên tử, ra vũ khí sinh học ...có thể rất thông minh, kiến thức chuyên môn tuyệt đỉnh, tuy nhiên đó không phải là loại trí tuệ Bát Nhã, mà có thể là một dạng u mê. Một nhà độc tài đi tới đâu người ta cũng vỗ tay, chào đón khóc lóc như điên dại, cũng có thể là một dang thông minh biết cách mị dân, trấn áp xã hội. Nhưng chắc chắn đó không phải là trí tuệ Bát Nhã mà trong Tâm kinh nói đến…(Cho nên cũng không nên mù quáng tin vào lý thuyết hoặc danh xưng của bất kỳ ai, cho dù họ có quyền lực, chức tước, hình thức, ông này bà nọ, hoặc chùa to chùa lớn, mà phải tự thực chứng đạo lý đó với chính bản thân. Đạo Phật không chủ trương “blind faith”, tức là tin một cách mù quáng, tin mà không hiểu. Đức Phật thời còn tại thế cũng đã dạy dỗ như vậy).

Bởi thế, mới có một Huệ Năng nhà nghèo, không biết chữ, chỉ cần một câu "Ưng vô sở trụ, sinh nhi kỳ tâm" mà trở nên tỉnh thức. Trong khi đó, một Thần Tú, tu sĩ, con nhà giòng dõi, kiến thức uyên bác, học sâu hiểu rộng, tên tuổi vang lừng, nhưng vẫn chưa đạt đến cái trí tuệ “bát nhã” của sự giác ngộ. Cho nên bài thơ rất hay của Ngài Thần Tú vẫn chưa "thấy” ra được cái "có" và cái "không" trong việc tu học. (Tất nhiên là còn nhiều yếu tố duyên nghiệp trong đây nữa. Câu chuyện này cũng nói đến khái niệm tiện ngộ và đốn ngộ trong PG).

Thân thị bồ đề thọ             
Tâm như minh cảnh đài     
Thời thời cần phất thức     
Vật sử nhạ trần ai.             

Tạm dịch:

Thân là cây bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn siêng lau chùi
Chớ để bụi trần bám.

Thôi, cuối tuần, tản mạn một chút về cái tựa đề của một bài kinh quen thuộc. Chỉ là ý kiến cá nhân, không có ý dám múa rìu qua mắt thợ. Tất nhiên thời này thông tin tin tức không thiếu, quý vị nào muốn kiểm chứng hoặc nghiên cứu sâu hơn đều có thể tìm đọc dễ dàng. Mình thì luôn quan niệm rằng, ai cũng có thể sai lầm, cho dù là người tài giỏi hoặc là tiền nhân đi trước. Mạnh dạn trao đổi trong khiêm tốn cũng là một đức hạnh của "kiến hoà đồng giải" vậy. Còn nếu cứ khư khư quan niệm "áo mặc không qua khỏi đầu", cái biết của mình là luôn luôn đúng, chủ nghĩa của mình là luôn luôn vô địch, thì có thể là đang đi ngược lại với đạo lý vô thường của vũ trụ. Và cũng coi chừng là đang đi ngược lại với cái đạo lý vô ngã, cái tánh không “emptiness" thâm diệu mà Bát Nhã Ba la Mật đa Tâm kinh (Prajna paramita Hrdaya Sutra) đang nói đến.

Chúc tất cả bình an mùa dịch bệnh !

PN 

p.s: Nếu quý vị nào nghe được tiếng Anh, mình trích dẫn đường link dưới đây của tu sĩ Guan Cheng bên Canada giảng về "Tâm Kinh". Vị này giảng tương đối đơn giản, dễ hiểu, dễ theo dõi đối với những người mới bắt đầu tìm tòi. Thực ra thời nay có rất nhiều chư vị tăng ni, cư sĩ trí thức nói về Tâm Kinh, hoặc thuyết giảng trên mạng. Quý vị nào rảnh rang muốn tìm hiểu, nên tìm kiếm những ai có cách diễn giải phù hợp với mình, thì sẽ dễ dàng theo dõi hơn .